1. Trang chủ
  2. » Ngoại ngữ

Cách tiếp cận mới về đổi mới mô hình đào tạo giáo viên một số kinh nghiệm quốc tế và thực trạng ở Việt Nam

13 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 458,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian qua việc mở rộng quy mô đã tập trung nhiều vào số lượng mà chưa chú trọng đúng mức điều kiện đảm bảo chất lượng; phân bố quá dàn trải, phân tán và nhỏ lẻ cơ sở ĐTGV; nhiều cơ[r]

Trang 1

MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ THỰC TRẠNG Ở VIỆT NAM

TS Mai Văn Tỉnh1

TS Nguyễn Đắc Hưng2 Tóm tắt

Việc tăng hiệu quả của giáo viên là chìa khóa cải tiến chất lượng giáo dục phổ thông Hầu hết các hệ thống giáo dục trên thế giới gần đây mới chỉ tập trung nỗ lực cải cách đào tạo giáo viên ban đầu Những cách mà các ứng viên sư phạm được đào tạo thành giáo viên có ảnh hưởng quan trọng đến việc giáo viên có thể dạy và trò có thể học Tuy nhiên, trên thế giới, rất ít quốc gia có hệ thống đào tạo giáo viên hiệu quả Nhiều chương trình đào tạo giáo viên rất thiếu thực tiễn, và hầu như tất cả đang

đi tìm cách làm tốt nhất còn nằm ở phía trước

Xuất phát từ tình hình đào tạo giáo viên không hiệu quả, trước nhiệm vụ cấp bách đột phá tái cấu trúc hệ thống đào tạo giáo viên ở Việt Nam, bài viết sẽ tìm hiểu tình hình thực tiễn và quan điểm về cách tiếp cận mới trong đổi mới đào tạo giáo viên ở một số

hệ thống giáo dục tại các châu lục Bắc Mỹ, Úc, Âu và Á, phân tích các thành công và thất bại của chúng để tìm giải pháp thích hợp cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Tiếp cận mới về cải cách đào tạo giáo viên; Lộ trình đào tạo giáo viên; Nhà

cung ứng đào tạo sư phạm; Chủ sử dụng giáo viên; Thị trường đào tạo sư phạm; Thị trường sử dụng sinh viên tốt nghiệp sư phạm.

1 Đặt vấn đề

1.1 Bối cảnh đào tạo giáo viên ở Việt Nam và trên thế giới

Chất lượng giáo viên là chìa khóa cải tiến giáo dục phổ thông, hầu hết các hệ thống giáo dục trên thế giới gần đây mới chỉ tập trung nỗ lực cải cách đào tạo giáo viên (ĐTGV) Cách đào tạo ứng viên sư phạm thành giáo viên có ảnh hưởng quan trọng đến việc dạy của thầy và việc học của trò Tuy nhiên, trên thế giới rất ít quốc gia có hệ thống ĐTGV hiệu quả Nhiều chương trình rất thiếu thực tiễn, hầu như tất cả phải đi tìm cách làm tốt nhất còn đang nằm ở phía trước

Ở các đại học đa lĩnh vực, đối với hầu hết chương trình ĐTGV đặt trong đại học tự chủ, Chính phủ không thể kiểm soát trực tiếp các chương trình này và cũng chưa có ảnh hưởng

1 Hiệp hội Các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam; Email: mvtinh@gmail.com.

2 Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Email: ndhung.tgtw@gmail.com.

Trang 2

mạnh vào hai khía cạnh sau: (1) kinh phí ĐTGV ở đại học; (2) tuyển dụng giáo viên vào các trường phổ thông công lập Có thể có 3 lý do chính sau đây:

• Với trường công lập, nhà nước là chủ sử dụng chính giáo viên mới vào nghề, nhưng điều rất ngạc nhiên là các cấp thẩm quyền (cấp tỉnh/thành, quận/huyện và nhà trường) lại

có rất ít ảnh hưởng và thái độ tương tác với cơ sở ĐTGV;

• Việc giám sát tối thiểu của Chính phủ kết hợp với thiếu thông tin phản hồi từ nhà tuyển dụng giáo viên có ít động lực cho các cơ sở ĐTGV để cải thiện chất lượng chương trình đào tạo Các chuơng trình ĐTGV chất lượng thấp vẫn có thể tuyển sinh sư phạm vì không có sự tập trung vào nâng cao chất lượng ĐTGV trên toàn hệ thống

• Thí sinh muốn vào sư phạm (SP) không có thông tin để chọn chương trình dựa trên chất lượng Nhưng ngay cả khi họ có, thì kết quả đầu ra cho việc làm cũng không có khả năng thay đổi, dù là họ tốt nghiệp chương trình ĐTGV xuất sắc hay nghèo nàn, nhưng chính sách việc làm cho GV không hề phân biệt dựa trên chất lượng đào tạo

Do vậy việc cải cách đào tạo sư phạm đòi hỏi sự hiểu biết về đổi mới là cần thiết để ảnh hưởng đến cả nhà tuyển dụng giáo viên cũng như nhà cung cấp ĐTGV

