Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (tập I) phản ánh bước đầu những hoạt động khoa học và công tác nghiên cứu trong năm 1997.. và 1998.[r]
Trang 2CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN cứu
CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC
VIỆT NAM
(I)
Trang 3TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẰN VĂN QUỐC GIA
BẢO TÀNG DÂN TỘ C H Ọ C VIỆT NAM• • •
_c a
CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
( I )
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI -1999
Trang 4B A N B IÊ N TẬ P
- PGS.PTS Nguuyễn Vãn Huy (Trưởng ban)
- PTS Lê Duy Đại (Thư ký)
- NCVC Chu Thái Sơn
- PTS Lưu Anh Hùng
Trang 5M ỤC LỤC
1 Bài phát biểu của Chủ tịch nước Cộng hoà XHCH Việt
2 Bảo tàng là ncá để phát hiện (Bài phát biểu của Tổng thống
3 Bài phát biểu của GS.TS Nguyễn Duy Quý, Giám đổc
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia).
4 Nguyễn Văn Huy: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 27
5 Nguyễn Văn Huy: Góp phần gìn giữ và phát triển sự đa
dạng của bản sắc văn hoá dân tộc nhìn từ góc độ của loại
6 Chu Thái Sơn: Những cHặng đường văn hoá - lịch sử các
7 Bế Viết Đẳng: Cầy lanh trong đời sống của người Hmông 77
8 Vi Văn An: v ề bộ y phục của phụ nữ Tày Thanh trưng
9 Nguyễn Anh Ngọc: Nông nghiệp Việt - Một số đối tượng
5
Trang 610 La Công Ý: Hội lồng tồng của người Tày 106
11 Mai Thanh Sơn: Y phục của ngưồd Hmông ở huyện Sa
12 Phạm Văn Lợi: Vài nét về nghề dệt truyền thống của
13 Phạm Yăn Dương: Góp phần tìm hiểu kỹ thuật xây dụng
14 Võ Mai Phương: Sơ bộ khảo sát về nghề thổ cẩm của
người Dao ở xã Tả Phin, huyện Sa Pa tình Lào Cai 158
15 Trần Thị Thu Thuỷ: Trang phục truyền thống của phụ
16 Cầm Trọng: Ma thuật chữa bệnh ở xã hội Thái cổ truyền 207
17 Nguyễn Tôn Kiểm: Tìm hiểu diều sáo truyển thống 217
18 Võ Thị Thường: Nghi lẽ chữa bệnh của người Thái ở
19 Nguyễn Trường Giang: Tìm hiểu bước đầu về một số
hoa văn trên vải của nhóm Gia rai Aráp (huyện Chư Pah
20 Nguyễn Sơn Trà: Đôi nét về văn hoá của ngưòi Việt ở
21 Lê Duy Đại: Hẹ thống panô - bản đổ trong trưng bày của
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - Cách nhìn và những
22 Chu Thái Sơn: Nghiên cứu để trưng bày trong Bảo tàng
6
Trang 723 Lưu Hùng: Cư dân nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me vùng
Trường Sem - Tây Nguyên trong Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam
24 Vi Văn An: Những đặc trung văn hoá của các dân tộc
nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me miền Bắc qua trưng bày
tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
25 Phạm Văn Dương: Một vài kinh nghiêm ừong trung bày
ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
26 Vũ Hồng Thuật: Hiện vật trong nghi lễ cúng mụ của
người Việt trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
27 Lê Duy Đại: Việc xây dựng bản đồ phân bố các dân tộc
theo ngôn ngữ.
