Nguồn nước dưới đất thì khai thác một cách tràn lan hầu hết các hộ gia đình đều có giếng khoan hoặc giếng đào, việc khai thác quá mức này dẫn đến tình trạng mực nước ngày càng suy giảm v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Lân - Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Viện Đào tạo sau Đại học và các thầy giáo, cô giáo Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, cũng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2016 Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hương
Trang 3ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, kết quả của luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trên cơ sở tổng hợp, phân tích các tài liệu kết quả của đề tài được tôi và nhóm thực hiện đề tài thực hiện Các số liệu và kết quả của luận văn là hoàn toàn trung thực Những vấn đề trích dẫn và các số liệu tham khảo đều được sự đồng ý của tác giả, chủ nhiệm dự án và cơ quan chủ quản nghiên cứu xây dựng
dự án
Hà Nội, tháng năm 2016 Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hương
Trang 4iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỰC TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ 4
1.1 Vai trò của tài nguyên nước 4
1.2 Khái quát về tài nguyên nước ở Việt Nam 5
1.3 Các vấn đề nổi cộm về tài nguyên nước trên Thế Giới và Việt Nam 9
1.4 Tình hình sử dụng nước trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.5 Các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên nước 17
1.5.1 Giải pháp xây dựng thể chế và các văn bản quy phạm pháp luật 18
1.5.2 Công tác quy hoạch tài nguyên nước 19
1.5.3 Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên nước 19
1.5.4 Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên nước 20
1.5.5 Công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước 21
1.5.6 Những tồn tại hạn chế 23
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH BẮC GIANG 25
2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và xu hướng phát triển 25
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
2.1.1.1 Vị trí địa lý 25
2.1.1.2 Địa hình 26
2.1.1.3 Đặc điểm khí tượng, khí hậu 26
2.1.1.4 Các nguồn tài nguyên 28
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.1.2.1 Dân số và lao động 34
2.1.2.2 Kinh tế - xã hội 34
2.1.3 Tình hình phát triển của các ngành, lĩnh vực có liên quan đến khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước 35
2.2 Đặc điểm nguồn tài nguyên nước của tỉnh Bắc Giang 39
2.2.1 Đặc điểm nguồn nước mưa 39
2.2.2 Đặc điểm nguồn nước mặt 40
2.2.3 Đặc điểm tài nguyên nước dưới đất 46
2.2.3.1 Đặc điểm địa chất thủy văn 46
2.2.3.2 Tài nguyên nước dưới đất 55
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH BẮC GIANG 57
3.1 Thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước tỉnh Bắc Giang 57
3.1.1 Khai thác sử dụng cho sinh hoạt 57
Trang 5iv
3.1.2 Khai thác sử dụng nước cho sản xuất công nghiệp và kinh doanh, dịch vụ 59
3.1.3 Khai thác sử dụng nước cho nông nghiệp 60
3.1.4 Khai thác sử dụng nước cho nuôi trồng thủy sản 61
3.2 Dự báo nhu cầu sử dụng nước, khả năng đáp ứng và hiệu quả sử dụng nước của nguồn nước đến năm 2025 61
3.2.1 Cơ sở tính toán dự báo 61
3.2.2 Nhu cầu dùng nước và dự báo nhu cầu dùng nước cho các ngành đến năm 2025 65
3.2.3 Tổng nhu cầu dùng nước cho các ngành trên toàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2025 71
3.3 Khả năng đáp ứng của nguồn nước và hiệu quả sử dụng nước 73
3.3.1 Hiệu quả sử dụng nước 73
3.3.2 Mức độ đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển KT - XH 74
3.3.2.1 Mức độ đáp ứng Theo lượng nước có thể khai thác 74
3.3.2.2 Mức độ đáp ứng theo cơ sở hạ tầng 74
3.4 Hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước 76
3.5 Các vấn đề nổi cộm liên cần quan tâm liên quan đến khai thác, sử dụng và xả nước thải vào nguồn nước 77
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH BẮC GIANG 79
4.1 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên nước 79
4.1.1 Biện pháp bảo vệ nguồn nước mặt 79
4.1.2 Biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất 86
4.1.3 Các giải pháp kỹ thuật bảo vệ nguồn nước 87
4.2 Giải pháp tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước 87
4.3 Giải pháp tăng cường công tác thể chế, năng lực trong quản lý tài nguyên nước 89
4.4 Giải pháp đẩy mạnh công tác truyền thông 90
4.5 Giải pháp về huy động nguồn lực tài chính 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
CÁC PHỤ LỤC KÈM THEO 96
Trang 6v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhiệt độ không khí TB tháng tại các trạm khí tượng giai đoạn 2010 - 2014 27
Bảng 2.2: Độ ẩm không khí TB tại các trạm quan trắc trong tỉnh giai đoạn 2010 ÷ 2014 27 Bảng 2.3: Lượng mưa TB tại các trạm quan trắc trong tỉnh giai đoạn 2010 - 2014 28
Bảng 2.4: Giờ nắng TB tại các trạm quan trắc trong tỉnh giai đoạn 2010-2014 28
Bảng 2.5: Diện tích các nhóm đất chính tỉnh Bắc Giang 29
Bảng 2.6: Tổng hợp dân số trên toàn tỉnh Bắc Giang 35
Bảng 2.7: Hiện trạng sử dụng đất 36
Bảng 2.8: Số lượng gia súc, gia cầm phân theo huyện, thị năm 2014 37
Bảng 2.9: Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Bắc Giang 38
Bảng 2.10: Sản lượng thủy sản phân theo huyện/thành phố 38
Bảng 2.11: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành phân loại theo hình kinh tế 39 Bảng 2.12: Lượng mưa tháng và năm trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010 ÷ 2014 (mm) 40
Bảng 2.13: Danh mục các sông, suối chảy trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 41
Bảng 2.14: Lưu lượng trung bình nhiều năm theo tài liệu thực đo 43
Bảng 2.15: Lưu lượng lớn nhất trong các tháng mùa lũ 44
Bảng 2.16: Mực nước trung bình tháng, năm trong thời kỳ quan trắc 45
Bảng 2.17: Tổng hợp đánh giá chất lượng nước tầng chứa nước (qh) 47
Bảng 2.18: Tổng hợp đánh giá chất lượng nước tầng chứa nước (qp) 48
Bảng 2.19: Tổng hợp đánh giá chất lượng nước tầng chứa nước (t 3 ) 49
Bảng 2.20: Tổng hợp đánh giá chất lượng nước tầng chứa nước (t 3 ) 51
Bảng 2.21: Tổng hợp đánh giá chất lượng nước tầng chứa nước (t 2 ) 52
Bảng 2.22: Tổng hợp đánh giá chất lượng nước tầng chứa nước (є) 54
Bảng 3.1: Tổng hợp hiện trạng khai thác nước cho sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 57 Bảng 3.2: Tổng số lượng, lưu lượng công trình khai thác nước sinh hoạt nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 59
Bảng 3.3: Tổng hợp số công trình khai thác nước cho nông nghiệp do Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy lợi Bắc Giang quản lý 60
Bảng 3.4: Công trình khai thác nước cho nông nghiệp do địa phương khai thác quản lý 60
Bảng 3.5: Tổng hợp tiêu chuẩn sử dụng nước cho các mục đích 63
Bảng 3.6: Tổng hợp dự báo nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt tỉnh Bắc Giang phân theo đô thị và nông thôn 65
Bảng 3.7: Tổng hợp dự báo nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt tỉnh Bắc Giang 65
Bảng 3.8: Tổng hợp nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp đến năm 2025 66
Bảng 3.9: Tổng hợp nhu cầu sử dụng nước tưới cho sản xuất nông nghiệp 2015- 2025 67
Bảng 3.10: Nhu cầu sử dụng nước cho y tế tỉnh Bắc Giang đến năm 2015- 2025 68
Bảng 3.11: Tổng hợp nhu cầu sử dụng nước đến năm 2015 - 2025 69
Bảng 3.12: Nhu cầu dùng nước cho dịch vụ du lịch tỉnh Bắc Giang 70
Bảng 3.13: Nhu cầu dùng nước cho nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 71