1.2 Tình hình đào tạo giáo viên ở Việt Nam

Suốt 7 thập kỷ qua công tác đào tạo sư phạm ở Việt Nam đã có nhiều cố gắng đổi mới, hoàn thiện theo hướng nâng cao chất lượng Nhà nước đã tập trung đầu tư rất nhiều cho đổi mới và nâng cấp cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo giáo viên, đặc biệt là các trường ĐH và

CĐ sư phạm ở trung ương và địa phương Đã có lúc hai trường đại học sư phạm (ĐHSP)

ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nhập vào các Đại học quốc gia, sau đó lại tách ra để đào tạo một mạch 4 năm liền (tức đào tạo song song, không chấp nhận đào tạo nối tiếp hai giai đoạn)

Hiện nay, trên cả nước có 113 cơ sở ĐTGV, gồm 14 ĐHSP, 48 đại học đa ngành có ĐTGV,

30 cao đẳng sư phạm (CĐSP), 19 trường cao đẳng đa ngành có ĐTGV và 02 trường trung cấp sư phạm (TCSP) Ngoài ra còn có 40 trường trung cấp đa ngành đào tạo giáo viên mầm non Trong quá trình hoạt động và phát triển, đến nay hệ thống cơ sở ĐTGV đã bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập Thời gian qua việc mở rộng quy mô đã tập trung nhiều vào số lượng

mà chưa chú trọng đúng mức điều kiện đảm bảo chất lượng; phân bố quá dàn trải, phân tán và nhỏ lẻ cơ sở ĐTGV; nhiều cơ sở trên cùng một địa bàn bị trùng lặp về chức năng và nhiệm vụ; chương trình ĐTGV không thống nhất; đào tạo chưa gắn với nhu cầu sử dụng, còn không ít sinh viên tốt nghiệp sư phạm ra trường bị thất nghiệp, gây lãng phí, bức xúc; nhân lực giáo viên thừa thiếu cục bộ giữa các địa phương, bậc học; ngân sách nhà nước đầu

tư dàn trải, hiệu quả thấp; không thu hút được các học sinh giỏi, có năng lực phù hợp vào học sư phạm (1) Đề án sắp xếp các cơ sở ĐTGV của Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Chính phủ dựa trên đề xuất của các chuyên gia ĐHSP Thái Nguyên và ĐHSP Hà Nội nhằm xây dựng một số ĐHSP trọng điểm, chuyển các cơ sở SP khác thành đơn vị vệ tinh đã gây sự phản ứng mạnh trong toàn hệ thống SP (2) Bên cạnh đó, chính sách tinh giản biên chế giáo viên lại càng có vấn đề khi sự chỉ đạo thiếu phối hợp giữa Bộ/ Sở Nội vụ với Bộ/ Sở Giáo dục từ

Trang 3

trung ương đến địa phương theo lối tư duy kế hoạch hóa tập trung, đồng loạt cắt giảm 10% giáo viên bất kể tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ ở địa phương, làm nhiều giáo viên rơi vào cảnh khó khăn (3) Để tìm lối ra cho đổi mới ĐTGV ở Việt Nam, phải thoát khỏi tư duy khép kín ĐTGV theo truyền thống, xem xét vấn đề dưới góc độ cạnh tranh của kinh tế thị trường

1.3 Bối cảnh đào tạo giáo viên trên thế giới

Tổ chức Learning First – một doanh nghiệp xã hội chuyên tập trung phân tích chính sách giáo dục phổ thông và cải cách hệ thống, sau khi làm việc với các nhà hoạch định chính sách ở nhiều hệ thống GD trên thế giới về cải tiến ĐTGV, năm 2015 cho biết: “Những quan tâm về chất lượng giảm sút trong ĐTGV đang lan rộng toàn cầu và tất cả các hệ thống đều đang đi tìm con đường tốt nhất còn nằm ở phía trước” (4)

Vấn đề đặt ra là cần xây dựng một KHUNG xác định các tùy chọn cải cách có sẵn, tác động vào các hình thức và bối cảnh khác nhau, các cấu trúc quản trị để tối ưu hóa quá trình đổi mới Một Khung như vậy đặc biệt quan trọng trong ĐTGV ban đầu, thường vượt qua ranh giới quốc gia, các địa phương và phải tuân theo sự can thiệp từ cả ba cấp (liên bang, tiểu bang, địa phương) trong nền kinh tế thị trường

Mục đích đổi mới này là cung cấp giáo viên mới vào nghề có kỹ năng tốt hơn để tăng cường việc học của học sinh Hiện tại, giáo viên cảm thấy không được chuẩn bị tốt cho thực

tế dạy học bởi vì họ không có đủ kiến thức nội dung và kỹ năng sư phạm cần thiết Việc đổi mới ĐTGV đòi hỏi phải theo lộ trình từ khâu tuyển thí sinh, đào tạo, yêu cầu tốt nghiệp, hành nghề, đến bồi dưỡng nghiệp vụ Nếu tất cả các khâu này được công nhận như các bước tiến trong lộ trình ĐTGV nói chung, thì việc cải cách có nhiều khả năng dẫn đến hiệu quả Nhưng xu hướng gây độc hại hiện nay là người ta chỉ nhìn vào các khâu này một cách tách biệt trong toàn bộ quá trình đào tạo làm cho việc cải cách kém hiệu quả Một trong những tồn tại lớn nhất là quá tập trung vào đầu vào từng khâu riêng lẻ, ví dụ quy định cứng nhắc chứng chỉ sư phạm hay giấy phép hành nghề nhà giáo Trong một số hệ thống còn đưa ra quy trình với tiêu chí tuyển ứng viên nhiều giai đoạn cho hành nghề SP, đặc biệt là nhấn mạnh vào tiêu chí tuyển sinh, mà việc này lại không phải là trọng tâm chính của cải cách vì

