Các khiếm khuyết này khiến cho Bộ luật Dân sự năm 2015 khó có thể đạt được mục tiêu điều chỉnh đặt ra, và có ba nguyên nhân chủ yếu: (1) sự bất hòa đồng giữa ý tưởng chính trị - pháp [r]
Trang 1CẢI CÁCH CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN NHẰM ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU
PGS TS Ngô Huy Cương
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt
Hiến pháp năm 2013 được thông qua và công bố bắt đầu cho một quá trình cải cách pháp luật ở Việt Nam Tuy nhiên kết quả của công cuộc cải cách này đang làm phát sinh ra sự cần thiết cải cách ngay những vấn đề vừa cải cách, nhất là đối với chế định vật quyền
Bộ luật Dân sự năm 2015 (kết quả của công cuộc cải cách vừa qua) đã khước từ một cách thiếu chín chắn việc sử dụng thuật ngữ vật quyền để xây dựng tên gọi ―Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản‖ cho Phần thứ hai của Bộ luật này Đây không phải đơn thuần là vấn đề sử dụng thuật ngữ, mà chính là vấn đề của nhận thức không đầy đủ và
là việc tự gây mâu thuẫn trong nội tại của chính Bộ luật này Bộ luật Dân sự năm 2015 xây dựng nguyên tắc vật quyền xác định, nhưng đã không xác định tương đối đủ các quyền trên vật của người khác trong khi các quyền này luôn luôn có khuynh hướng chống lại quyền của chủ sở hữu Các khiếm khuyết này khiến cho Bộ luật Dân sự năm 2015 khó
có thể đạt được mục tiêu điều chỉnh đặt ra, và có ba nguyên nhân chủ yếu: (1) sự bất hòa đồng giữa ý tưởng chính trị - pháp lý của truyền thống Sovietique Law với nhu cầu điều chỉnh các quan hệ của kinh tế thị trường chưa được giải quyết; (2) kỹ thuật pháp lý xuất phát từ Luật La Mã cổ đại được xây dựng trên nền tảng tư hữu không thể hòa đồng với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; (3) những người soạn thảo và thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa nắm vững kiến thức cơ bản về luật dan sự
Có ba khó khăn chủ yếu cho việc cải cách chế định vật quyền ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Quan niệm về sở hữu của truyền thống Sovietique Law; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; và nhận thức chưa đầy đủ về kỹ thuật pháp lý Nhiều yêu cầu của đời sống xã hội hiện đại đang thúc bách cải cách chế định vật quyền như: xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hội nhập quốc tế; tư nhân hóa; tích tụ ruộng đất; và theo đuổi Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; …
Để cải cách chế định này phù hợp với các yêu cầu của đời sống xã hội hiện đại, các định hướng và giải pháp chủ yếu sau không thể không xem xét tới: cải cách chế độ sở hữu đất đai; hoàn thiện chế chế định vật quyền về mặt kỹ thuật pháp lý
Bài viết này nằm trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QG.19.56 mang tên ―Cải cách pháp luật dân sự đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam‖
Trang 2Mở đầu
Hiến pháp năm năm 2013 được thông qua và công bố đã mở đầu cho một thời kỳ cải cách pháp luật ở Việt Nam dù rằng còn nhiều vấn đề vẫn cần tiếp tục nghiên cứu Bản Hiến pháp này khẳng định sự tôn trọng quyền con người, chế độ dân chủ, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, tập quyền xã hội chủ nghĩa nghiêng về lập pháp nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các ngành quyền lực, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, tài nguyên thiên nhiên và tư pháp độc lập957… Coi
đó như một nền tảng, hàng loạt các đạo luật trong cả khu vực luật công và khu vực luật tư được sửa đổi, bổ sung và nhiều đạo luật được làm mới để phù hợp với các tư tưởng mới của bản Hiến pháp này
Sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 và nhiều đạo luật quan trọng khác đã được ban hành, Việt Nam bắt đầu nêu rõ quyết tâm theo đuổi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
mà được thể hiện rõ nét nhất trong một loạt các hoạt động của Quốc hội và Chính phủ Điển hình trong số đó là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 khẳng định một khâu trong đột phá chiến lược là ―Hoàn thiện thể chế về phát triển, cung ứng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, giáo dục và đào tạo, để tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế‖ (điểm 2.2)
Sự thay đổi trong tư duy chiến lược như vậy cộng thêm với những khiếm khuyết trong quá trình cải cách pháp luật vừa diễn ra khiến pháp luật Việt Nam nói chung và chế định vật quyền trong đó nói riêng cần một lần nữa xem xét lại với tinh thần cải cách
Pháp luật về tài sản phản ánh những giá trị xã hội quan trọng958
và vật quyền thường được xem là phạm vi truyền thống của luật tài sản959
cho thấy việc cải cách chế định vật quyền có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên công cuộc cải cách này lệ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai Khi nghiên cứu về chế độ sở hữu đất đai (một vấn đề vật quyền) ở Trung Quốc, có nhận định rằng chế độ này sẽ giữ vai trò chủ chốt trong việc làm biến đổi cơ cấu hiện tại mà đang chuyển Trung Quốc từ một xã hội nông nghiệp và nông thôn chiếm ưu thế sang một xã hội thành thị và công nghiệp960
Dwight H Perkins, ―China‘s Land System: Past, Present, and Future‖, Property Rights and Land Policies, Edited by
Gregory K Ingram and Yu-Hung Hong, Proceedings of the 2008 Land Policy Conference, The Lincoln Institute of Land Policy, 2009, p 70
Trang 3và nông dân, thành thị và nông thôn961 Gần đây Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh ―Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước‖962
với một trong các giải pháp chủ yếu là
―Quy hoạch bố trí lại dân cư nông thôn gắn với việc quy hoạch xây dựng công nghiệp, dịch
I Khái quát chế định vật quyền trong pháp luật Việt Nam và những khiếm khuyết lớn liên quan