Bảng 3.14: Dự báo Nhu cầu dùng nước cho các ngành toàn tỉnh Bắc Giang 72
Bảng 3.15: Lượng nước, nhu cầu nước và dự báo nhu cầu nước trên địa bàn tỉnh 74
Bảng 3.16: Hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước theo các loại hình và hành chính 76
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Vedan xả nước thải chưa qua xử lý ra thằng sông Thị Vải trong nhiều năm 11
Hình 1.2: Cuộc sống con người đang bị đe dọa bởi sự ô nhiễm nguồn nước 12
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí hành chính tỉnh Bắc Giang 25
Hình 2.2: Tỷ lệ % giá trị sản xuất các ngành năm 2014 tỉnh Bắc Giang 37
Hình 3.1: Nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt tỉnh Bắc Giang 66
Hình 3.2: Nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp tỉnh Bắc Giang 67
Hình 3.3: Nhu cầu sử dụng nước cho y tế tỉnh Bắc Giang 69
Hình 3.4: Nhu cầu sử dụng nước cho chăn nuôi tỉnh Bắc Giang đến năm 2025 70
Hình 3.5: Nhu cầu sử dụng nước cho dịch vụ - du lịch đến năm 2025 71
Hình 3.6: Tổng nhu cầu dùng nước trên toàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2025 72
Hình 3.7: Nhu cầu dùng nước các ngành tỉnh Bắc Giang 72
Hình 4.1: Sơ đồ bảo vệ nguồn nước mặt trên đoạn Sông Cầu 80
Hình 4.2: Sơ đồ bảo vệ nguồn nước mặt trên đoạn Sông Thương 81
Hình 4.3: Sơ đồ bảo vệ nguồn nước mặt đoạn Sông Lục Nam 82
Trang 8vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9viii
Trang 101
MỞ ĐẦU
Nước là thành phần thiết yếu của môi trường sống, là yếu tố không thể thiếu cho mọi hoạt động của con người Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tình trạng khai thác sử dụng nước một cách thiếu định hướng cũng như quy hoạch, dẫn đến nguồn nước ngày càng suy giảm về số lượng, sự tranh chấp nguồn nước xảy ra giữa các nhóm đối tượng khai thác sử dụng nước Trong khi đó các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước không được kiểm soát chặt chẽ, cũng như sự thiếu nhận thức về tác hại của việc xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra nguồn nước dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng tại một số khu vực Vấn đề đặt ra là phải có giải pháp nhằm khai thác sử dụng nguồn tài nguyên nước hiệu quả phục vụ phát triển bền vững và bảo vệ được nguồn tài nguyên nước
Tỉnh Bắc Giang hiện nay, nước phục vụ cho nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn tỉnh được khai thác từ cả nguồn nước mặt và nước dưới đất Trong đó khai thác sử dụng nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất tập trung tại các huyện, thành phố dọc theo sông Thương và sông Cầu, đặc biệt trong đó có nhà máy nước khai thác từ nguồn nước mặt sông Thương công suất khoảng 25.000 m3/ngày đêm cung cấp cho thành phố Bắc Giang và vùng lân cận Nước dưới đất được khai thác tràn lan tại hầu hết các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất bằng các giếng khoan hoặc giếng đào phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
Mức độ ô nhiễm nguồn nước mặt đang có xu hướng tăng và được thể hiện qua sự gia tăng các nồng độ chất ô nhiễm trong nước như chỉ tiêu độ đục, cặn lơ lửng, COD, BOD5 Đặc biệt là đoạn sông Thương qua thành phố Bắc Giang và vùng lân cận, chất lượng nước sông đã vượt quá giới hạn cho phép như chỉ tiêu BOD5, COD, Coliform gấp 2-4 lần so với TCVN, NH4, dầu mỡ gấp 1.5-7 lần QCVN08/2008 (Cột B1: dùng cho mục đích tưới) Một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước là do nước thải sinh hoạt, nước thải y tế của thành phố Bắc Giang và các khu dân cư dọc tuyến sông, nước thải sản xuất công nghiệp, chăn nuôi của các cơ sở kinh doanh xả trực tiếp hoặc chưa xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải trực tiếp ra sông, suối Vào mùa kiệt, một số đoạn sông đặc biệt là nhiều suối nhánh, nước cạn trơ sỏi đá
Trang 11Nguồn nước dưới đất thì khai thác một cách tràn lan hầu hết các hộ gia đình đều có giếng khoan hoặc giếng đào, việc khai thác quá mức này dẫn đến tình trạng mực nước ngày càng suy giảm về số lượng và chất lượng nước, trong khi đo việc khai thác nước dưới đất nhỏ lẻ hộ gia đình chủ yếu khai thác trong tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh) và pleistocen (qp) chiều sâu khai thác dao động từ 10m -70m, do đó các tầng chứa nước này rất dễ bị nhiễm bẩn từ nguồn bẩn trên mặt ngấm xuống, gây ô nhiễm phá hỏng tầng chứa nước và sức khỏe của cộng đồng dân cư nông thôn nghèo không được tiếp cận nguồn nước sạch
Vì vậy, việc nghiên cứu “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản
lý nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên nước tỉnh Bắc Giang” là rất cần thiết Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu đề xuất giải pháp
khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả bền vững tài nguyên nước đảm bảo công bằng giữa thượng lưu, hạ lưu và các nhóm đối tượng sử dụng nước, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Phương pháp nghiên cứu chính của luận văn sau:
- Phương pháp tổng hợp, hồi cứu và phân tích tài liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa;
- Phương pháp phân tích thống kê;
- Phương pháp tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước
và các nhà quản lý
Nội dung chính của đề tài được trình bày trong Luận văn bao gồm:
- Chương 1: Tổng quan thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước và các giải pháp quản lý
Trang 134
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỰC TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI
NGUYÊN NƯỚC VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ 1.1 Vai trò của tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống của con người, sự phát triển bền vững của mọi quốc gia và là ưu tiên hàng đầu để phát triển bền vững, Phát triển bền vững không phải là một khái niệm mới, mà thực ra đã được sử dụng trong quản lý các tài nguyên có khả năng tái tạo Con người hoàn toàn có khả năng làm cho phát triển được bền vững, đảm bảo tài nguyên đáp ứng được những nhu cầu hiện tại của mình mà không gây phương hại đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đồng thời giảm thiểu tổn hại tới hệ thống kinh tế - xã hội và môi trường Nước là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong việc duy trì sự sống và mọi hoạt động của con người trên hành tinh Việc đáp ứng nhu cầu về nước đảm bảo cả về chất lượng và số lượng là một điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững
Kể từ đầu thế kỷ 20, lượng nước tiêu thụ toàn cầu tăng 7 lần, chủ yếu do
sự gia tăng dân số và nhu cầu về nước của từng cá nhân Cùng với sự gia tăng dân số và khát vọng cải thiện cuộc sống của mỗi quốc gia và của từng cá nhân thì nhu cầu về nước ngày càng gia tăng là điều tất yếu Vì vậy, trên thực tế việc đảm bảo cấp nước đáp ứng về chất lượng cho toàn bộ dân số toàn cầu và bảo tồn các hệ sinh thái vẫn còn là một mục tiêu xa vời Do sự biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa, hiện nay nhiều nơi đã thường xuyên không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu Vì thế, trong thế kỷ 21, thiếu nước sẽ là một vấn đề nghiêm trọng nhất trong các vấn đề về nước, đe doạ quá trình phát triển bền vững
Theo đánh giá của nhiều cơ quan nghiên cứu về tài nguyên nước, hiện tại
có khoảng 1/3 số quốc gia trên thế giới bị thiếu nước và đến 2025 con số này