nó không giúp cải thiện chất lượng đào tạo Chính sách cải cách hiệu quả cần tác động mạnh các cấu phần chính của quá trình này, sắp xếp những đánh giá nhằm khuyến khích tăng chất lượng, tăng lưu lượng thông tin giữa chủ sử dụng giáo viên với cơ sở ĐTGV

2 Các vấn đề tồn tại chính trong đào tạo giáo viên

Chương trình ĐTGV hiệu quả cần mô hình hóa các hoạt động mà nó mong đợi từ sản phẩm đầu ra của chương trình Đánh giá ở nhiều nước cho thấy giáo viên cần được cập nhật các bằng chứng mới nhất về các chiến lược dạy học, bao gồm liên tục cải tiến và phát triển thực tiễn của họ, đó là:

• Thiếu nội dung dựa trên bằng chứng => cản trở và gây tác hại cho ĐTGV, bởi vì

Trang 4

• Việc đào tạo không đầy đủ kiến thức môn học mà nhiều giáo viên nhận được;

• Không tập trung đủ vào kỹ năng thu thập và phân tích dữ liệu thực hành dạy lâm sàng;

• Hạn chế tích hợp lý thuyết với thực hành

Trong hầu hết các hệ thống GD trên thế giới, việc giải quyết các vấn đề tồn tại này là trọng tâm cải cách ĐTGV nhằm chấm dứt mô hình giáo viên được đào tạo thiếu chất lượng cho trường phổ thông Chúng ta sẽ lần lượt phân tích các vấn đề này dưới đây:

2.1 Thiếu nội dung dựa trên bằng chứng

Việc đánh giá chương trình ĐTGV ở Mỹ và Úc chỉ ra rằng một số khóa học đang giảng dạy các thực tiễn và chiến lược lạc hậu, lỗi thời, không hiệu quả Tác động của nó không thể nhấn mạnh hết được Các cải cách cần tập trung đảm bảo cho giáo viên sử dụng những phương pháp đã biết để cải tiến việc học của trò Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ, Trung tâm Chất lượng Giáo viên Quốc gia phát hiện ra rằng 83% các chương trình ĐTGV không gồm đủ 5 thành phần hướng dẫn đọc hiệu quả mà Hội đồng Đọc Quốc gia quy định hơn một thập kỷ trước đó Họ cũng phát hiện ra rằng gần 1000 sách giáo khoa khác nhau đã được sử dụng để dạy hướng dẫn đọc qua 2.671 khóa học, hầu hết việc dạy nhiều phương pháp không được

hỗ trợ bởi bất kỳ bằng chứng nào (5) Còn Nhóm Tư vấn cấp bộ về ĐTGV ở Úc phát hiện

ra rằng nhiều chương trình ĐTGVcó hoạt động giảng dạy thiếu cập nhật, không dựa trên nghiên cứu hoặc không được hiểu đúng bởi những người đang dạy chúng (6)

2.2 Đào tạo kiến thức môn học không đủ

Một số chương trình ĐTGV không cung cấp kiến thức nội dung cần thiết theo yêu cầu

để dạy chương trình đầy đủ Điều này đặc biệt đối với ĐTGV Tiểu học Ở Mỹ, 72% chương trình dạy nội dung chỉ liên quan một phần nhỏ hoặc không có chương trình GD tiểu học hoàn chỉnh Một trong những thiếu sót lớn nhất của ĐTGV Tiểu học ở Mỹ là việc dạy Toán Một số nghiên cứu cho thấy giáo viên tiểu học thiếu hiểu biết cần thiết về các khái niệm Toán học mà họ phải dạy, điều này tạo ra sự lo lắng khi dạy môn học này Nó tác động tiêu cực đến thành tích học tập của nữ sinh, vì phần lớn giáo viên tiểu học là nữ, và nếu thái độ

lo lắng về toán của giáo viên nữ càng cao, thì càng có nhiều khả năng niềm tin của nữ sinh giảm sút và chúng càng học kém môn Toán so với nam sinh

Các hệ thống có hiệu suất cao chú trọng nhiều hơn vào kiến thức nội dung chuyên môn

cụ thể Ví dụ, ở Phần Lan, tất cả giáo viên phải có bằng thạc sĩ về môn học họ sẽ dạy Còn giáo viên tập sự ở Singapore phải đạt được kiến thức nội dung như một chuyên gia có trình

độ cử nhân về môn học đó Tuy nhiên, việc bảo đảm cho giáo viên có hiểu biết thỏa đáng về tất cả các khái niệm cụ thể mà họ sẽ phải dạy thì rõ ràng lại là một điều cần thiết

2.3 Tập trung không đầy đủ vào thu thập dữ liệu và kỹ năng phân tích

Các nghiên cứu giáo dục đương đại nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo viên phải có kỹ năng liên tục phân tích và phát triển thực tiễn của riêng họ Điều cơ bản là khả