PHẦN IV LƯU GIỮ VÀ BẢO QUẢN:
28 Nguyễn Hồng Mai: Quản lý các sưu tập Dân tộc học
29 Hoàng Thu Hằng: Hệ thổng tư liệu phim ảnh và băng từ
ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong 2 năm 1996-
1998 - Những vâh đề bảo quản
30 Hoàng Tô Quyên: Phân loại hiện vật ở Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam
31 Nguyễn Văn Dự: Bảo quản hiện vật mây, ừe, nứa, gõ ở
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
32 Nguyễn Thị Hường: Nhìn lại công tác kho của Bảo tàng
Dântôchoc ViêtNam• • •
33 Phạm Lan Hương: Nguyên tắc bảo quản hiện vật chất
liệu mây toe ở kho Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Trang 834 Lê Thanh Phượng: Vấn đề xây dụng hệ thống tài liệu
35 Dương Thị Anh: Vài nét về hổ sơ khoá học của hiện
36 Gael de Guichen: Độ ẩm và nhiệt độ ưong các Bảo tàng
37 Nguyễn Trung Dũng: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
38 Nguyễn Văn Huy: Đổi mới cách tổ chức cho học sinh đi
thăm quan Bảo tàng như thế nào cho có hiệu quả hơn? 552
39 Đỗ Minh Cao: Bảo tàng Dân tộc học và váh đề tiếp thị 563
40 Vũ Hồng Nhi: Một vài suy nghĩ về sự phổi hợp giữa Bảo
tàng và Nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
8
Trang 9CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG THĂM BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC
Trang 10Jh
Trang 11L Ờ I N Ó I ĐẦU
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tháng 10 năm 1995 Nhiệm vụ của Bảo tàng được xác định là: nghiên cứu khơa học, sưu tầm, phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu, khai thác các giá trị lịch sử, văn hoá, về phương diện dân tộc học, của các dân tộc anh em trong đại gia đình TỔ quốc Việt Nam; cung cấp tài liệu nghiên cứu cho các ngành; đảo tạo cán
bộ nghiệp vụ và quản lý cho Bảo tàng Dán tộc học.
Nghiên cứu khoa học là một chức năng quan trọng của Bảo tàng Ngay từ những ngày đầu thành lập, tập thể cán bộ, các nhà nghiên cứu ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã tìm tòi và từng bước định hướng nghiên cứu khoa học ở một cơ quan mang tính tổng hợp và chuyên ngành rất sâu Cùng một lúc Bảo tàng phải triển khai trên nhiều lĩnh vưc mà mối lĩnh vưc công tác đều có những đặc trưng riêng Ở đây hoàn toàn không phải là những công tác hành chính, nghiệp
vụ đơn thuần, đơn giản Sẽ rất sai lầm nếu không thấy được tính khoa học của tất cả các mặt hoạt động như nghiên cứu - sưu tầm, nghiên cứu các chương trĩnh
9
Trang 12nghe - nhìn, nghiên cứu trưng bày, nghiên cứu quản lý
và bảo quản các bộ sưu tập, hiện vật cùng các loại băng hình, ghi âm, ảnh, nghiên cứu các chương trình giáo dục, tuyên truyền, công chúng và tiếp thị Các công tác này là những hoạt động thường xuyên của Bảo tàng, mang tính công vụ nhưng lại dựa trên cơ sở khoa học rốt cao, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, tìm tòi và tổng kết.
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ cho ra mắt thưởng xuyên xuất bản phẩm mang tên: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nhằm trao đổi những vấn đề khoa học, giới thiệu
và công bố những kết quả nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học trong Bảo tàng và các cộng tác viên của Bảo tàng Đây sẽ là những tài liệu hữu ích giúp cho các cơ quan, các nhà nghiên cứu quan tâm tới các di sản văn hoá của các dân tộc ở nước ta.•
Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (tập I) phản ánh bước đầu những hoạt động khoa học và công tác nghiên cứu trong năm 1997
và 1998.
Chúng tôi hy vọng xuất bản phẩm nhiều tập này sẽ thường xuyên đến tay bạn đọc và được sự cộng tác chặt chẽ của bạn đọc.
Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
PGS, PTS NGUYỄN VÁN HUY
10
Trang 13Phán 3 GIỚI THIỆU CHUNG
Trang 14BÀI PHÁT BIỂU CỦA
Hội nghị Trung ưong V mói vừa thông qua một Nghị quyết quan trọng về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sác dân tộc là sự cổ vũ lỏn lao cho các dân tộc, cho những ngưòi làm công tác văn hoá, công tác dân tộc
Tôi đã xem các phòng trưng bày, hệ thống kho bảo quản và toàn bộ cảnh quan của Bảo tàn g D ân tộc học Việt Nam Tôi rất vui mừng vì nhũng ý tưỏng ban đàu để
13
Trang 15hình thành bảo tàng này, những thành tựu mổi này, tuy là bưỏc khỏi đầu, nhung rất có ý nghĩa, nó đã được cân nhắc một cách thận trọng, có tính khoa học cao trong nghiên cứu, nhàm phản ánh truyền thống văn hoá của những dân tộc trong cộng đồng các dân tộc trên đất nưỏc ta.