sẽ là 2/3 với khoảng 35% dân số thế giới sẽ rơi vào tình cảnh thiếu nước nghiêm trọng [28] Ở một số quốc gia, lượng nước cho mỗi đầu người đang bị giảm đáng kể Hội nghị về nước của Liên hợp quốc vào năm 1997 đã thống nhất “Tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, địa vị kinh tế, xã hội đều có quyền tiếp cận nước uống với số lượng và chất lượng đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản của mình”, theo đó, tiếp cận với nước uống là quyền cơ bản của
Trang 145
con người Tuy nhiên, cho đến nay, số người thiếu nước uống sạch an toàn vẫn đang không ngừng gia tăng Vì vậy, mối lo về nước không phải của riêng một quốc gia nào
Nước đang trở thành tâm điểm tại nhiều diễn đàn lớn thế giới Tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường tại Johannesburg, Nam Phi, nước được xếp
ở vị trí cao nhất trong số 5 ưu tiên để phát triển bền vững (WEHAB), đó là: Nước-W; Năng lượng-E; Sức khoẻ-H; Nông nghiệp-A; và Đa dạng sinh học-
B
Việt Nam luôn khẳng định “nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước” và vì vậy, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực tăng cường và kiện toàn, thể chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước, đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia có chung nguồn nước với Việt Nam cũng như hợp tác và tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới và khu vực để quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên nước nhằm góp phần vào tiến trình phát triển bền vững của đất nước cũng như của thế giới và khu
vực
1.2 Khái quát về tài nguyên nước ở Việt Nam
Việt Nam có 3450 sông, suối với chiều dài từ 10km trở lên Các sông suối này nằm trong 108 lưu vực sông được phân bố và trải dài trên cả nước Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên nước khá phong phú cả về lượng mưa, nguồn nước mặt trong các hệ thống sông, hồ và nguồn nước dưới đất
Về lượng mưa: lượng mưa trung bình năm của Việt Nam vào khoảng 1940-1960mm (tương đương tổng lượng nước khoảng 640 tỷ m3/năm), thuộc
số quốc gia có lượng nước mưa vào loại lớn trên thế giới Tuy nhiên, lượng mưa của Việt Nam phân bố rất không đều theo không gian và thời gian Lượng mưa tập trung chủ yếu trong 4-5 tháng mùa mưa (chiếm 75-85% tổng lượng mưa năm), lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 15-25% Khu vực có lượng mưa lớn là các khu vực phía Đông Trường Sơn thuộc vùng Bắc Trung
Bộ, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên và khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ [28]
Trang 15Để đáp ứng các yêu cầu trữ lượng, điều tiết dòng chảy phục vụ cấp nước trong mùa khô và phòng, chống và giảm lũ, lụt trong mùa mưa, Việt Nam đã, đang và tiếp tục phát triển hệ thống các hồ chứa nước Theo kết quả thống kê,
rà soát sơ bộ, cả nước có trên 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng với tổng dung tích trên 65 tỷ
m3 Trong đó, khoảng 2.100 hồ đang vận hành, tổng dung tích hơn 34 tỷ
m3 khoảng 240 hồ đang xây dựng, tổng dung tích hơn 28 tỷ m3, trên 510 hồ
đã có quy hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3 Trong số các hồ nêu trên, có khoảng 800 hồ thủy điện, tổng dung tích trên 56 tỷ m3, gồm 59 hồ đang vận hành, 231 hồ đang xây dựng và hơn 500 hồ đã có quy hoạch xây dựng và hơn 2.100 hồ chứa thủy lợi, tổng dung tích hơn 9 tỷ m3, phần lớn là hồ chứa nhỏ,
đã xây dựng xong, đang vận hành Các lưu vực sông có số lượng hồ chứa và tổng dung tích các hồ chứa lớn gồm: sông Hồng, gẩn 30 tỷ m3; sông Đồng Nai, trên 10 tỷ m3, sông Sê San, gần 3,5 tỷ m3; sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Vũ Gia – Thu Bồn và sông Srêpok có tổng dung tích hồ chứa từ gần 2 tỷ m3 đến 3 tỷ m3 Có 19 tỉnh có tổng dung tích hồ chứa từ trên 1 tỷ
m3 trở lên [28]
Về nước dưới đất: Tiềm năng nguồn nước dưới đất của Việt Nam là tương đối lớn, ước tính khoảng 63 tỷ m3/năm, tập trung chủ yếu ở các khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên
Tuy nhiên tài nguyên nước dễ bị tổn thương bởi các tác động bên ngoài gây ra hiện tượng suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt dẫn đến mất an ninh nguồn nước, đảo lộn đời sống của người dân và các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội gắn với phát triển bền vững
- Hoạt động khai thác, sử dụng nước quá mức vượt quá ngưỡng khai thác của nguồn nước dẫn đến cạn kiệt nguồn nước dưới đất Ở khu vực Tây
Trang 167
Nguyên việc người dân trồng cây cà phê, tiêu không theo quy hoạch, trồng một cách tràn lan dẫn đến nhu cầu sử dụng nước cho cây trồng tăng cao vào mùa khô, bên cạnh đó do hiện tượng biến đổi khí hậu bất thường dẫn đến thiếu nước trầm trọng vào mùa khô, người dân đã khoan, đào rất nhiều giếng
để phục vụ cho tưới Dẫn đến mực nước ngầm ngày càng suy giảm và cạn kiệt nguồn nước ngầm, một số vùng Tây nguyên còn không đủ nước để phục vụ sinh hoạt
- Khai thác, sử dụng nước dưới đất quá mức cũng dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước dưới đất, gây ra hiện tượng sụt lún nền đất như ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh
- Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt do quá trình sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, trong sinh hoạt của người dân đang diễn ra khá trầm trọng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân, đồng thời làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, nhất là bệnh ung thư Quá trình công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, sự gia tăng dân số
đã gây áp lực ngày càng lớn đối với tài nguyên nước ở Việt Nam, dẫn đến môi trường nước mặt ở nhiều đô thị, khu công nghiệp, các làng nghề ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải và chất thải rắn Tại các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước mặt do xả thẳng ra nguồn tiếp nhận Trong ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy, công nghiệp mía đường và công nghiệp chế biến thực phẩm nước thải thường có độ pH trung bình cao; chỉ số nhu cầu ô-xy sinh hóa (BOD) ở mức 700mg/l, vượt ngưỡng cho phép đến 14 lần; nhu cầu ô-xy hóa học (COD) có thể lên đến 2.500mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép hơn 16 lần (theo QCVN 40:2011/BTNMT) Hàm lượng nước thải của một số doanh nghiệp có chứa Cyanua (CN-) vượt đến 80 lần tiêu chuẩn cho phép, nhiều chỉ số môi trường khác trong nước cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Tình trạng ô nhiễm nước mặt ở các đô thị, được thể hiện rõ nhất ở hai thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đang ở mức báo động rất cao Tại hai thành phố này, nước thải sinh hoạt trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, nhiều bệnh viện và cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng lớn
Trang 178
chất thải rắn trong thành phố không được thu gom triệt để Tình trạng ô nhiễm nước mặt ở nông thôn, khu vực sản xuất nông nghiệp không ngừng gia tăng 76% số dân đang sinh sống ở nông thôn, là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc rửa trôi làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao, nhất là việc lạm dụng các chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm và ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và sức khỏe