Trang 5

năng đánh giá tác động việc dạy của thầy đối với việc học của trò Giáo viên phải thu thập

và phân tích dữ liệu về việc học của trò (bao gồm cả đánh giá hình thức và đánh giá tóm tắt) và sau đó hướng mục tiêu dạy học vào tăng cường việc học của từng học sinh Phương pháp tiếp cận này là trung tâm để dạy một loạt học sinh đa dạng và lựa chọn chiến lược phù hợp cho dạy và học Hiện nay, có rất ít chương trình ĐTGV trang bị cho giáo viên những kỹ năng quan trọng này Báo cáo TEMAG ở Úc cho thấy các chương trình ĐTGV không đào tạo cho giáo viên biết dữ liệu nào cần thu thập, cách giải thích nó và làm thế nào để sử dụng dữ liệu nhằm cải thiện thực hành của chính họ Ở Mỹ, chỉ có 24% các chương trình ĐTGV được tìm thấy có đưa vào bất kỳ bài tập hoặc khóa học nhằm giải quyết thích hợp cùng một vấn

đề Ngược lại, giáo sinh thực tập ở các hệ thống có hiệu suất cao thường được cung cấp các công cụ để liên tục cải thiện việc thực hành trong suốt cuộc đời nghề nghiệp Nghiên cứu giáo dục và thực hành được tích hợp vào phương pháp tiếp cận “giáo viên cũng đồng thời

là nhà nghiên cứu” Giáo viên được đào tạo để đánh giá tác động việc dạy học của họ đối với việc học của trò và sử dụng bằng chứng nghiên cứu để điều chỉnh việc dạy nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của học sinh Cách tiếp cận này là nền tảng cho ĐTGV và phát triển bồi dưỡng giáo viên ở Phần Lan, Thượng Hải và Singapore Ở Phần Lan, giáo viên tiểu học trong khi tập sự buộc phải hoàn thành một đề tài học thuật hoặc luận văn khoa học về

sư phạm, nhằm phát triển kỹ năng phân tích dữ liệu Giáo viên tập sự trung học phải làm tương tự như thế trong môn học hàn lâm

2.4 Tích hợp lý thuyết với thực hành còn hạn chế

Ứng dụng lý thuyết giáo dục vào thực hành dạy trên lớp là một phần thiết yếu của việc bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên mới vào nghề Việc yêu cầu giáo viên mới ra trường phải liên tục báo cáo kinh nghiệm thực hành của họ trong trường phổ thông là phần hữu ích nhất của ĐTGV Do đó, các hệ thống tích hợp yếu tố thực hành bên trong chương trình ĐTGV để phát triển kỹ năng quản lý lớp học và liên kết lý thuyết sư phạm với thực tiễn Chẳng hạn,

ở Singapore, các giáo sinh sư phạm có 22 tuần thực hành tại trường phổ thông trong suốt bốn năm học lấy bằng cử nhân Việc thực hành (practicum) bao gồm quan sát, cùng dạy và cuối cùng là dạy học với sự giúp đỡ của một cố vấn Các cấu phần thực hành của khóa học dẫn đến văn bằng bắt đầu từ năm đầu tiên và tăng dần trong suốt thời gian khóa học Còn

ở Nhật Bản giáo sinh sư phạm có hai ngày trong tuần để được huấn luyện một/một trên lớp học trong năm học đầu tiên của chương trình ĐTGV Ở Mỹ, Hội đồng quốc gia chất lượng giáo viên đánh giá các cấu phần thực hành của nhà cung cấp ĐTGV theo ba tiêu chuẩn: 1/ Tần số của quan sát và thông tin phản hồi cung cấp cho giáo sinh

2/ Sự liên lạc của nhà cung cấp ĐTGV với trường phổ thông để bố trí thực tập về tiêu chuẩn đủ điều kiện để trở thành giáo viên cố vấn

3/ Sự tham gia tích cực của cơ sở ĐTGV trong lựa chọn giáo viên cố vấn

Theo thống kê của tổ chức Learning First, tại Hoa Kỳ chỉ có 34% cơ sở SP đáp ứng tiêu chuẩn đầu tiên và chỉ có 2% đáp ứng cả ba tiêu chuẩn Cải thiện sự kết nối giữa các cơ sở ĐTGV với trường phổ thông là rất quan trọng, vì giáo viên và các lãnh đạo nhà trường từ lâu đã

Trang 6

báo cáo rằng các trường SP đang thất bại trong việc đào tạo đầy đủ giáo viên đáp ứng yêu cầu Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay, lại có ý kiến đề xuất Nhà nước nên cho phép cơ sở ĐTGV được thành lập trường phổ thông thực hành ngay trong trường đại học để nhằm mục đích tạo thu nhập thêm cho nhà trường là chính, chứ không cần các biện pháp thu thập và xử lý thông tin phản hồi từ trường phổ thông công lập và tư thục ở các địa phương