Trước khi người Pháp xâm chiếm và đem pháp luật của Pháp áp đặt vào, Việt Nam không có cách thức tư duy pháp lý, kỹ thuật pháp lý (nhất là cách thức phân loại pháp luật) như truyền thống Civil Law mà phụ thuộc vào truyền thống pháp luật Viễn Đông964 Do đó chế định vật quyền là một chế định du nhập theo ngành luật dân sự từ Pháp Các qui định về vật quyền được tìm thấy rất rõ trong các Bộ luật Dân sự dưới các chế độ cũ theo mô hình Pháp như: Bộ luật Dân sự giản yếu năm 1883 (áp dụng ở Nam Kỳ)965, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 và Bộ luật Dân sự của Việt Nam Cộng hòa năm 1972 Chẳng hạn: Điều thứ 449 của Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931 qui định ―Bất động sản có ba thứ, hoặc bởi tính chất của nó, hoặc bởi mục đích của nó, hoặc bởi quyền sở dụng về cớ gì‖ Loại bất động sản thứ ba nêu trên được giải thích là những vật quyền bao gồm quyền sở hữu, quyền hưởng lợi, quyền dùng và ở, quyền cho thuê dài hạn, quyền địa dịch, quyền cầm cố bất động sản, quyền để đương và quyền đi kiện đòi lại một bất động sản (Điều thứ 453) Đối với động sản, Bộ luật này qui định bao gồm hai loại chính là ―động sản do tính chất‖ và ―động sản vì pháp luật chỉ định‖ (Điều thứ 454 và Điều thứ 455) Loại động sản thứ hai này bao gồm các vật quyền trên động sản, các tố quyền để đòi lại hay truy tìm một động sản, các trái quyền và quyền sở hữu trí tuệ (Điều thứ 455) Theo sát quan niệm này và cũng có cách thức thể hiện rất ít thay đổi, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 phân loại bất động sản
và động sản giống hoàn toàn Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1936 thể hiện tại các Điều thứ 460
961
Đỗ Mười, Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 110
962
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Khóa X về Nông
nghiệp, Nông dân và Nông thôn số 26- NQ/TW ngày 05/8/2008, điểm 1, Mục II
963
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Khóa X về Nông
nghiệp, Nông dân và Nông thôn số 26- NQ/TW ngày 05/8/2008, điểm 2, Mục I
964
Xem thêm Ngô Huy Cương, ―Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam‖ (tr 95 – 115), Ảnh hưởng của
truyền thống pháp luật Pháp tới pháp luật Việt Nam, Sách chuyên khảo, Đồng chủ biên: Arnaud De Raulin, Jean-Paul
Pastorel, Trịnh Quốc Toản, Nguyễn Hoàng Anh, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, 2016
Trang 4và Điều thứ 465 Bộ luật Dân sự năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa cũng được pháp điển hóa theo mô hình này nhưng có những cải cách nhất định về thuật ngữ pháp lý sử dụng cho các loại bất động sản và động sản mà được thể hiện rất rõ qua Điều thứ 363 và Điều thứ 370 Kỹ thuật viết văn bản của Bộ luật Dân sự năm 1972 này có bước tiến triển rõ rệt cả về bố cục liên quan tới kỹ thuật pháp lý và phong cách thể hiện ngắn gọn, rõ ràng hơn, tuy nhiên vẫn kế thừa
và tôn trọng nền lập pháp trước đó
Sau khi thống nhất đất nước (1975), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: ―Xây dựng hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể chế hóa bằng đạo luật cơ bản của Nhà nước, quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động, dựa trên cơ sở liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng‖ Bằng chỉ dẫn này, pháp luật Việt Nam thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ của tổ quốc966
khẳng định sự theo đuổi truyền thống Sovietique Law nơi mà ngành luật dân sự bị tầm thường hóa so với ngành luật kinh tế truyền thống của chủ nghĩa xã hội Vào nửa đầu của thập kỷ 90 ngay sau đó, nền lập pháp của Việt Nam được làm nóng lên bởi chủ trương đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường và chính sách mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài làm phát sinh ra nhu cầu xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp trên nền tảng truyền thống Sovietique Law được du nhập vội vã trong chiến tranh và thời kỳ đầu thống nhất đất nước967 Trong bối cảnh đó, một loạt các đạo luật trong lĩnh vực luật tư ra đời trong đó có Bộ luật Dân sự năm 1995 mà là một bộ luật thay đổi hoàn toàn về kiểu loại pháp điển hóa và đầy rẫy những quan niệm khác biệt so với các Bộ luật Dân sự trước đó của Việt Nam Là một hiệu ứng (effect) tất yếu của một nền tảng xã hội bị xáo trộn và sự thiếu nghiên cứu có tính chất nền tảng, cứ mười năm sau đó Việt Nam lại có một Bộ luật Dân sự mới kế thừa những khiếm khuyết lớn của Bộ luật Dân sự này
Trước hết, các Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đều không pháp điển hóa theo mô hình của Pháp nữa mà theo trường phái pháp điển hóa hiện đại (Pandectists) Tuy nhiên việc pháp điển hóa này còn xa mới đạt tới trình độ pháp điển hóa cao như Bộ luật Dân sự Đức năm 1900 & 2002, Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm
2005, Bộ luật Dân sự Đài Loan năm 1983 mà trong đó có dành riêng một quyển để nói về các vật quyền, có nghĩa là nói về mối quan hệ giữa người và vật có tính chất kinh tế Bộ luật Dân
sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đều lảng tránh thuật ngữ vật quyền và có Phần thứ hai (Quyển II) nói về tài sản giống với Bộ luật Dân sự Pháp năm
1804 Sự lai tạp ngoài dự tính này có lẽ bắt nguồn từ sự thiếu nghiên cứu sâu sắc Tuy nhiên khi Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015 được trình ra Quốc hội, Chính phủ có kiến nghị về tên gọi và những nội dung chủ yếu của Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự tương lai như sau:
―Phần thứ hai: Quyền sở hữu và các vật quyền khác (từ Điều 178 đến Điều 301) quy định về căn cứ xác lập và thời điểm xác lập quyền sở hữu, các vật quyền khác và hiệu lực đối
966
Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Khoa Luật, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp
luật Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997, tr 307
967 Nguyễn Như Phát, ―Một số vấn đề lý luận về luật kinh tế‖ (tr 9 – 34), Giáo trình luật kinh tế Việt Nam, Đồng chủ biên:
Phạm Duy Nghĩa và Nguyễn Như Phát, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001, tr 11
Trang 5kháng với người thứ ba; bảo vệ, hạn chế quyền sở hữu và các vật quyền khác; quyền sở hữu, quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền ưu tiên‖968
Rất đáng tiếc, Quốc hội đã không chấp nhận các kiến nghị này và thông qua Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự 2015 với tên gọi là ―Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản‖