- Tại một số địa phương, khi quan sát các trường hợp ung thư, viêm nhiễm phụ khoa chiếm từ 40 đến 50% là do từng sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm Theo đánh giá của các Bộ Y tế và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng chín nghìn người chết vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém; hằng năm có khoảng hơn 100 nghìn trường hợp mắc ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính là do sử dụng nguồn nước ô nhiễm Tác hại của ô nhiễm nguồn nước mặt đối với sức khỏe con người, chủ yếu do môi trường nước bị ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh, ô nhiễm các hợp chất hữu cơ, các hóa chất độc hại và ô nhiễm kim loại nặng Ảnh hưởng của ô nhiễm nước mặt đối với sức khỏe cộng đồng chủ yếu thông qua hai con đường, do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại rau quả, thủy hải sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm và tiếp xúc với môi trường nước bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt
và lao động do con người gây ra
- Không thể phủ nhận vai trò của thủy điện đối với việc phát triển kinh tế
xã hội của nước ta trong những năm gần đây Tuy nhiên, việc xây dựng thủy điện ảnh hưởng rất lớn đến môi trường cũng như tài nguyên nước Việc quy hoạch các thủy điện nhỏ một cách tràn lan dẫn đến việc chặt phá rừng đầu nguồn dẫn đến gia tăng lũ lụt, lũ quét và nguồn sinh thủy rất lớn của nguồn nước Việc thủy điện tích nước để phát điện cũng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân ở hạ lưu các lưu vực sông do thiếu nước vào mùa khô để sản xuất, hoặc hiện tương xâm nhập mặn khi thủy điện xả nước không đủ để đẩy mặn, ví dụ như ở lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn việc tranh chấp nguồn nước đảng xảy ra giữa UBND tỉnh Quang Nam, thành phố Đà Nẵng với các
Trang 189
công trình thủy điện trên lưu vực
- Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ta hiện nay đã ngày càng rõ rệt, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long, vào mùa khô các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long liên tục thiếu nước sinh hoạt, cũng như nước cho sản xuất do hiện tượng triều cường dẫn đến xâm nhập mặn rất sâu vào trong nội địa, gây khó khăn cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Cũng phải kể đến việc một loạt các công trình thủy điện nằm ở phía thượng nguồn sông Mê Công đã xây dựng làm cho lượng nước từ phía ngoài nước về đồng bằng sông Cửu Long ngày càng giảm, gây ra hiện tượng xâm nhập mặn càng vào sâu đất liền
1.3 Các vấn đề nổi cộm về tài nguyên nước trên Thế giới và Việt Nam
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua
xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển
Đây là thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ
Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy
Điển ngày 5/9 [28]
Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước [28]
Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam
có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh
Báo cáo của UNICEF cho biết, tình trạng mất vệ sinh do thiếu nước sinh hoạt đã gây ra cái chết của 1,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm Lý do gây ra việc này là nguồn cung cấp nước không thể theo kịp tình trạng bùng
nổ dân số
Trang 1910
Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong vì nước bẩn và vệ sinh kém Đây là con
số được Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF công bố
Giám đốc Điều hành UNICEF, bà Ann M Veneman cho biết: “Trên thế giới, cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nước không sạch gây ra và nước không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng Một trẻ em lớn lên trong những điều kiện như thế sẽ có ít cơ hội để thoát khỏi cảnh đói nghèo”
Ước tính có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch
và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh Con số này còn cao hơn ở vùng các dân tộc ít người và vùng sâu vùng xa
Hiện có tới 10% trẻ em ở thành phố không có nhà tiêu Con số này ở nông thôn là 40% Thiếu nước sạch và vệ sinh ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ em ở Việt Nam (44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ
em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) [28]
Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lượng nước ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ
em Tình trạng ô nhiếm a-sen (thạch tín) và flo (fluoride) trong nước ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu người dân trong khu vực
Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nước bẩn gây ra đã ảnh hưởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em Hàng ngày có rất nhiều em ở các nước đang phát triển không được đến trường vì bị các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trường đi học nếu không có công trình nước và vệ sinh riêng biệt cho các em
Tại diễn đàn của Trẻ em thế giới về nước tổ chức tại Mehico ngày 21/3, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nước sạch Theo đó, trẻ em là người phải trả giá cao nhất khi không được sử dụng nước sạch Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dưới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất (căn bệnh này gây tử vong cho 4500 trẻ em mỗi ngày
Thực trạng ô nhiễm nước mặt: Hiện nay chất lượng nước ở vùng
Trang 2011
thượng lưu các con sông chính còn khá tốt Tuy nhiên ở các vùng hạ lưu
đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lượng nước đổ về các con sông giảm Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như : BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần
Ô nhiễm nước mặt khu đô thị: Các con sông chính ở Việt Nam đều
đã bị ô nhiễm Ví dụ như sông Thị Vải, là con sông ô nhiễm nặng nhất trong
hệ thống sông Đồng Nai, có một đoạn sông chết dài trên 10km Giá trị
đo thường xuyên dưới 0.5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan (0.04 mg/l) Với giá trị gần bằng 0 như vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống
Hình 1.1: Vedan xả nước thải chưa qua xử lý ra thằng sông Thị Vải trong nhiều năm
Thực trạng ô nhiễm nước dưới đất: Hiện nay nguồn nước dưới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề như bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp Hiện tượng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng sông Cửu Long Khai thác nước quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển Nước dưới đất bị ô nhiễm do việc chôn lấp gia cầm bị dịch bệnh không đúng quy cách
Thực trạng ô nhiễm nước biển: Nước biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi chất rắn lơ lửng (đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng), nitrat, nitrit,
Trang 2112
colifom ( chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long), dầu và kim loại kẽm… Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP HCM, nơi có dân cư đông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000
m3 nhưng chỉ có 10% được xử lý) đều không được xử lý, mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại vùng Châu Thổ sông Hồng và sông Mê Công Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất như các lò mổ và ngay bệnh viện (khoảng 7.000m3 mỗi ngày, chỉ 30% là được xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải
Hình 1.2: Cuộc sống con người đang bị đe dọa bởi sự ô nhiễm nguồn nước
Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lưu ý là
hệ thống hồ trong công viên Yên Sở Đây được coi là thùng chứa nước thải của Hà Nội với hơn 50% lượng nước thải của thành phố Người dân trong khu vực này không có đủ nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu Điều kiện sống của họ cũng bị đe dọa nghiêm trọng vì nhiều khu vực trong công viên là nơi nuôi dưỡng mầm mống của dịch bệnh Mặc dù mở cửa từ năm