Ở Singapore, Chính phủ điều phối thông tin phản hồi giữa trường phổ thông với Bộ Giáo dục và Đào tạo, và Học viện Giáo dục Quốc gia (NIE) Thông tin phản hồi của trường phổ thông được thu thập thông qua khảo sát, tập trung các nhóm và các cuộc phỏng vấn để xác định điểm mạnh và điểm yếu của giáo sinh thực tập và giáo viên mới vào nghề Do vậy Học viện Giáo dục Quốc gia NIE được kỳ vọng sẽ chủ động đáp ứng Ví dụ, giữa những năm 2000, các trường phổ thông Singapore báo cáo phản ánh rằng giáo viên mới vào nghề thiếu kỹ năng dạy học trên lớp Đáp lại, NIE đã thay đổi hoàn toàn khóa học của mình bằng cách loại bỏ bớt các môn học như Lịch sử, Triết học và Xã hội học giáo dục để thay thế chúng với sự tập trung nhiều hơn vào dạy thực hành trên lớp nhiều hơn

Việt Nam có quy mô hệ thống cơ sở ĐTGV và các trường phổ thông khá lớn, không thể áp dụng cách quản lý trực tiếp từ Bộ đến các trường phổ thông qua NIE như Singapore, nhưng việc đổi mới chương trình ĐTGV (dù là theo phương pháp song song 4 năm liên tục, hay đào tạo nối tiếp 2 giai đoạn ở các ĐH đa lĩnh vực theo đề xuất của các chuyên gia cải cách đại học) thì điều cần chú ý là phải có cơ chế phân cấp cho các ĐH, CĐSP địa phương điều chỉnh kịp thời khối lượng GD đại cương để tăng thời lượng học nghiệp vụ SP như kinh nghiệm ĐH Chung Cheng Philippines đã giảm từ 63 tín chỉ xuống còn 36 tín chỉ (kể cả tự chọn) trong phần giáo dục khai phóng (tức giáo dục đại cương) (7) Như vậy, 2 hay 3 đại học SP trọng điểm có đủ sức điều chỉnh nội dung chương trình ĐTGV cho cả nước không?

3 Những vấn đề gây ra tồn tại trong đào tạo giáo viên là gì?

Bản chất của ĐTGV là phải xem xét các bên liên quan ở trường đại học, chính quyền các cấp, các quận huyện và từng trường phổ thông Có nhiều yếu tố bối cảnh đang diễn ra, nhưng chỉ có một số ít được coi là rất quan trọng để hiểu được về cải cách ĐTGV hiệu quả

3.1 Vấn đề liên quan đến thị trường: đảo ngược ưu đãi ĐTGV có chất lượng

Người ta thường cho rằng sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp đào tạo dẫn đến

chương trình đào tạo tốt hơn, nhưng riêng trong lĩnh vực ĐTGV, nhiều nhà cung ứng ĐTGV

lại không cạnh tranh về chất lượng Vì họ thường có các ưu đãi tài chính để điều hành ĐTGV

với chi phí thấp và thường các ứng viên ngành SP cũng có động cơ khuyến khích để có được khóa học nhanh nhất, rẻ nhất, do vậy việc lựa chọn khóa học của họ không ảnh hưởng đến triển vọng nghề nghiệp trong tương lai Cấu trúc của những khuyến khích này khiến nhiều chính sách đổi mới ĐTGV không có hiệu quả hoặc có tác động tiêu cực Các nhà hoạch định chính sách cần chú ý đến những khuyến khích tiêu cực này trong việc phát triển tất cả các cải cách ĐTGV Lý do cho các ưu đãi không đúng đó là bởi vì có các liên kết nghèo nàn, lỏng lẻo giữa hai loại thị trường:

Trang 7

(1) Thị trường đào tạo giáo viên (giáo viên tương lai chọn chương trình ĐTGV ở đại học); (2) Thị trường sinh viên tốt nghiệp SP (các nhà tuyển dụng - chính quyền tỉnh/thành, quận hoặc trường học - chọn sinh viên tốt nghiệp từ các khóa học ĐTGV khác nhau) Việc đổi mới liên kết tốt hơn các thị trường này với nhau sẽ điều chỉnh các khuyến khích để liên tục tăng chất lượng ĐTGV Để tối đa hóa sự tác động, cải cách cần thay đổi cơ cấu khuyến khích để trường đại học và sinh viên SP hướng tới liên tục cải thiện chất lượng Nếu các ưu đãi kém không được giải quyết, thì hầu như tất cả các cải cách đều thất bại Trong hầu hết các ngành nghề, sinh viên chọn chương trình đại học tối ưu hóa triển vọng có việc làm sau tốt nghiệp Nhưng trong nghề dạy học, phản ứng của nhà tuyển dụng đối với chất lượng đào tạo thường là yếu Tất cả các giáo viên mới vào nghề thường được trả lương như nhau bất kể chất lượng hoặc loại hình đào tạo, và giáo viên học xong các chương trình tốt hơn không nhất thiết có nhiều khả năng kiếm được công việc họ muốn Có xu hướng trong toàn hệ thống này muốn coi giáo viên như loại hàng hóa chuẩn, được cung cấp mà không có sự khác biệt trên thị trường Vì lý do này, khi giáo viên tương lai lựa chọn chương trình ĐTGV, sự ưu đãi khuyến khích với họ không nhất thiết là tìm chương trình chất lượng tốt nhất mà là tìm các điểm đặc trưng khác, chẳng hạn sự tiện lợi hoặc chi phí thấp