và với các nội dung bao gồm các nguyên tắc chung và bốn vật quyền chính yếu như quyền sở hữu, quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt Cả Dự thảo và
Bộ luật Dân sự năm 2015 đều tách các vật quyền phụ thuộc bao gồm cầm cố và thế chấp ra khỏi Phần thứ hai này để qui định trong Phần thứ ba nói về nghĩa vụ và hợp đồng Tại đây cầm cố và thế chấp được qui định chung với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác như bảo lãnh, bảo lưu quyền sở hữu, đặt cọc… Tại kết cấu nội dung này của Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể nhận thấy hai khiếm khuyết lớn một cách dễ dàng
Khiếm khuyết thứ nhất: Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khước từ một cách thiếu chín
chắn việc sử dụng thuật ngữ vật quyền để xây dựng tên gọi ―Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản‖ cho Phần thứ hai của Bộ luật này Đây là việc làm tự gây mâu thuẫn trong nội tại của Bộ luật Tài sản là một thuật ngữ diễn đạt một khái niệm rộng hơn khái niệm vật nếu nhìn từ góc độ Bộ luật Dân sự theo mô hình Đức Điều 105, khoản 1 của Bộ luật này định nghĩa: ―Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản‖, trong khi đó toàn bộ Phần thứ hai của Bộ luật này chỉ nói về vật quyền mà vật ở đây với tính cách là các vật thể vật chất (đồ vật)
dù rằng có thể bao gồm cả sóng điện từ do con người chế ngự được đem vào sử dụng Bản thân Bộ luật này khi qui định về phân loại vật từ Điều 110 tới Điều 114 luôn xem vật là các
đồ vật đơn thuần
Khiếm khuyết thứ hai: Theo Civil Law, Bộ luật Dân sự năm 2015 xây dựng nguyên tắc
vật quyền xác định Điều 160, khoản 1 của Bộ luật này tuyên bố: ―Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định‖ Thế nhưng Bộ luật này đã không xác định tương đối đủ các quyền trên vật của người khác trong khi các quyền này luôn luôn có khuynh hướng chống lại quyền của chủ sở hữu Điều 159, khoản 2 của Bộ luật này qui định về các quyền trên tài sản của người khác chỉ bao gồm: quyền đối với bất động sản liền kề; quyền hưởng dụng, quyền bề mặt Như vậy điều luật này đã không xem ―quyền sử dụng đất‖ mà được xây dựng thành một quyền khác biệt với quyền hưởng dụng là vật quyền, đồng thời cũng không xem cầm cố, thế chấp hay một số quyền đặc ưu có bản chất là vật quyền, chưa kể tới quyền lưu cư được qui định tại Điều 63 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Các khiếm khuyết này khiến cho Bộ luật Dân sự năm 2015 khó có thể đạt được mục tiêu điều chỉnh đặt ra là: ―Tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm sự thông thoáng, ổn định trong giao lưu dân sự, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa‖969
Nguyễn Ngọc Điện bàn về ý nghĩa kinh tế của vật quyền rằng trong quá trình phát
Trang 6triển kinh tế thị trường, đặc biệt là quá trình đô thị hóa khi mật độ dân số tăng lên khiến cho quyền sở hữu trọn vẹn đối với bất động sản trở nên quá đắt đỏ và khó tiếp cận, thì lý thuyết vật quyền cho phép ―cắt vụn‖ quyền sở hữu thành những quyền riêng biệt đáp ứng những nhu cầu riêng biệt với giá cả hợp lý970 Nếu xét trong bối cảnh những người soạn thảo Bộ luật Dân
sự năm 2015 không muốn tiếp nhận lý thuyết vật quyền thì những lập luận này có ích lợi nhất định trong việc thuyết phục họ Nhưng nếu xét từ nguồn gốc của kỹ thuật pháp lý vật quyền
và sự cần thiết điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh một cách khách quan thì những lập luận như vậy chưa đủ sức bao quát Từ thời La Mã cổ đại, người ta đã có quan niệm về vật quyền và sự phân loại chúng thành quyền trên vật của mình và quyền trên vật của người khác
(iura in re aliena - rights in rem over other man‘s property) xuất phát từ những tình huống
bình thường trong cuộc sống971, dù rằng đất đai, bất động sản, vấn đề đô thị hóa hay kinh tế thị trường không phải là sức ép, chưa kể đến động sản và bản thân người nô lệ Ở truyền thống Common Law khi nghiên cứu về servitudes người ta thường nhắc tới easements và covenants, là những bất động sản do dụng đích trừu tượng (metaphysical fixtures) gắn với và chuyển giao cùng bất động sản (realty)972 Theo Common Law, quyền địa dịch (easements) là một quyền vô hình trên một thửa đất được xem như địa sản thừa dịch (servient tenement), mà được tạo lập cho lợi ích của một thửa đất khác gọi là địa sản hưởng dịch hay yếu dịch địa (dominant tenement)973 Common Law phân loại bất động sản do dụng đích (fixtures), đất (land) và động sản (chattels) theo những đặc điểm riêng của chúng và đề cập tới bản chất của
đồ vật (object) và các quyền (rights) thiết lập trên vật đó974 Truyền thống Civil Law phân loại vật quyền theo cách thức phân loại từ thời La Mã cổ đại Các quyền trên tài sản của người
khác (iura in re aliena) được Justinian gọi là dịch quyền (servitudes), rồi tới lượt nó được chia
thành hai loại là dịch quyền thuộc vật (praedial servitudes) và dịch quyền thuộc người (personal servitudes)975 Do đó việc xây dựng thuật ngữ ―quyền đối với bất động sản liền kề‖ thay cho thuật ngữ ―địa dịch‖ là chưa phản ánh được nguồn gốc của kỹ thuật pháp lý này, chưa kể tới sự thiếu phù hợp với các dịch quyền công
Vẫn theo tư duy về sở hữu của truyền thống Sovietique Law, Hiến pháp năm 2013 cũng như Bộ luật Dân sự năm 2015 đều nhầm lẫn giữa tài sản chung và tài sản công Hiến pháp năm 2013 qui định: ―Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý‖976
Theo quan niệm tất cả những gì thuộc chủ quyền hay quyền tài phán quốc gia đều là tài sản công, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sao chép nguyên văn qui định trên của Hiến pháp năm
Trang 72013 vào Điều 197 để qui kết đó là hình thức sở hữu toàn dân Luật La Mã cổ đại dựa vào tài sản có thuộc sở hữu tư hay không để phân loại tài sản thành: tài sản chung (res communes)
bao gồm không khí, nước chảy, biển… không thể thuộc sở hữu của bất kỳ ai, chung cho tất cả
mọi người hưởng thụ, và tài sản công (res publicae) thuộc về nhà nước như đường xá, cầu