2002 nhưng công viên Yên Sở không được sử dụng hiệu quả do sự ô nhiễm
và mùi xú uế bốc lên từ hồ Vì vậy, quá trình phát triển vẫn dậm chân tại chỗ Nhiều sông hồ ở phía Nam thành phố như Tô Lịch và Kim Ngưu cũng đang nằm trong tình trạng ô nhiễm như vậy
Trang 22Sự phát triển mạnh mẽ các đô thị ở nước ta dẫn tới việc khai thác sử dụng nước ngày một tăng Theo thống kê sơ bộ lượng nước khai thác sử dụng cho các đô thị hàng năm từ vài trăm đến hàng triệu m3/năm, trong đó khoảng 50% nguồn nước cung cấp cho các đô thị là được khai thác từ nước dưới đất Các Thành phố Lạng Sơn, Tuyên Quang ở khu vực miền núi phía Bắc, 100% lượng nước cung cấp cho ăn uống sinh hoạt, sản xuất và các nhu cầu khác là nước dưới đất 50% lượng nước cung cấp cho Thành phố Thái Nguyên hiện nay là nước dưới đất Nước dưới đất được khai thác từ tầng chứa nước trong đá vôi karst hóa và từ tầng chứa nước cát cuội sỏi của trầm tích thung lũng sông
Ở Vùng đồng bằng Bắc Bộ, hiện nay có Thành phố Hà Nội, Bắc Ninh,
Hà Đông, Sơn Tây, Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên 100% lượng nước khai thác
sử dụng là từ nước dưới đất Thị xã Hưng Yên hơn 50% lượng nước khai thác
sử dụng cũng là từ nước dưới đất Tổng lượng nước khai thác sử dụng cho các thành phố thị xã nêu trên khoảng 1.000.000 m3/ngày
Thành phố Hà Nội từ trước đến nay được cấp nước từ nguồn nước dưới đất Trong giới hạn địa giới hành chính của Hà Nội có 2 tầng chứa nước : tầng chứa nước Holocen phân bố ở độ sâu 25 – 35m; tầng chứa nước Pleistocen phân bố ở độ sâu 35 - 60, 45 – 80m Khai thác nước tập trung do Công ty kinh doanh nước sạch thành phố quản lý Công trình khai thác đầu tiên ở Hà Nội là nhà máy nước Yên Phụ được người Pháp xây dựng năm 1894 với lượng nước khai thác ban đầu khoảng 10.000 m3/ngày Cho đến thời điểm cuốn sách ra mắt bạn đọc, tổng lượng nước khai thác nước từ các nhà máy nước tập trung
và các giếng khoan khai thác đơn lẻ của các cơ quan, xí nghiệp ở phía nam sông Hồng thuộc thành phố Hà Nội đã thống kê được khoảng 850.000 m3
Trang 2314
nước trong một ngày đêm
Tại khu vực ven biển miền Trung, hiện tại 100% lượng nước cung cấp cho các đô thị như Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hoà, Bình Định và Phú Yên
là nước dưới đất từ tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ và các cồn cát ven biển
Tại khu vực miền Đông Nam Bộ, nước dưới đất cũng là nguồn cung cấp quan trọng cho các thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương Tỷ lệ nước dưới đất được khai thác, sử dụng cho cấp nước đô thị ở vùng này chiếm tới hơn 50% Ở đây nước dưới đất được khai thác từ tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ và Neogen
Tại TP Hồ Chí Minh, nước dưới đất được khai thác từ tầng chứa nước Pleistocen, Pliocen và một phần từ tầng chứa nước Miocen Lưu lượng khai thác tăng mạnh trong những năm gần đây Theo thống kê sơ bộ tính tới cuối năm 2007, Tổng lượng nước cấp cho thành phố vào khoảng 1.528.000
m3/ngày, trong đó nước dưới đất chiếm 50% tổng lượng nước khai thác, riêng nhà máy nước dưới đất Hóc Môn lưu lượng khai thác hiện tại khoảng gần 70 nghìn m3/ngày
Khu vực đồng bằng sông Cửu Long do nguồn nước mặt thường có chất lượng kém, dễ bị ô nhiễm, đặc biệt là vùng ven biển thường bị mặn vì vậy ở đây nước dưới đất là nguồn cung cấp rất quan trọng Hiện tại các thành phố, thị xã 100% lượng nước khai thác sử dụng là từ nước dưới đất gồm Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Ở các thành phố, thị xã khác để cấp nước sử dụng có cả nguồn nước mặt và nước dưới đất trong đó lượng nước dưới đất chiếm từ vài chục % tới hơn 50%
Việc khai thác nước dưới đất để cung cấp cho các thành phố, thị xã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân trong các đô thị Tuy nhiên trong quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị và khai thác nước dưới đất không có quy hoạch đã gây nhiều tác động xấu đến môi trường địa chất
1.4 Tình hình sử dụng nước trên Thế giới và ở Việt Nam
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tái
Trang 2415
tạo của môi trường Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác nguồn tài nguyên này gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn Lúc đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm được nơi ở mới tốt đẹp hơn Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và càng ngày càng phát triển như vũ bão Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay Ðô thị trở thành những nơi tập trung dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước càng ngày càng trở nên nan giải
Theo sự ước tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp
và 10% cho sinh hoạt Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia Thí dụ: Ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991) Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% cho công nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991)
Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất , chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp Theo đà phát triển của nền công nghiệp hiện nay trên thế giới có thể dự đoán đến năm 2000 nhu
Trang 2516
cầu nước sử dụng cho công nghiệp tăng 1.900 km3/năm có nghĩa là tăng hơn
60 lần so với năm 1900 Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếm khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất gây ô nhiễm [28]
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao Theo M.I.Lvovits (1974), trong tương lai
do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn thế giới có thể giảm đi khoảng 700 km3/năm Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần đến 10.000 tấn nước Sở dĩ cần số lượng lớn nước như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi nước của lớp nước mặt trên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần nhỏ tích tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp Dự báo nhu cầu về nước trong nông nghiệp đến năm 2000 sẽ lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58% tổng nhu cầu về nước trên toàn thế giới [28]
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày Ngày nay, do
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn Theo sự ước tính đó thì đến năm 2000, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới [28]
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơi lội nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã
Trang 2617
hội
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải Trung bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng
Sự phân bố không đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời gian là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến mùa màng và tài sản ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, ngoài ra còn gây nhiều trở ngại cho việc trị thủy, khai thác dòng sông
Theo sự ước tính thì lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ khoảng 640 km3, tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313
km3 Nếu tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua hai con sông lớn là sông Cửu long (550 km3) và sông Hồng ( 50 km3) thì tổng lượng nước mưa nhận được hằng năm khoảng 1.240 km3 và lượng nước mà các con sông đổ ra biển hằng năm khoảng 900 km3 Như vậy so với nhiều nước, Việt nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào lượng nước bình quân cho mỗi đầu người đạt tới 17.000 m3/ người/ năm Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500 m3/người/năm nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông và phần lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp [28]