Việc sắp xếp các ưu đãi xung quanh cải tiến liên tục ĐTGV đòi hỏi sự liên kết mạnh mẽ giữa thị trường cho người tham gia ĐTGV và thị trường giáo viên sau tốt nghiệp SP Các nỗ lực cải cách ĐTGV thường hay bỏ quên thị trường thứ hai này, khi người sử dụng lao động quyết định tuyển giáo viên Làm sao để việc tuyển giáo viên ảnh hưởng đến việc người giáo viên tương lai phải chọn chương trình ĐTGV để vào học Hiện tại, giáo viên tương lai có ít tín hiệu từ chủ sử dụng mong muốn của họ về việc các chương trình đào tạo nào được coi là

có chất lượng cao nhất Họ cũng có rất ít động lực ưu đãi để chọn chương trình chất lượng,

vì nó ít ảnh hưởng đến triển vọng việc làm

Ngược lại, nhà cung cấp ĐTGV - chủ yếu là trường đại học - thiếu sự ưu đãi khuyến khích tài chính để cải thiện chất lượng ĐTGV, nên việc ĐTGV chất lượng tốt hơn không thu hút nhiều sinh viên hơn vì nó không giúp sinh viên tìm được việc làm Vì vậy, ưu đãi tài chính duy nhất với các đại học là khuyến khích giảm chi phí Điều này rất có hại cho chất lượng Việc cải cách hiệu quả liên kết quyết định ở cả hai thị trường để buộc sinh viên chọn khóa học chất lượng tốt nhất bởi vì nó sẽ giúp họ có được công việc giảng dạy mà họ muốn Về phần mình, trường đại học phải tăng chất lượng ĐTGV vì nó làm tăng số lượng sinh viên đầu vào Vì lý do này, khi các giáo viên tương lai chọn chương trình ĐTGV, ưu đãi không nhất thiết là tìm kiếm chương trình chất lượng tốt nhất mà là tìm các đặc điểm khác, chẳng hạn như sự tiện lợi hoặc chi phí thấp Do thất bại của thị trường tốt nghiệp đại học, các trường đại học sẽ không mất sinh viên nếu họ cung cấp ĐTGV kém chất lượng Do đó,

có một động lực tài chính để cung cấp khóa học rẻ nhất đến mức có thể (vì nó không ảnh hưởng đến doanh thu của họ - nó thậm chí còn có thể tối đa hóa thu nhập nhờ tuyển sinh) Kết quả là các khóa ĐTGV chất lượng kém hoạt động với sự đầu tư không đủ cho ĐTGV

có chất lượng đáp ứng yêu cầu xã hội Vấn đề này trở nên trầm trọng hơn khi chi phí cận biên học sinh bổ sung quá thấp vì chất lượng ĐTGV kém Nhiều đại học có những khuyến

Trang 8

khích tài chính lớn để hút càng nhiều sinh viên càng tốt thông qua các khóa học giá rẻ Chính sách đào tạo và sử dụng giáo viên ở Việt Nam cần chưa hề chú ý đến điều này Trên thực tế, trong kỳ tuyển sinh vừa qua, có trường ĐTGV trong phía Nam thấy có quá ít sinh viên trúng tuyển, đã tăng cao điểm chuẩn đầu vào để không tuyển ai cả, làm cho sinh viên trúng tuyển phải xin ra ĐHSP Hà Nội nhập học

3.2 Các trường đại học là các tổ chức nhà trường tự chủ

Ở nhiều nước chương trình ĐTGV thường nằm trong đại học đa lĩnh vực tự chủ, nên quy định của Chính phủ thường được coi là không khả thi về mặt chính trị Nhưng trên thực tế, Chính phủ lại có vai trò rõ ràng hơn về ĐTGV so với các ngành nghề khác vì Chính phủ là nhà tuyển dụng chủ yếu các sinh viên tốt nghiệp SP cho các trường công lập Ngoài

ra, việc thực tập thường được tổ chức trong trường công lập, cung cấp một điểm can thiệp khác Vai trò kết hợp giữa người sử dụng lao động và nhà cung ứng ở hầu hết các khâu thực hành cung cấp cho Chính phủ lượng lớn hơn nội dung của các khóa học và chất lượng sinh viên tốt nghiệp được đào tạo ra Các cơ hội để Chính phủ ảnh hưởng đến ĐTGV gồm điều chỉnh nội dung khóa học, tạo điều kiện phản hồi giữa các trường phổ thông và đại học, thiết lập đăng ký tuyển giáo viên mạnh mẽ hoặc các chuẩn việc làm mà sinh viên tốt nghiệp phải vượt qua Những biện pháp này có thể thay đổi các ưu đãi của nhà cung ứng ĐTGV để cuối cùng nâng cao kết quả học tập