cống, bến cảng công…977 Trên căn bản đó, luật dân sự của Québec (Canada) xem các vật thể vật chất là tài sản chung không phụ thuộc vào sự chiếm giữ (occupation) dù rằng pháp luật có thể qui định về việc sử dụng chúng978 Bộ luật Dân sự Louisiana cũng phân loại tài sản thành tài sản chung (common things), tài sản công (public things) và tài sản tư (private things) trước khi phân loại tài sản thành hữu hình (corporeals), vô hình (incorporeals), bất động sản (immovables) và động sản (movables)979 Những người tham gia soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 1995 (Bộ luật Dân sự đầu tiên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) nhận thức:
―Tuy nhiên, nghiên cứu các Bộ luật của các nước tư bản, chúng ta thấy vấn đề về chế
độ và hình thức sở hữu không được qui định một cách rõ ràng mà chỉ có những chế định pháp
lý nhằm thực hiện nguyên tắc sở hữu tư nhân là thiêng liêng và bất cả xâm phạm, thực chất là bảo vệ quyền sở hữu của giai cấp tư sản đối với tư liệu sản xuất‖980
Suy cho cùng, bản chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa là cách mạng về sở hữu Theo
lý giải của những người Marxists, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra do mẫu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa cao với tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản981 Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng đó và diễn giải đơn giản tại một lớp hướng dẫn giáo viên cấp II, cấp III rằng ―Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng,v.v làm của chung‖982 Đó là lý do tại sao các Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 rất chú trọng và bàn cãi không dứt về cái gọi
là các hình thức sở hữu trong khi để xây dựng chế định vật quyền có lẽ người ta phải xuất phát từ những câu hỏi quan trọng rằng: Với một vật là bất động sản hay động sản, người ta có thể thiết lập những quyền gì trên đó? Ai có thể bị hạn chế, và bị hạn chế như thế nào và trong điều kiện nào? Trên cơ sở đó Bộ luật Dân sự có nhiệm vụ xây dựng qui chế pháp lý cụ thể cho các loại tài sản chung, tài sản công, tài sản tư, tài sản vô chủ…
Nội dung của quyền sở hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 là một vấn đề gay cấn, mang lại nhiều tranh luận và thực tế gây mâu thuẫn nhất trong các qui định về vật quyền của pháp luật Việt Nam hiện nay Bộ luật này qui định tại Điều 158 như sau: ―Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy
John E C Brierley, Roderick A Macdonald, Quebec Civil Law – An Introduction to Quecbec Private Law, Edmond
Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p 278
979
Louisiana Civil Code, Article 448
980
Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 82
981
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (Dành cho sinh viên đại học,
cao đẳng khối không chuyên ngành Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2014, tr 379
982 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên
ngành Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2016, tr 100
Trang 8định của luật‖ Theo quan niệm sở hữu này, các quyền được qui định bởi nhận thức đơn giản như sau: quyền chiếm hữu là quyền kiểm soát và làm chủ một vật nào đó của một chủ sơ hữu; quyền sử dụng là quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản; còn quyền định đoạt là quyền năng của chủ sở hữu quyết định về số phận của vật983 Thế nhưng quan niệm theo truyền thống Sovitique Law này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa nội dung của quyền sở hữu như vậy với quyền hưởng dụng, và mâu thuẫn giữa quyền hưởng dụng với quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam hiện nay Quyền hưởng dụng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 là quyền được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định984 Quyền hưởng dụng là một quyền mới được qui định mà trước đây các Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa có Sự qui định thiếu ăn khớp giữa quyền hưởng dụng và quyền sỡ hữu là do các qui định về nội dung của quyền sở hữu đị chệch khỏi truyền thống Civil Law trong khi quyền hưởng dụng lại được kế thừa từ đó Theo Civil Law kế thừa từ Luật La Mã cổ đại, quyền sở hữu bao gồm ba quyền là
quyền sử dụng (usus); quyền hưởng hoa lợi (fructus) và quyền định đoạt (abusus)985 Quyền hưởng dụng được xem là quyền lớn nhất của một người được hưởng trên tài sản của người khác kéo dài trong phạm vi không quá một đời người Quyền này bao gồm quyền sử dụng
(usus) và quyền hưởng hoa lợi (fructus)986 Nội dung của quyền sở hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 Việt Nam như trên đã nói không tách quyền hưởng hoa lợi thành một nhánh riêng Bản thân quyền sử dụng nằm trong nội dung của quyền sở hữu theo pháp luật Việt Nam đã
bao gồm cả quyền sử dụng (usus) và cả quyền hưởng hoa lợi (fructus) rồi987 Có lẽ để giải quyết mâu thuẫn giữa quan niệm về nội dung quyền sở hữu theo Sovietique Law và sự cần thiết xây dựng chế định quyền hưởng dụng do đòi hỏi của kinh tế thị trường, Luật Vật quyền năm 2007 của Trung Quốc qui định nội dung của quyền sở hữu bao gồm bốn quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi và quyền định đoạt988 Vẫn trung thành với quan niệm của truyền thống Sovietique Law, Luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam mang bản chất là một đạo luật thiết lập và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và thiết kế việc trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất Điều 4 của đạo luật này qui định: ―Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo qui định của Luật này‖ Quyền sử dụng đất ở Việt Nam
có bản chất là quyền hưởng dụng trên những thửa đất cụ thể xét theo quan niệm Civil Law về nội dung quyền sở hữu Như vậy cũng là một vấn đề pháp lý nhưng được sử dụng hai thuật ngữ pháp lý khác nhau trong hệ thống pháp luật Việt Nam Thậm chí ngay trong Bộ luật Dân
sự năm 2015 sử dụng cả hai thuật ngữ này: Phần thứ hai, Chương XIV, Mục 2 sử dụng thuật
Đồng quan điểm giải thích với tác giả bài viết này có Giáo trình luật dân sự của Học viện Tư pháp xuất bản tại Nxb Công
an nhân dân năm 2007, xem tr 229
988 Real Right Law of the People's Republic of China (Adopted at the 5th session of the Tenth National People's Congress on March 16, 2007) Article 39