1.5 Các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên nước
Việc khai thác tài nguyên nước trên các lưu vực sông, hồ thông qua các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đã và đang làm thay đổi về môi trường, các
hệ sinh thái, phá vỡ các quy luật của thủy văn và tài nguyên nước
Ở Việt Nam, tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển bền vững đã có sự chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động Theo đó đã đặt ra yêu cầu phải quản lý bền vững và hiệu quả hơn các hoạt động khai thác,
sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống, khắc phục hậu quả do nước gây ra; quản lý tài nguyên nước phải theo phương thức tổng hợp, sử dụng đa mục tiêu và phải gắn với các tài nguyên thiên nhiên khác - một phương thức quản lý tài nguyên nước đã được áp dụng thành công ở một số
Trang 2718
nước trên thế giới và ngày càng chứng tỏ là một phương thức quản lý hiệu quả đang được nhiều quốc gia nghiên cứu áp dụng
1.5.1 Giải pháp xây dựng thể chế và các văn bản quy phạm pháp luật
Năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015, lĩnh vực tài nguyên nước đã được ban hành 5 văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật triển khai Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13, gồm: 02 Nghị định: Nghị định số 43/2015/NĐ- CP về lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước và Nghị định số 54/2015/NĐ- CP quy định về ưu đãi đối với các hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả Bộ ban hành 03 Thông tư: Thông
tư quy định về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước; Thông tư quy định việc hành nghề khoa nước dưới đất; Thông tư quy định điều kiện năng lực của đơn vị thực hiện điều tra cơ bản về tài nguyên nước, đơn vị tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước
Ở địa phương, các Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn quản lý tài nguyên nước ở đi ̣a phương Một số văn bản đã ban hành như: Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 26/5/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc tăng cường quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc ban hành quy chế quản lý sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Điện Biên;
Các Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động ban hành các văn bản thực thi pháp luật về tài nguyên nước, điển hình như Văn bản số 230/TB-STNMT ngày 06/3/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam thông báo về việc triển khai thực hiện Thông tư số 56/2014/TT-BTNMT ngày 24/9/2014 và Thông tư số 40/2014/TT-BTNMT ngày 11/7/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên nước đối với sự phát triển kinh tế xã hội, một số địa phương đã xây dựng kế hoạch hành động nâng cao hiệu lực quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước giai đoạn 2014 - 2020 theo Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ như: tỉnh Nghệ An, Yên Bái,
Trang 2819
Tiền Giang
1.5.2 Công tác quy hoạch tài nguyên nước
Từ năm 2011 đến nay, cơ bản hoàn thành dự án “Quy hoạch Quản lý sử dụng tài nguyên nước và bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2015 và định hướng đến 2020” Dự án đã nhận định các vấn đề đặt
ra về môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 về môi trường đô thị, môi trường công nghiệp, môi trường nông thôn, môi trường các làng nghề Dự án đã nghiên cứu xác định các nhiệm vụ của quy hoạch BVMT lưu vực sông Nhuệ- Đáy gồm: Các nhóm nhiệm vụ và giải pháp quy hoạch BVMT, đề xuất danh mục các đề tài dự án, nhiệm vụ thực hiện quy hoạch BVMT LVS Nhuệ- Đáy, Đề xuất các giải pháp (thể chế, thanh tra kiểm tra và kiểm soát môi trường, quan trắc chất lượng nước lưu vực, tham gia cộng đồng trong kiểm soát ô nhiễm, xây dựng cơ sở
dữ liệu về chất lượng nước ), Tổ chức thực hiện quy hoạch
Hoàn thành việc lập nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bằng Giang-Kỳ Cùng, Srepok và vùng sông Hậu; Với nội dung Phân tích đánh giá hiện trạng và xác định các vấn đề liên quan đến khai thác, sử dụng, phân bổ, điều hòa và phát triển tài nguyên nước mặt, Phân tích, dự báo xu thế biến động của tài nguyên nước, nhu cầu khai thác sử dụng nước mặt, xác định được các vấn đề khai thác, sử dụng, phân bổ điều hòa phát triển nước mặt trong kỳ quy hoạch và thứ tự ưu tiên giải quyết Xây dựng các phương án quy hoạch, lấy ý kiến và lựa chọn phương án quy hoạch phân bổ tài nguyên nước mặt Giải pháp, kế hoạch và tiến độ thực hiện quy hoạch Lập hồ sơ đồ án quy hoạch và lấy ý kiến Hoàn chỉnh hồ sơ đồ án quy hoạch; dự thảo tờ trình, quyết định và chuẩn bị hồ sơ để trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt
Hoàn thành lập đề cương đề án Chính phủ “Quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông liên tỉnh” (gồm 11 lưu vực sông lớn) Ở địa phương, công tác quy hoạch tài nguyên nước đã từng bước được triển khai và đáp ứng được yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước Tính đến nay
đã có 30 địa phương ban hành quy hoạch tài nguyên nước cấp tỉnh
1.5.3 Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức
Trang 2920
cộng đồng về tài nguyên nước
Việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên nước được thực hiện thường xuyên với các phương tiê ̣n thông tin
đa ̣i chúng, các trang thông tin điê ̣n tử, thông qua các hình thức xây dựng các phim, ảnh, băng đĩa các chương trình hỏi đáp, đối thoại, to ̣a đàm, phỏng vấn, phóng sự, tổ chức hội thảo tập huấn cho cơ quan, doanh nghiệp, người dân, xuất bản Bản tin tài nguyên nước… để giải đáp pháp luâ ̣t, trao đổi về những vấn đề quan trọng, cấp bách cần giải quyết trong quản lý tài nguyên nước, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về tài nguyên nước
Việc tổ chức lễ mít tinh quốc gia và chuỗi các sự kiện bên lề hưởng ứng Ngày nước thế giới 22 tháng 3 hàng năm, năm 2014 và năm 2015 lần lượt tại các tỉnh Lai Châu và thành phố Bắc Giang Các hoạt động đã thu hút được sự quan tâm và tham gia tích cực của toàn xã hội, có ý nghĩa và sức lan tỏa cao, góp phần làm thay đổi nhận thức, hành vi, thói quen và cách ứng xử với tài nguyên nước ở hiện tại và tương lai
Năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015 đã có 25 địa phương tổ chức các cuộc tập huấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật về tài nguyên nước cho đối tượng là cán bộ ở cấp xã, huyện, cộng đồng, doanh nghiệp trên địa bàn
1.5.4 Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên nước
Công tác thanh tra, kiểm tra được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý tài nguyên nước Hàng năm, cấp Trung ương và địa phương đều xây dựng kế hoạch và tiến hành kiểm tra định kỳ tình hình triển khai, thi hành pháp luật về tài nguyên nước, việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước tại một số cơ sở khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức 4 đợt kiểm tra, thanh tra các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước của các tổ chức, cá nhân, cụ thể như sau:
- Thanh tra các tổ chức, cá nhân có hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất tại các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định
- Kiểm tra việc thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa trong mùa lũ hàng năm và việc thực hiện vận hành điều tiết nước trong mùa cạn tại khu vực