3.3 Cơ sở bằng chứng hạn chế

Nhiều hệ thống muốn phát triển cách đánh giá chương trình ĐTGV nhưng phải vật lộn vì không có câu trả lời rõ ràng thế nào là chương trình đào tạo xuất sắc Mặc dù không

có bức tranh đầy đủ, có một số nguyên tắc nhất trí lớn về ĐTGV tốt Những nguyên tắc này cung cấp cơ sở cho lĩnh vực cải tiến quan trọng được mô tả: đào tạo nghiêm ngặt về nội dung kiến thức gắn liền với kỹ năng sư phạm môn học cụ thể, tập trung vào thực hành đánh giá hình thức và tóm tắt, với kinh nghiệm thực tiễn mạnh mẽ Đánh giá toàn diện về các cuộc cải cách ĐTGV có thể thêm đáng kể vào cơ sở bằng chứng về những gì làm việc được Chúng ta muốn giáo viên liên tục đánh giá tác động của họ đối với học sinh để cải thiện và đây cũng phải là tiêu chuẩn thực hành của cơ sở ĐTGV và lãnh đạo hệ thống SP

3.4 Mối quan hệ Đầu vào - Đầu ra trong đào tạo giáo viên

Hiện nay, xu hướng thường tập trung vào đầu vào thay vì chú trọng đầu ra (Ví dụ: Bắt buộc một năng lực Toán học tối thiểu cho giáo viên mới hoặc quy định độ dài cần thiết của thực tập sư phạm) Chính sách tốt cần tập trung vào mục tiêu cuối cùng, tức là bảo đảm giáo viên mới vào nghề cải thiện việc học của trò tốt hơn Một số kết quả đầu ra có thể đo lường được sử dụng để đánh giá sự cải thiện của hệ thống này về:

• Chất lượng giáo viên: Kiến thức nội dung và kiến thức sư phạm trực tiếp liên quan đến việc dạy và học được cải thiện;

Trang 9

• Chất lượng dạy học: Các quan sát lớp học về hiệu suất giảng dạy, dữ liệu phát triển của học sinh, và khảo sát học sinh

Trọng tâm nhắm vào mục tiêu cuối cùng của dạy học được cải thiện và việc học tập trái ngược với việc nhìn vào yếu tố đầu vào để đánh giá các cải tiến trong ĐTGV, chẳng hạn như

số lượng và loại khóa học yêu cầu, điểm xuất phát của thí sinh sư phạm (trước khi tham gia chương trình ĐTGV, độ dài và loại hình thực tập sư phạm Việc tập trung vào các yếu tố đầu vào có rủi ro tạo ra các yêu cầu không cần thiết mà không thể cải thiện, hoặc thậm chí làm xấu đi các kết quả đầu ra Đây là một vấn đề tồn tại đặc biệt đưa ra cơ sở bằng chứng thấp

về nhìn nhận công tác ĐTGV xuất sắc là thế nào Việc đặt trọng tâm vào kết quả đầu ra sẽ đảm bảo rằng các cải cách chính sách không tạo ra ưu đãi khuyến khích sai lầm, mà chúng còn có thể cải thiện chất lượng

3.5 Những hạn chế của các chuẩn tối thiểu

Chính sách hiệu quả cần công nhận sự khác biệt giữa sử dụng biện pháp can thiệp khuyến khích đáp ứng chuẩn tối thiểu với chính sách thúc đẩy cải thiện đáng kể Hầu hết quy định dựa trên các chuẩn đều thiết lập sàn chất lượng, điều đó là hữu ích để đưa các chương trình tồi tệ nhất lên trình độ đủ, nhưng rất ít để di chuyển chương trình từ đầy đủ sang xuất sắc Ví dụ: Đặt trình độ thành thạo Toán tối thiểu cho giáo viên và chương trình ĐTGV dạy Toán sẽ loại bỏ bất kỳ ứng viên nào hoặc chương trình ở cấp thấp nhưng sẽ không làm gì để nâng cao phần lớn giáo viên dạy ở trên mức tối thiểu Tương tự, thiết lập

độ dài thực tập tối thiểu (ví dụ: 60 ngày) sẽ không nhất thiết nâng cao chất lượng thực tập Chuẩn tối thiểu là quan trọng nhưng không đủ để có thể tạo ra thay đổi đáng kể Việc lập chuẩn tối thiểu sàng lọc chất lượng kém nhất, nhưng không tác động đến phần lớn các giáo viên tiềm năng Cải cách nhắm vào tất cả các giáo viên tiềm năng nâng cao chất lượng trên toàn bộ hệ thống Thiết lập chuẩn tối thiểu nghiêm ngặt là quan trọng, nhưng các can thiệp khác như cải thiện ưu đãi hoặc xây dựng năng lực sẽ di chuyển chương trình và ứng viên SP từ tốt đến tốt nhất cũng rất quan trọng Các can thiệp như nâng cao năng lực, ưu đãi khuyến khích trực tiếp và minh bạch thông tin có thể được sử dụng để khuyến khích phát triển chương trình ở trên chuẩn tối thiểu Chương trình tài trợ dựa trên hiệu suất có thể được thiết kế để cấp tài trợ cho các chương trình cho thấy các cải tiến lớn nhất trong kết quả đầu

ra giáo viên tốt nghiệp đại học Tập trung trực tiếp vào kết quả đầu ra (ví dụ: hiệu suất giáo viên mới vào nghề) có nhiều khả năng có hiệu quả hơn là tập trung vào yếu tố đầu vào (ví dụ: số lượng môn học yêu cầu)