Bảo tàng được xây dựng là một quần thể kiến trúc khá đẹp Đương nhiên chúng ta đều hiểu rằng, vỏi kinh phí của giai đoạn khỏi đàu còn hạn hẹp mà có được những sưu tập phong phú, vổi nội dung và phương pháp trung bày như vậy, chúng ta phải đánh giá cao thành tựu đó Chúng ta hy vọng rằng, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
sẽ tồn tại lâu dài Thế hệ chúng ta rồi tiếp thế hệ con em chúng ta sẽ làm cho Bảo tàng phát triển không ngùng, càng ngày càng xứng đáng hơn vỏi truyền thống văn hoá rực rỡ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Nếu có điều gì phải góp thêm trong quá trình đ) thăm tôi đã nói Với cách nhìn nhu vậy, tôi nghĩ ràng, 'chông phải mọi cái đều có thể làm ngay một lúc, nhưng chúng
ta phải có ý tuỏng từ đầu Thiết kế của Bảo tàng phki vừa
có tính chất trưổc mát, vừa phát triển từng bưỏc, áưổng tỏi lâu dài đổ ngày càng hoàn thiện hơn
Tổ hộp các công trình xung quanh phải hoà nhập được vỏi sự tồn tại của công trình vẫn hoá này, một trong ihững công trình văn hoá quan trọng của đất nưỏc, của T ỉủ đô Bảo tàng D ân tộc học Việt Nam không thể là một công
14
Trang 16trình đơn lẻ, toạ lạc trong một cảnh quan kiến trúc và sinh hoạt không ăn nhập gì vỏi nó Hẳn là không thể như thế đưọc Tôi sẽ nói thêm vỏi các đồng chí lãnh đạo ỏ Uỷ ban Nhân dân thành phó Hà Nội và đề nghị vỏi đồng chí Hoàng Đúc Nghi, đồng chí Nguyễn Duy Quý tiếp tục đặt vấn đề vỏi Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội để làm sao trên vùng đất này phải liên hoàn có một số công trình kiến trúc văn hoá, tạo thành một tổ họp văn hoá - du lịch, một trong những địa điểm có sức thu hút nhân dân thủ
đô Nhân dân, con cháu chúng ta hàng ngày, hằng tuần đến thăm Bảo tàng để thưỏng ngoạn, học tập và giải trí Nếu là một công trình bảo tàng đơn lẻ nhu hiện nay thì súc thu hút khách tham quan sẽ bị hạn chế rất nhiều.Việc có định hưỏng đầu tu mổi cho cả phần trung bày ngoài tròi và phần mỏ rộng trưng bày văn hoá truyền thống của các nước trong khu vực Đông Nam Ấ là đúng Nó phù hợp vỏi ý tưởng về cụm văn hoá này
Ỏ gần đây có Chùa Hà cũng là một trong nhũng cồng trình văn hoá - tín nguõng nổi tiếng ỏ thủ đô Xem ra bây giò còn kịp để đặt vấn đề này vổi Hà Nội Nếu không tôi
e ràng Bảo tàng này sẻ đơn độc trong một môi trưòng cảnh quan kiến trúc không hộp lý, làm hạn chế rất nhiều tính năng, tác dụng của nó Đó là điểm thú nhất
Điểm thứ hai, tôi muốn góp thêm một ý quan trọng,
đó là khoa học nhưng phải đại chúng Chúng ta xây dựng
bảo tàng là để cho những nguòi nghiên cứu sâu, chuyên
15
Trang 17ngành như dân tộc học, sử học,, văn hoá học chẳng hạn