Trang 30Các địa phương cũng tích cực triển khai thanh tra, kiểm tra tổng số hơn
800 tổ chức, cá nhân, cơ sở sản xuất
Qua công tác thanh tra đã phát hiện nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước, tập trung chủ yếu ở các hành vi sau:
- Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ việc quan trắc, giám sát nguồn nước (mực nước, lưu lượng, chất lượng nước) trong quá trình khai thác, sử dụng theo quy định của nội dung giấy phép và theo quy định tại Điều
16 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Chưa thực hiện việc báo cáo định kỳ tình hình khai thác, sử dụng nước dưới đất theo quy định của nội dung giấy phép và quy định tại Điều 17 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Chưa thực hiện kê khai nộp thuế tài nguyên nước theo quy định
- Không thực hiện các biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất trong quá trình khai thác, sử dụng nước tại các giếng khai thác theo quy định tại Điều 15 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước các cấp và ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp; phát hiện và ngăn chă ̣n các hành vi vi pha ̣m pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước, bước đầu nâng cao nhận thức của xã hội về bảo vệ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước
1.5.5 Công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước
- Công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước được đẩy mạnh Đối với
Trang 3122
một số lưu vực sông lớn, vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế xã hội, một số đảo lớn quan trọng đã được tiến hành điều tra, đánh giá tài nguyên nước, tình hình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, cụ thể như sau:
- Xác định dòng chảy tối thiểu trong sông mới thực hiện 04/13 dòng chính thuộc các lưu vực sông lớn (sông Ba, Vu Gia - Thu Bồn, sông Cả, sông Mã); ngưỡng giới hạn khai thác nước dưới đất thực hiện khoảng 110.626 km2
(33%) trên địa bàn vùng Đồng bằng sông Hồng; vùng ven biển Đà Nẵng đến Bình Thuận và Tây Nguyên
- Công tác đánh giá cảnh báo, dự báo tác động biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước đã được thực hiện ở các vùng Đồng bằng Nam bộ, Đồng bằng sông Hồng, vùng ven biển miền Trung (Đà Nẵng đến Phú Yên) và lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn
- Một số chương trình, đề án chính phủ đã được thực hiện như: “Bảo vệ tài nguyên nước dưới đất ở các đô thị lớn”; “Điều tra, đánh giá quy hoạch sử dụng đất, nước mặt tại các thủy vực ven biển; tiềm năng nước dưới đất vùng ven biển và hải đảo” thuộc đề án “Điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển”
- Thực hiện xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát nguồn nước xuyên biên giới, giai đoạn 1 xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát nguồn nước xuyên biên giới Việt Nam-Trung Quốc Bước đầu triển khai xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát nguồn nước xuyên biên giới Việt Nam-Cam Pu Chia
- Triển khai nâng cấp và xây dựng mới hệ thống quan trắc, giám sát nguồn nước trên các vùng kinh tế trọng điểm như vùng Đồng bằng Bắc Bộ, vùng Đồng bằng Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ
và vùng duyên hải Nam Trung Bộ Tính đến thời điểm hiện nay có 714 công trình (707 công trình nước dưới đất, 7 công trình nước mặt)
Nhìn chung, công tác điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước đã được tích cực triển khai thực hiện Tuy nhiên, kinh phí cho các hoạt động điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước chưa tương xứng với nhiệm vụ và yêu cầu Mạng lưới trạm quan trắc, điều tra tài nguyên nước còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu đánh giá số
Trang 3223
lượng, chất lượng và dự báo diễn biến tài nguyên nước Thông tin, dữ liệu, số liệu điều tra, đánh giá, quan trắc tài nguyên nước còn phân tán và chưa đủ để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành
- Mạng lưới trạm quan trắc, điều tra tài nguyên nước còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu đánh giá số lượng, chất lượng và dự báo diễn biến tài nguyên nước Công nghệ, thiết bị, kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước còn lạc hậu; Hệ thống mạng quan trắc nguồn nước xuyên biên giới chưa được hoàn thiện để đảm bảo việc tích hợp với hệ thống thông tin cơ
sở dữ liệu tài nguyên nước nước quốc gia; Thông tin, dữ liệu, số liệu điều tra, đánh giá, quan trắc tài nguyên nước còn phân tán và chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên nước, nhất là phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, công tác dự báo, thẩm định hồ sơ cấp phép ở cả cấp trung ương và địa phương
- Công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý đối với việc thực hiện giấy phép sau cấp phép, tình hình khai thác sử dụng nước còn nhiều hạn chế
do đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu, kinh phí cho công tác thanh, kiểm tra còn hạn hẹp dẫn đến việc chưa tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật
về tài nguyên nước, còn nhiều công trình đang khai thác tài nguyên nước nhưng chưa có giấy phép
- Nhận thức của doanh nghiệp, người dân về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước còn nhiều hạn chế Nhân lực, kinh nghiệm cán bộ và cơ sở vật chất của lĩnh vực tài nguyên nước cũng như các địa phương còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước chưa rộng khắp, chủ yếu tập trung cho khối cơ quan quản lý và khối doanh nghiệp, chưa phổ biến,
Trang 3324
giáo dục sâu rộng đến các đối tượng khác như người dân, học sinh; hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu là tổ chức hội thảo, tập huấn, đăng tải trên trang tin điện tử nội bộ, báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành; kinh phí thực hiện hạn chế nên khó khăn trong việc đa dạng hóa hình thức cũng như việc
mở rộng đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước
Trang 3425
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
TỈNH BẮC GIANG 2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và xu hướng phát triển
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Bắc Giang được tái lập theo Nghị quyết về việc chia tách và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh đã được Quốc hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 06/11/1996
Vị trí tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ địa lý từ 21o07’’ đến 21o37’’ vĩ độ bắc; và từ 105o53’’ đến 107o02’’ kinh độ đông
- Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Lạng Sơn
- Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh
- Phía Nam và Đông - Nam giáp các tỉnh Hải Dương và Bắc Ninh
- Phía Tây và Tây - Bắc giáp Hà Nội và Thái Nguyên
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí hành chính tỉnh Bắc Giang
Trang 3526
Theo niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang năm 2014, tỉnh Bắc Giang có diện tích tự nhiên là 3.849,7km2, gồm 10 đơn vị hành chính: thành phố Bắc Giang và 09 huyện (Hiệp Hòa, Yên Dũng, Sơn Động, Việt Yên, Tân Yên, Yên Thế, Lục Nam, Lạng Giang và Lục Ngạn), với 230 xã, phường, thị trấn [5]
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình tỉnh Bắc Giang có 3 kiểu địa hình chủ yếu gồm:
- Địa hình vùng núi phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Đây là vùng núi cao, địa hình chia cắt mạnh, sườn dốc với các đỉnh cao, thấp khác nhau và các thung lũng giữa núi, hoặc các bãi bồi ven sông, là phần lãnh thổ Bắc Giang tiếp giáp với dãy núi Yên Tử - tỉnh Quảng Ninh và vùng núi cao của tỉnh Thái Nguyên Độ cao trung bình từ 300-400m, đỉnh cao nhất là núi Bảo Đài thuộc dãy Yên Tử cao 1.086m (phần giáp ranh với huyện Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), độ dốc phần lớn trên 25o
- Địa hình đồi thấp được phân bố rải rác trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên tập trung nhiều ở huyện Hiệp Hòa, Việt Yên và thành phố Bắc Giang Đây là vùng núi có địa hình lượn sóng, đồi bát úp, cao dần về hướng Bắc và Đông Bắc, chuyển tiếp sang dạng địa hình vùng núi, có độ chia cắt trung bình, độ cao bình quân so với mặt nước biển từ 80-120m, độ dốc từ 8 - 15o
- Địa hình đồng bằng thường được phân bố thành các dải hẹp dọc ven sông và ở các thung lũng, xen các đồi thấp, núi ở các huyện và thành phố Bắc Giang, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 15-25m, độ dốc thường dưới 8o
2.1.1.3 Đặc điểm khí tượng, khí hậu
Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, thời tiết giá lạnh, khô hanh và ít mưa, mùa
hạ nóng bức, độ ẩm cao, mưa nhiều Theo tài liệu thống kê của các Trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (thành phố Bắc Giang, huyện Hiệp Hòa, thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn và huyện Sơn Động) khí hậu các khu vực tỉnh Bắc Giang có những đặc điểm chính như sau:
Trang 37Bảng 2.4: Giờ nắng TB tại các trạm quan trắc trong tỉnh giai đoạn 2010-2014
đ) Gió
Hướng gió chủ đạo trong năm được phân chia theo 2 mùa: mùa hè theo hướng Đông - Nam, từ tháng 4-10, tốc độ gió trung bình 2m/s; mùa đông theo hướng Đông - Bắc, từ tháng 11 ÷ 3 năm sau, tốc độ gió trung bình 1,9m/s Tốc độ gió lớn nhất đạt 28m/s, được tạo ra bởi các trận bão xa
2.1.1.4 Các nguồn tài nguyên
a) Đặc điểm thổ nhưỡng
Kết quả nghiên cứu cho thấy trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 6 nhóm đất chính gồm: nhóm đất phù sa; đất bạc màu; đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ; đất đỏ vàng; đất mùn vàng đỏ trên núi; đất xói mòn trơ sỏi đá ngoài ra, còn có phần diện tích ao hồ, núi đá Các số liệu cụ thể được thể hiện trong Bảng 2.5 sau
Trang 38độ canh tác hợp lý thì sẽ đưa được năng suất lên ít nhất là 1,3 -1,4 lần so với hiện nay
b) Tài nguyên rừng
Theo kết quả điều chỉnh rà soát quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Bắc Giang (Quyết định số 1577/QĐ-UBND ngày 30/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang), diện tích đất lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang hiện có 146.435,4ha, trong đó: diện tích rừng đặc dụng là 14.093,3ha, chiếm 9,6%; rừng phòng hộ có 18.879,9ha, chiếm 12,9%; rừng sản xuất 113.462,2ha, chiếm 77,5% tổng diện tích đất lâm nghiệp Rừng ở Bắc Giang có vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc phòng chống xói mòn, rửa trôi, ngăn lũ ống, lũ quét
và có vai trò phòng hộ đầu nguồn bảo vệ vùng hạ du đồng bằng Bắc bộ [26]
c) Tài nguyên khoáng sản
Tiềm năng khoáng sản tỉnh Bắc Giang nói chung không lớn, đến nay, trên địa bàn tỉnh đã điều tra, phát hiện được một số mỏ và điểm mỏ khoáng sản của 15 loại khoáng sản gồm các loại: năng lượng, kim loại, khoáng chất công nghiệp, vật liệu xây dựng thông thường Nhiều loại có giá trị thương mại cao, có tiềm năng như than (dự báo trữ lượng trên 113,5 triệu tấn); các khoáng
Trang 3930
sản làm vật liệu xây dựng thông thường có trữ lượng khá lớn, phân bố khắp nơi trong tỉnh, thuận lợi cho việc khai thác, chế biến phục vụ cho xây dựng công nghiệp, dân dụng, giao thông như: sét, gạch, ngói (dự báo trữ lượng 365 triệu m3), cát sỏi, đất san lấp; khoáng sản có triển vọng và phân bố chủ yếu các huyện miền núi như: quặng đồng, vàng, chì, kẽm [ 27]
Khoáng sản nhiên liệu (than): Phân bố chủ yếu tại các huyện Sơn
Động, Lục Nam, Yên Thế, Lục Ngạn Trữ lượng khoảng 113,582 triệu tấn, than có chất lượng trung bình đến thấp Hiện nay các mỏ được cấp giấy phép khai thác gồm: Đồng Rì, Bố Hạ, An Châu, Đông Nam Chũ, Thanh Sơn, Nước Vàng
Khoáng sản kim loại: Có quặng sắt, quặng đồng, chì, kẽm, vàng, thủy
ngân Trong đó:
+ Quặng sắt: có 01 mỏ tại khu vực xã Xuân Lương, huyện Yên Thế trữ lượng 0,503 triệu tấn, mỏ có quy mô nhỏ, chất lượng thấp, hiện mỏ đã cấp phép khai thác
+ Chì - kẽm: có 4 điểm mỏ nhỏ, phân bố tại các huyện Yên Thế, Lạng Giang, Sơn Động Các điểm mỏ có hàm lượng quặng nghèo Hiện đã cấp phép 01 điểm mỏ Hoa Lý, huyện Sơn Động, 03 mỏ còn lại chưa được đánh giá, xác định trữ lượng (gồm điểm quặng Làng Lát, Dĩnh Bạn, Mỏ Trạng) + Vàng: có 3 điểm sa khoáng, 2 điểm vàng gốc, phân bố tại huyện Yên Thế và huyện Lục Ngạn, hiện các điểm vàng chưa được thăm dò, đánh giá trữ lượng, chưa cấp phép
+ Thủy ngân: Có 1 điểm Văn Non thuộc xã Lục Sơn, huyện Lục Nam + Quặng đồng: Phân bố rải rác trên địa bàn huyện Lục Ngạn và Sơn Động với khoảng 200 vị trí có khoáng hóa Nhìn chung,quặng đồng có hàm lượng nghèo, quy mô nhỏ, chỉ phù hợp phát triển công nghiệp địa phương
Khoáng chất công nghiệp: Có các khoáng sản như: barit, kaolin, than
bùn, felspat Cụ thể:
+ Khoáng sản barit: Tập trung tại các huyện Tân Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế (các mỏ Lang Cao, Núi Ri - Núi Dành, Núi Chùa - huyện Tân Yên, Ngọc Sơn- huyện Hiệp Hoà, Mỏ Trạng - huyện Yên Thế) Các mỏ Lang Cao, Núi Chùa, Núi Rì - Núi Dành đã được thăm dò và đánh giá trữ lượng, với tổng trữ
Trang 4031
lượng 567 ngàn tấn; điểm Ngọc Sơn và Mỏ Trạng chưa được thăm dò, đánh giá trữ lượng Nhìn chung các mỏ có quy mô nhỏ, chất lượng trung bình, có thể khai thác phục vụ công nghiệp địa phương Hiện có 01 mỏ Lang Cao đã được cấp phép khai thác
+ Kaolin: có 01 điểm mỏ tại ở xã Trí Yên - huyện Yên Dũng, mỏ đã được khảo sát sơ bộ, xác định trữ lượng tài nguyên dự báo khoảng 13 triệu m3, chưa cấp phép khai thác
+ Than bùn: có 02 mỏ tại huyện Việt Yên và huyện Lục Nam, trữ lượng 168,5 ngàn tấn, hiện chưa cấp phép Các mỏ than bùn chủ yếu nằm ở các vùng đất trồng lúa, vì vậy không có khả năng khai thác
+ Felspat: có 01 điểm mỏ tại Ngọc Sơn - Hiệp Hòa, trữ lượng 591,5 ngàn tấn, hiện chưa cấp phép Chất lượng xấu, chỉ có thể khai thác, chế biến phục vụ cho sản xuất gạch ceramic
+ Sét gốm: Có 1 mỏ sét gốm Lương Phong (Hiệp Hòa) trữ lượng nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp Tổng trữ lượng sét gốm mỏ Lương Phong (C1+C2) là 313 nghìn tấn, mỏ chưa được cấp phép
+ Sét chịu lửa: Có 2 điểm mỏ là Thượng Lát - huyện Việt Yên và Phố Thắng - huyện Hiệp Hòa, tổng trữ lượng là 342,878 ngàn tấn, chất lượng không cao, hiện nay chưa cấp phép
Khoáng sản vật liệu xây dựng: Gồm sét, gạch, ngói, cát, cuội, sỏi, đá
xây dựng, sét gốm, sét chịu lửa được phân bố rải đều trên các huyện Cụ thể: + Sét gạch ngói: có 132 mỏ và điểm mỏ đưa vào quy hoạch thăm dò, khai thác giai đoạn đến năm 2020, với trữ lượng tài nguyên là 85,49 triệu m3,
đã cấp 04 giấy phép Sét gạch ngói trên địa bàn tỉnh phân bố rộng, trữ lượng lớn, có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất gạch ngói
+ Cát, cuội, sỏi xây dựng: 4 mỏ cát xây dựng và 51 bãi cát sỏi lòng sông thuộc sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo trên 100 triệu m3, đã cấp 12 giấy phép khai thác cát sỏi lòng sông Cát, sỏi có chất lượng tương đối tốt, có thể làm vật liệu cho sản xuất bê tông, hồ, vữa
+ Đá vật liệu xây dựng: Có 02 mỏ (mỏ Xóm Dõng, xã An Lạc - huyện Sơn Động dự báo khoảng 5 triệu m3 và mỏ Lục Sơn - huyện Lục Nam trữ