Trang 9ngữ quyền hưởng dụng, trong khi đó Phần thứ ba, Chương XVI, Mục 7 lại sử dụng thuật ngữ quyền sử dụng
Quyền bề mặt theo Bộ luật Dân sự năm 2015 là ―quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất
đó thuộc về chủ thể khác‖989 Quyền này không được qui định trước đây trong các Bộ luật Dân sự của Việt Nam, kể cả dưới các chế độ cũ Bộ luật Dân sự Nhật Bản nói về nội dung của quyền bề mặt (superficies) như sau: ―Người được hưởng quyền bề mặt có quyền sử dụng đất của người khác để sở hữu các công trình, hoặc cây cối, hoặc tre, trên đất đó‖990 So sánh với các qui định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản, có thể thấy khái niệm quyền bề mặt nói trong Bộ
luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam có hai điểm rất đáng băn khoăn: thứ nhất, mục đích của người được hưởng quyền bề mặt không được đề cập tới; và thứ hai, người cấp quyền bề mặt
không phải là chủ sở hữu đất mà chỉ là người có quyền sử dụng đất Khi nói về quyền bề mặt, John E C Brierley và Roderick A Macdonald cho rằng quyền bề mặt do hành vi chuyển nhượng mà bởi nó quyền sở hữu đất được tách biệt với quyền sở hữu các công trình đang tồn tại hoặc được xây dựng bởi người được hưởng quyền bề mặt991
Cầm cố và thế chấp theo Bộ luật Dân sự năm 2015 không được xem là các vật quyền
và chúng chỉ khác nhau ở chỗ tài sản đem ra bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự có được chuyển giao thực tế cho chủ nợ hay không Trong cầm cố, bên cầm cố phải chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho chủ nợ để bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự992 Đối với thế chấp, bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của mình cho chủ nợ993 Các qui định này không cho phép chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm cho bên thứ ba Mặc dù tài sản thế chấp không cần phải chuyển giao quyền chiếm hữu cho chủ nợ, nhưng Điều 320, khoản 1 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có qui định nếu các bên
có thỏa thuận thì bên thế chấp phải giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ nợ Trên thực tế, các chủ nợ luôn luôn chiếm ưu thế trong mối quan hệ, nên hầu hết các trường hợp họ đều buộc bên thế chấp chuyển giao cho họ các giấy tờ liên quan tới tài sản Như vậy cầm cố và thế chấp khó có thể được phân biệt bởi chúng đều có thể xác lập trên cả động sản
và bất động sản994
Qui định có tính chất gợi ý về việc chuyển giao giấy tờ liên quan tới tài sản thế chấp cho chủ nợ như nói ở trên khiến cho nguyên tắc một tài sản có thể bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ được Bộ luật Dân sự năm 2015 qui định995
trở nên rất khó khăn
Bộ luật này còn tỏ ra mâu thuẫn trong việc định ra nguyên tắc giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm996, nhưng lại qui định khi một tài sản bảo đảm cho nhiều khoản nợ thì tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm, giá trị tài sản phải
John E C Brierley, Roderick A Macdonald, Quebec Civil Law – An Introduction to Quecbec Private Law, Edmond
Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p 297
Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 310, khoản 2; Điều 318
995 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 296, khoản 1
996
Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 295, khoản 4
Trang 10lớn hơn tổng giá trị các khoản nợ được bảo đảm997 Trong khi đó Bộ luật này lại có qui định nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hay toàn bộ theo thỏa thuận của các bên998
Những khiếm khuyết lớn này có thể xuất phát từ ba nguyên nhân chủ yếu Nguyên
nhân thứ nhất là sự bất hòa đồng giữa ý tưởng chính trị - pháp lý của truyền thống Sovietique
Law với nhu cầu điều chỉnh các quan hệ của kinh tế thị trường chưa được giải quyết Nguyên
nhân thứ hai là sự không thể hòa đồng giữa kỹ thuật pháp lý xuất phát từ Luật La Mã cổ đại
được xây dựng trên nền tảng tư hữu với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Nguyên nhân thứ
ba là những người soạn thảo và thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa nắm vững kiến thức
dân luật cơ bản
II Những khó khăn chủ yếu của việc xây dựng chế định vật quyền cải cách trong pháp luật Việt Nam hiện nay
1 Ở Việt Nam, các học giả xã hội chủ nghĩa quan niệm theo chủ nghĩa Marx – Lenin
rằng sở hữu là một quan hệ xã hội luôn vận động và phát triển theo lịch sử, và vừa là một phạm trù kinh tế, vừa là một phạm trù pháp lý999 Có lẽ vì vậy khi qui định về tài sản nói chung và vật quyền nói riêng, các Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005, thậm chí Bộ luật Dân sự năm 2015 (sau đây gọi là các Bộ luật Dân sự xã hội chủ nghĩa) đều xuất phát từ góc nhìn của kinh tế chính trị Marx - Lenin Các học giả của Bộ Tư pháp (cơ quan soạn thảo các Bộ luật Dân sự xã hội chủ nghĩa) dựa trên các lập luận sâu của họ về vấn đề sở hữu như sau để xây dựng các Bộ luật này:
―Quan hệ sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ giữa người đối với vật, mà trước hết là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội Khi nghiên cứu về sở hữu không thể không nghiên cứu về đối tượng sở hữu, nhưng đối tượng sở hữu này không đứng độc lập và không chịu sự tác động của một chủ sở hữu, mà nó còn chịu sự tác động của con người với con người xoay quanh hạt nhân là đối tượng sở hữu Con người cũng không chỉ đơn thuần nắm giữ của cải vật chất (đối tượng sở hữu thuộc về ai), mà vấn đề là sự vận động của đối tượng sở hữu này trong tay những người chiếm hữu nó (sử dụng nó như thế nào, định đoạt nó ra sao…) để nó đem lại lợi ích cho chủ sở hữu Điều này có nghĩa là không thể điều chỉnh các quan hệ sở hữu ở trạng thái tĩnh, mà phải điều chỉnh các quan hệ sở hữu ở trạng thái động‖1000
Từ đó họ đưa ra định nghĩa có tính cách học thuật về sở hữu rằng: ―Sở hữu được hiểu
là yếu tố cơ bản trải lên toàn bộ quan hệ sản xuất, bao gồm không chỉ quan hệ giữa người với người về vật, mà là quan hệ giữa họ về mặt tổ chức sản xuất – kinh doanh, về mặt chi phối đối
997
Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 296, khoản 1
998
Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 293, khoản 1
999 Xem Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập I) – Phần thứ nhất: Những
qui định chung; Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu, Chủ biên bởi PGS TS Hoàng Thế Liên, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2008, tr 349; Xem Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự, Hà Nội, 1995, tr 116 – 119
1000
Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập I) – Phần thứ nhất: Những qui
định chung; Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu, Chủ biên bởi PGS TS Hoàng Thế Liên, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2008, tr 349 - 350
Trang 11với lợi ích kinh tế do sự chiếm hữu tài sản tạo ra‖1001, hoặc được diễn đạt theo một cách khác rằng: ―Sở hữu được hiểu chính là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (ngày nay còn gồm cả những tư liệu sản xuất) của xã hội loài người‖1002 Quyền sở hữu thậm chí được nhận thức là hình thức chiếm hữu nhất định về tư liệu sản xuất và của cải vật chất được tạo ra bởi tư liệu sản xuất đó1003
Từ những lập luận về trạng thái động của quan hệ sở hữu, vai trò cốt yếu của chiếm hữu tài sản và người thụ hưởng các lợi ích từ tài sản, chế định quyền sở hữu trong các Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và thậm chí phần nào đấy Bộ luật Dân sự năm
2015 ―có cả các qui định về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản‖1004
Như vậy các Bộ luật Dân sự xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đã đi ra ngoài khuôn khổ pháp lý, có nghĩa là không nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế bằng các giải pháp pháp lý, mà trực tiếp nói tới các vấn đề kinh tế dưới dạng các điều luật Vì vậy kỹ thuật pháp lý bị phớt lờ, hay nói cách khác, không được coi trọng, cho nên đã dẫn đến các khiếm khuyết nghiêm trọng
về kỹ thuật pháp lý Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa các Bộ luật Dân sự xã hội chủ nghĩa của Việt Nam với các Bộ luật Dân sự theo truyền thống Civil Law được xây dựng dưới các chế độ cũ ở Việt Nam
Các hệ quả về mặt kỹ thuật pháp lý kéo theo từ các nhận thức trên là luôn luôn xem chiếm hữu là một nội dung quan trọng, không thể thiếu của quyền sở hữu Quan niệm này vẫn đang còn chi phối Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Nga năm 1994 Điều 209 nói về nội dung của quyền sở hữu của Bộ luật này có khoản 1 qui định ―Chủ sở hữu có các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình‖ Đây là một hình mẫu để thiết kế nên các qui định nói về nội dung của quyền sở hữu trong các Bộ luật Dân sự xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Quan niệm về quyền sở hữu như vậy và việc không có quan niệm một cách đầy đủ về các vật quyền khác có lẽ xuất phát từ đề cao tới mức cực đoan về sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với hầu hết các của cải quan trọng nhất trong xã hội – đó là các tư liệu sản xuất Hiện nay Luật Vật quyền năm 2007 của Trung Quốc vẫn qui định thống trị của hình thức sở hữu nhà nước tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam đã xem kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Điều 51, khoản 1 Sở hữu nhà nước được quan niệm như một phạm trù kinh tế, là hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất và được xác định là hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa triệt để hơn tất cả các hình thức sở hữu khác như sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể1005 Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa truyền
1001
Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập I) – Phần thứ nhất: Những qui
định chung; Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu, Chủ biên bởi PGS TS Hoàng Thế Liên, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2008, tr 350
1002
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam (Tập I), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, tr 173
1003 Lương Minh Cừ, Vũ Văn Thư, Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiên nay – Một số nhận thức về lý luận và
thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 121
1004
Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập I) – Phần thứ nhất: Những qui
định chung; Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu, Chủ biên bởi PGS TS Hoàng Thế Liên, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2008, tr 350
1005
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Hà Nội, 1995, tr 140
Trang 12thống, tầng lớp thương nhân bị thủ tiêu vì chế độ công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất Các
xí nghiệp công nghiệp quốc doanh là đơn vị kinh tế cơ sở của chủ nghĩa xã hội chỉ có quyền quản lý nghiệp vụ với tài sản xã hội chủ nghĩa Quyền quản lý nghiệp vụ này được xem là một vật quyền1006
hầu như là duy nhất trên tài sản xã hội chủ nghĩa Để bảo vệ loại tài sản này, luật hình sự của Việt Nam trước đây phân biệt nhóm các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và nhóm các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Ngày 21/10/1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành hai pháp lệnh là Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Năm 1985, Bộ luật Hình sự được thông qua nhưng vẫn có hai chương riêng biệt cho hai nhóm tội này – đó là chương nói về các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và chương nói về các tội xâm phạm
sở hữu của công dân Nhóm các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa có chính sách hình sự
hà khắc hơn và nhằm bảo vệ quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Vì vậy khái niệm tài sản xã hội chủ nghĩa được mở ra bao hàm cả tài sản của các tổ chức hợp pháp của nhân dân, và thậm chí tài sản của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam với quan niệm tài sản đó có ý nghĩa cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Về sau này, do khó khăn về kinh tế và do kém nghiệp