có thể đến quan sát ỏ đây những cái cần quan sát, nhưng chúng ta cũng phải làm cho một em bé hoặc một ngưòi dân bình thưòng vào bảo tàng này vẫn cảm thấy có một sức cuốn hút, vẫn cảm nhận được cái hay, cái đẹp, vẫn thấy được ỏ đây nhũng điều thật bổ ích Và phải làm sao cho số khách tham quan này ngày càng đông đảo Hấp dẫn trong trung bày ỏ bảo tàng là làm sao phải thoả mãn được các đối tượng tham quan khác nhau 0 những bảo tàng hiện đại, ngưồi ta ít thuyết minh, tự ngưòi xem thông qua cách trưng bày hiện vật tranh ảnh, âm thanh mà nám bát lấy những thông tin, nhận biết lấy lịch sử Theo huỏng này, chúng ta còn phải làm tiếp, còn phải củng cố, hoàn thiện, v ỏ i kinh phí có hạn cùa giai đoạn khỏi đầu, hẳn là chưa thể thoả mãn được vổi những yêu cầu đang đặt ra
Ý đồ của bảo tàng là làm sao để cho ngưòi dân thủ
đô và đồng bào các vùng khác nhau trong nưỏc cũng như khách quốc tế tỏi thăm đều thấy được những đặc trưng văn hoá, những sinh hoạt đòi thưòng có tính lịch sử của mỗi dân tộc Nhưng đặc trưng này cũng rất phong phú và
đa dạng lắm Vì mỗi dỗn tộc trên đất nưỏc ta đều sống trong những cảnh.quan sinh thái khác nhau và trải qua những chặng đưòng lịch sử khác nhau Một bảo tàng nếu muốn nêu được nhũng đặc trưng đó thì phải phản ảnh quá trình của một phong tục - tập quán và những gì là tiêu
16
Trang 18biếu nhất của mọi sinh hoạt từ lúc sinh ra cho đến lúc mất
đi, rồi phải đi tù quá khứ thòi cổ đại, trung đại, đến hiện đại, rồi phải có hiện vật, có hình ảnh Việc sử dụng màn hình và thông qua những băng hình để giỏi thiệu được nhiều hơn, để hiểu thêm được nhũng hiện vật, những hình ảnh trưng bày trong bối cảnh sinh hoạt của nó, nhưng vẫn
có mặt hạn chế Tôi nghĩ rằng khách tham quan không thể nào đi xem mà lại cứ đứng trưỏc màn hình để xem từ đầu chí cuối, hết màn hình này tỏi màn hình khác Vậy thì chúng ta phải nghiên cứu trưng bày làm sao thuận lợi hơn cho nguòi xem Phải có nhũng màn hình lón hơn chẳng hạn
Tôi đã tùng đi qua khá nhiều vùng đồng bào dân tộc, những hiện vật được trưng bày cũng như những lối sống, những sinh hoạt được giỏi thiệu ỏ đây đều nâm trong những bối cảnh tương ứng, những môi trưòng tự nhiên rất riêng biệt Chác chán là chúng ta không thể sưu tầm hết
và giói thiệu hết đuộc, cho dù bảo tàng có khu vực ngoài tròi Tôi nghĩ, phải chăng nên bổ sung thêm hiện vật, thêm thông tin cho phần trưng bày vì các mảng tưòng (diện tích trưng bày) còn trống rất nhiều Cần có phần hình ảnh để làm nền cho trưng bày để làm sao cho ngưòi xem có thể hiểu là mỗi dân tộc, mỗi địa bàn cư trú đều có một địa hình, địa vật, hoàn cảnh môi trưòng khác nhau như thế nào Phải bổ sung thêm thông tin, không nên cô đọng quá, đơn giản quá Tôi đặt vấn đề đó có thể trái vổi tư tưỏng
Trang 19thiết kế của các nhà m ỹ'thuật chăng, nhưng tồi vẫn nghĩ phải làm sao để cho ngưòi nghiên cứu chuyên sâu có thể thấy được ở đây những điều cần thấy, mà ngưòi dân thưòng cũng vẫn có thể dễ dàng nhận biết được nhũng điều bổ ích qua tính hấp dẫn của hiện vật.