4 Các giải pháp lựa chọn cải cách: Đổi mới lộ trình đào tạo giáo viên

Giáo viên mới vào nghề trải qua 6 khâu khác nhau trên lộ trình này, kể từ khi vào học

SP cho đến lúc đi làm Ở hầu hết các hệ thống việc can thiệp chính sách đều nhắm 6 điểm khác nhau của lộ trình từ tuyển sinh SP đến năm đầu đi dạy phổ thông Những điểm này giúp cho nhà hoạch định chính sách tạo ra bộ lọc đánh giá giáo viên mới vào nghề Như đã nói ở trên con đường ĐTGV phải được xem như một hệ thống hoàn chỉnh chứ không phải là

Trang 10

các khâu riêng biệt Kỳ thi tuyển sinh khó sẽ dẫn đến tỷ lệ thất bại cao trong số học sinh tốt nghiệp từ các khóa học phổ thông chất lượng thấp, cung cấp động lực cải thiện các chương trình nhằm đảm bảo việc dạy học sinh được chuẩn bị tốt hơn Ngược lại, thiết lập chuẩn tuyển sinh cao vào SP chỉ hoạt động để sàng lọc thí sinh chứ không cải thiện chất lượng chương trình đào tạo Các giải pháp lựa chọn cải cách ở mỗi bước là:

4.1 Lựa chọn tuyển vào chương trình đào tạo giáo viên

Nâng cao chuẩn nhập học chỉ hấp dẫn về mặt chính trị vì tính đơn giản của nó Mặc

dù khả năng học tập là quan trọng, việc tập trung vào điểm số đầu vào tối thiểu ngành SP không giải quyết được những gì xảy ra sau khi nhập học, cụ thể là chất lượng đào tạo Hơn nữa, các cách làm này có thể tác động tiêu cực với thông điệp cho rằng tất cả vấn đề tồn tại

là do chất lượng thí sinh chứ không phải do chất lượng khóa học Nâng cao chuẩn nhập học cũng tác động đến tính đa dạng của nghề dạy học Học sinh từ các hoàn cảnh kinh tế xã hội

đa dạng và thấp bị ảnh hưởng không cân xứng bởi các điểm cắt giảm nhập học do họ đạt điểm trung bình thấp hơn Những người này có thể bị loại khỏi nghề dạy học mặc dù họ có thể phát triển các kỹ năng cần thiết trong quá trình ĐTGV của họ

Vấn đề thu hút, hấp dẫn của ngành sư phạm: Chuẩn nhập học chỉ là hình thức tuyển sinh,

nhưng việc tự lựa chọn ngành SP lại là đòn bẩy mạnh mẽ khác Nếu dạy học trở thành nghề thực sự được tôn trọng sẽ cho phép hút sinh viên giỏi vào học SP Nhiều hệ thống hiệu suất cao

có yêu cầu tuyển đầu vào SP cao cũng làm cho việc dạy học trở thành nghề rất hấp dẫn Nhưng việc trả lương cao cho ngành sư phạm là yếu tố tốt Tại Nhật Bản, cơ sở ĐTGV quy định xét nhập học là phải hoàn thành chương trình phổ thông trung học và xem xét điểm số học bạ Có thể cũng nhập học dựa trên điểm trắc nghiệm do Trung tâm Quốc gia Tuyển sinh đại học hay

kỳ thi tuyển sinh của từng trường tổ chức Ở Ba Lan, các yêu cầu tối thiểu để vào học sư phạm

là phải hoàn thành chương trình phổ thông trung học Tuy nhiên, cơ sở ĐTGV được phép đặt riêng trọng số cho các đối tượng cụ thể Ở Phần Lan cơ sở ĐTGV cũng thiết lập yêu cầu riêng cho nhập học Dạy học ở Phần Lan là nghề hấp dẫn rất cao (chỉ có 1/10 thí sinh thường được trúng tuyển ngành giáo dục tiểu học và tỷ lệ 1/4 vào học sư phạm nói chung) Đối với giáo dục tiểu học có hai giai đoạn tuyển vào ĐTGV Đầu tiên thu hẹp lượng thí sinh dựa trên kết quả thi trúng tuyển cũng như các thành tích ngoài trường và điểm học bạ trung học Vòng xét thứ hai thường liên quan đến cuộc phỏng vấn, bài kiểm tra viết về sư phạm và quan sát lâm sàng tình huống nhân rộng kịch bản lớp học Trọng số yêu cầu là do từng trường ấn định

Chỉ tiêu tuyển sinh sư phạm là giải pháp tiếp cận mang tính mục tiêu hơn là tăng chuẩn

tuyển sinh và có thể tránh nguy cơ gây ra thiếu hụt Tuy nhiên, để có hiệu quả chỉ tiêu phải liên tục điều chỉnh theo nhu cầu về các loại giáo viên khác nhau, đòi hỏi dữ liệu lập kế hoạch nơi làm việc, mà không phải luôn có sẵn

4.2 Đầu ra của đào tạo giáo viên

Chuẩn đầu ra là cách hữu ích để tập trung chú ý vào chất lượng tốt nghiệp thay vì chất lượng đầu vào nhập học, nhưng chuẩn đầu ra cũng gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng của

Ngày đăng: 18/01/2021, 13:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w