vụ trong việc khai thác tài sản xã hội chủ nghĩa một cách có hiệu quả, các vật quyền trên tài sản xã hội chủ nghĩa được mở rộng dần liên quan tới việc cho thuê doanh nghiệp, giao đất, cho mượn đất… Các quan niệm này vẫn gây ảnh hưởng trong một chừng mực nào đó tới tư duy pháp lý hiện nay ở Việt Nam
2 Nhận thức khoa học về sở hữu toàn dân về đất đai của nhiều nhà nghiên cứu Việt
Nam (mà một số trong số họ có tham gia soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 2005) có những nội dung chủ yếu khá khó hiểu như đoạn trích dẫn dưới đây:
―Sở hữu toàn dân có nghĩa là sở hữu của toàn thể nhân dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa, cũng có nghĩa là sở hữu xã hội chủ nghĩa Nhà nước Chế độ này ra đời cùng với việc thiết lập Nhà nước xã hội chủ nghĩa Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, sở hữu xã hội chủ nghĩa thể hiện dưới hai hình thức: Sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể Trong hai hình thức sở hữu đó, sở hữu Nhà nước là hình thức cao, vì nó thể hiện đầy đủ nhất nguyên tắc xã hội hóa xã hội chủ nghĩa‖1007
Bộ luật Dân sự năm 2015 không thể khác phải kế tục tư tưởng đó mà do Hiến pháp năm 2013 qui định Cùng xây dựng song song với Hiến pháp năm 2013, trong Tờ trình Dự án Luật Đất đai ra Quốc hội vào năm 2012, Chính phủ Việt Nam đã thấy rất rõ ―Đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, tác động trực tiếp đến kinh tế, chính trị, xã hội, sự ổn định và phát triển của đất nước‖ và nhấn mạnh quan điểm ―Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý‖1008
Nhận thức khoa học và các qui định của pháp luật như vậy tạo nên một tình thế khiến khó có thể xây dựng hay cải cách chế định vật quyền thật sự phù hợp với yêu cầu của đời
1006
Katlijn Malfliet, ―La Propriété c‘est le vol: ―Property is Theft‖ Revised‖ (pp 297 – 326), Private and Civil Law in Russia
Federation, edited by William Simons, Martinus Nijhoff Publishers, Leiden, Boston, 2009, p 300
1007 Nguyễn Mạnh Hùng, Tìm hiểu Luật Đất đai mới – Chính sách ruộng đất mới, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1993, tr 9 – 10
1008
Chính phủ, Tờ trình về Dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Số 222/ TTr- CP ngày 06/09/2012, tr 4
Trang 13sống xã hội hiện đại và có nền tảng bởi kỹ thuật pháp lý truyền thống liên quan tới vật quyền thiết lập trên căn bản một chế độ tư hữu Thực tế dù cố gắng đến mấy thì rất nhiều khái niệm trong hệ thống vật quyền ở Việt Nam không thể hòa đồng với thế giới, chẳng hạn như khái niệm quyền bề mặt ở Việt Nam hiện nay khác với khái niệm này ở các nước trên thế giới mà
ở mục trên đã nói tới
3 Quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự năm 2015 đã gây ra sự chia rẽ lớn trong những
người nghiên cứu và những người xây dựng dự thảo về quan niệm có sử dụng hay không sử dụng thuật ngữ ―vật quyền‖ trong Bộ luật Dân sự này Việc có sử dụng thuật ngữ này hay không sử dụng thuật ngữ này không đơn thuần là việc cân nhắc sử dụng từ ngữ này hay từ ngữ khác để diễn đạt một khái niệm, mà là một biểu hiện tập trung của việc có hiểu và thừa nhận sự tồn tại khách quan của quan hệ vật quyền hay không Nhiều luật gia quyết liệt bảo vệ không chỉ cho việc sử dụng thuật ngữ vật quyền trong Bộ luật Dân sự năm 2015, mà còn đòi hỏi phải qui định một cách rành mạch, rõ ràng và đầy đủ các vật quyền trong đó1009
Trong khi
đó không ít luật gia phản đối việc sử dụng thuật ngữ này, thậm chí còn có ý phủ nhận cả sự tồn tại khách quan của quan hệ vật quyền1010
Các giáo trình dạy luật dân sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo khác nhau trong cùng một thời điểm (trước khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua) có quan niệm rất khác nhau về vật quyền, trong khi nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được đề cao đòi hỏi pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trong cả nước1011, tức là pháp luật phải được giải thích theo cùng một cách Hiến pháp năm 1992 yêu cầu: ―Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa‖ (Điều 12) Cho đến nay nhiều nhận thức khác nhau về vật quyền được thể hiện trong các tác phẩm khác nhau làm cho nhiều luật gia tỏ ra hoang mang Một số sách giải thích khái niệm vật quyền đúng với truyền thống Civil Law, chẳng hạn như: ―Quyền đối vật là quyền được hành xử trực tiếp trên những tài sản vật chất hay trên vật‖1012; hay ―…vật quyền đối lập với trái quyền (jus ad personam), là một thứ
quyền được thực hiện chống lại một người, chứ không phải là quyền trực tiếp trên một vật‖1013; hay ―…vật quyền là quyền cho phép một người được hưởng các quyền năng trực tiếp
và ngay lập tức đối với một vật mà không cần có vai trò của một người khác‖1014
Trong khi
đó có sách bài bác thuật ngữ vật quyền rằng: ―…người ―tây‖ và ―người ta‖ đều không hiểu thuật ngữ ―vật quyền‖‖ và rằng ―…trong tư duy ―vật quyền‖ cũng như trong Dự thảo, quyền
sở hữu là quyền ―nòng cốt‖ trong khi đó đối tượng của quyền sở hữu hiện nay không chỉ là
―vật‖ mà là ―tài sản‖‖1015 Thậm chí có giáo sư Viện trưởng Viện Pháp luật và Kinh tế
Học viện Tư pháp, Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr 225
1015 Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Sách chuyên khảo), Nxb
Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2016, tr 11
Trang 14đủ hơn Trong tiếng Việt, ―vật‖ được hiểu là cái có hình khối, có thể nhận biết được Trong tiếng Anh, ‗things‖ được hiểu là những đối tượng của sự chiếm hữu hoặc được hiểu là tài sản Khái niệm ―things‖ hay ―property‖ trong tiếng Anh gần như là đồng nghĩa và vì thế cách phân loại cũng tương tự nhau‖1016
Các trích dẫn này cho thấy sự yếu kém về kỹ thuật pháp lý của nhiều luật gia Việt Nam hiện nay, nhưng trên thực tế lại chi phối thực sự việc xây dựng Bộ luật Dân sự năm
2015 Chính nhận thức chưa tới của họ đã buộc có những đòi hỏi cải cách chế định vật quyền này Và cũng chính những nhận thức như vậy là một khó khăn trong việc xây dựng, cũng như cải cách chế định này ở Việt Nam
Khi nói tới chế định vật quyền là nói tới ngành luật dân sự Sau rất nhiều năm bị tối giản vai trò, ngành luật này mới lại được chú ý hơn và được xác định đúng vai trò ở mức độ nào đó khi bắt đầu thời thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường Tờ trình Quốc hội về việc tiếp thu ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp và đại biểu Quốc hội, chỉnh lý Dự thảo Bộ luật Dân sự vào năm 1995 xác định ―…Bộ luật Dân sự, một Bộ luật có tầm quan trọng sau Hiến pháp…‖1017 Tuy nhiên trong nhận thức chung vẫn còn bị ảnh hưởng không nhỏ của truyền thống pháp luật Soviet mà vẫn còn giữ vai trò nền tảng của hệ thống pháp luật Việt Nam – một hệ thống pháp luật pha trộn
Truyền thống Sovitique Law không có sự phân biệt giữa luật công và luật tư, luật công gần như giữ vai trò quyết định (nếu nhìn từ phân loại pháp luật theo truyền thống Civil Law)1018, và đề cao ngành luật kinh tế, hạ thấp vai trò của ngành luật dân sự bởi nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa truyền thống được xây dựng trên nền tảng công hữu hóa tư liệu sản xuất và
kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân Theo René David, trong pháp luật xã hội nghĩa ―sở hữu xã hội chủ nghĩa‖ (socialist ownership) có vai trò quan trọng hơn so với ―sở hữu cá nhân‖ (personal ownership)1019 Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx - Lenin cho rằng kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên cơ sở hạ tầng, cho nên xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giữ vai trò then chốt Đó là những lý do chủ yếu để làm tăng vai trò của ngành luật kinh
tế theo truyền thống của chủ nghĩa xã hội (nhằm thiết lập quan hệ sản xuất hội chủ nghĩa) so
1016
Lê Hồng Hạnh, ―Sử dụng khái niệm quyền tài sản thay cho vật quyền trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (Sửa đổi)‖ (tr 3 - 10), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 4(324)/2015, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nhà nước và Pháp luật, tr 7
1017 Chính phủ, Tờ trình Quốc hội về việc tiếp thu ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp và đại biểu Quốc hội, chỉnh lý Dự
thảo Bộ luật Dân sự, Số 5529/PC ngày 30/9/1995
1018
René David and John E C Brierley, Major Legal Systems in the World Today – An Introduction to the Comparative Study
of Law, Second Edition, The Free Press, New York – London – Toronto – Sydney – Tokyo – Singapore, 1978, p 265
1019 René David and John E C Brierley, Major Legal Systems in the World Today – An Introduction to the Comparative Study
of Law, Second Edition, The Free Press, New York – London – Toronto – Sydney – Tokyo – Singapore, 1978, p 262
Trang 15với ngành luật dân sự Vì vậy kỹ thuật luật dân sự chưa được chú ý thỏa đáng Chẳng hạn: Quyền sản nghiệp ít được nhắc đến trong khoa học pháp lý của Việt Nam sau thời kỳ Pháp thuộc ở Miền Bắc và sau năm 1975 trên phạm vi cả nước Tuy nhiên khi nói về khoa học luật dân sự, một số rất ít luật gia vẫn quan niệm quyền sản nghiệp khác với quyền nhân thân và bao gồm các quyền có khuynh hướng chủ yếu tạo ra cho người có quyền đó những lợi ích vật chất có thể trị giá bằng tiền1020 Thiếu thốn tri thức về luật dân sự như vậy cũng là một lực cản cho việc cải cách và hoàn thiện luật dận sự nói chung và chế định vật quyền nói riêng
III Các yêu cầu của đời sống xã hội hiện đại đặt ra vấn đề cải cách chế định vật quyền
Việt Nam là một nước nông nghiệp đang trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa Ở Việt Nam, nông thôn, nông nghiệp khởi động sự nghiệp đổi mới, cứu thua cho cái hiện đại và đô thị công nghiệp, nhưng người nông dân phải bỏ làng ra đi làm thuê với giá rẻ mạt do thiếu đất, mất đất…1021 Nhận thức được mối liên hệ không thể tách rời giữa nông nghiệp, nông thôn và nông dân với vấn đề đất đai, môi trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế… Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật liên quan tới những vấn đề này trong sự móc nối với nhau Ở Việt Nam khoảng 80% dân cư sống trong các làng xã, nếu được sống trong an sinh và phát triển thì
họ sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước1022
Làng xã là một nét truyền thống trong tổ chức đời sống xã hội của người Việt gắn chặt với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, đôi chỗ gắn với thủ công nghiệp Nghiên cứu về văn hóa, kinh tế, xã hội Việt Nam không thể không nói tới làng xã, không thể không nói tới nông nghiệp và đất đai Làng xã theo nghĩa tiếng Việt dường như tương phản với một đơn vị hành chính, chỉ đơn thuần là một thực thể tự nhiên và được coi là một đơn vị
tụ cư, một đơn vị văn hóa truyền thống của người nông dân Việt Nam, có địa vực riêng, có cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng và các tục lệ riêng tương đối ổn định1023 Thế nhưng làng xã hiện nay đang bị khủng hoảng do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong số đó có một nguyên nhân chủ yếu là vấn đề liên quan tới đất đai - nền tảng của nông nghiệp và nông thôn, chưa được xem xét thỏa đáng, mặc dù có nhận thức rằng ―Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, là loại tư liệu sản xuất đặc biệt, không có gì có thể thay thế được, còn nông dân lao động lại là nhân tố quyết định của quá trình sản xuất‖1024 Cho tới thời gian gần đây, có khoảng 80% trong số khoảng hai vạn đơn thư khiếu nại, tố cáo của cử tri liên quan tới đất đai1025 Nhiều vụ khiếu kiện đông người kéo dài gây chấn động tới cả hệ thống chính trị Thậm chí có những vụ bạo động đặc biệt nghiêm trọng chống lại chính quyền, điển
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 25
1023 Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, Ngô Thị Thanh Quý, Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn cầu
hóa hiện nay (Qua tư liệu một số làng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ), Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr 21 & 23
1024
Lâm Quang Huyên, Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007, tr 14
1025 Xem Phạm Duy Nghĩa, ―Nông thôn, nông dân từ góc nhìn sở hữu‖ (tr 129 – 135), Nông dân, nông thôn & nông nghiệp,
những vấn đề đang đặt ra, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008, tr 130