Về lâu dài, muốn phát triển được, dù là công trình bảo tàng thì cách tót nhất mà thế giỏi đã làm là đặt nó trong một quần thể có nhiều hoạt động văn hoá sao cho hút được nhiều khách đến Cụm công trình hay từng công trình
tự trang trải, nó phát triển đưọc thì nó mỏi có súc sống lâu dài Nếu chúng ta xây dựng một bảo tàng chỉ để phục
vụ nghiên cứu thôi thì chưa đủ Tôi cũng thông cảm vđi các đồng chí lãnh đạo hiện nay là ngay để làm sao cho khách đến thăm bảo tàng, cũng đã phải đi tuyên truyền, vận động ỏ các trưòng để các cháu học sinh có chương trình đến tham quan
Ban đầu như thế là hết sức tích cực Nhung hưổng lâu dài phải tính làm sao cho cả khu vực này trỏ thành một
cụm văn hoá - du lịch có sức thu hút khách tham quan, vui chơi, giải trí, tham gia lễ hội của ngưòi dân Thủ đô và
cả nưổc Ngay trong khuôn viên của bảo tàng, phần ngoài
tròi cũng phải tính toán sao để từng bưđc nơi đây không thuần tuý chỉ có trưng bày như hiện nay mà có thể phối hộp vói sinh hoạt, vui chơi, giải trí Chẳng hạn nói ẩm thục không chỉ là tổ chức uống ăn, nhưng nếu có khu ngoài tròi
làm các quán ăn để giối thiệu văn hoá ẩm thục tiêu biểu
18
Trang 20của các vùng, các dân tộc thì cung là cách để thu hút sự hấp dẫn của đông đảo ngưòi xem Nhưng làm điều này nhất thiết phải có sự ủng hộ của Nhà nưỏc và của thành phố.Tính bưỏc trưỏc, cũng phải tính cả bưổc lâu dài, thế
hệ chúng ta không kịp làm thì con cháu thế hệ sau sẽ làm tiếp Chúng ta không thể để cho nhũng khu vực như thế này mai một đi Chắc chắn không ai mong muốn như vậv
cả Đấy là điều mong muốn lổn của tôi
Tôi đánh giá cao những cố gáng ban đầu của Bảo tàng
D ân tộc học Việt Nam và mong có được sự đầu tư hơn nữa của Nhà nưổc Tôi mong mỏi sự cố gắng của cán bộ
và công nhân viên ở đây, sụ họp tác, giúp đõ của thành phố H à Nội Tôi cũng mong sự đóng góp nhiều hơn nữa của các địa phương, của đồng bào các dân tộc, của quốc
tế để cho khu vực này cùa Bảo tàng D ân tộc học chúng
ta phát triển không ngừng, ngày càng phong phú, ngày càng được dư luận đồng tình và khen ngợi Tôi cũng được biết, tuy bưỏc đầu mỏi hình thành, nhưng khách quốc tế đến tham quan cũng đã khen ngội nội dung trưng bày, đấy Cũng là một khích lệ tốt
Chúng ta cần phải tiếp tục làm cho Bảo tàng D ân tộc học Việt Nam sống động hơn nữa, lón mạnh hơn nữa
19
Trang 21LÒI CHÀO MỪNG CỦA TổNG THốNG
TRONG LỄ KHÁNH THÀNH BẨO TÀNG
DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM NGÀY 12-11-1997• • •
Tồi muốn nói vổi các vị sự khâm phục của tôi trưóc Bảo tàng tuyệt vòi này Và tôi muốn gửi một lòi hoan hô lổn đến vỏi tất cả những ai, nam cũng như nữ, thưa ông Giám đốc, đâ tham gia vào cuộc hành trình lý thú này Tôi nghĩ đến các nhà khoa học, các giảng viên đại học, các nhà nghiên cứu, kiến trúc sư, nghệ sĩ Việt Nam và Pháp, đã kết hộp tài năng, nghị lực, sự hiểu biết vào dự
án vĩ đại và tráng lệ được ra mát ngày hôm nay
Tôi đặc biệt tự hào vì nưỏc Pháp đã tham gia Sự ra đòi cùa một bảo tàng luôn là một thòi điểm đáng chú ý, một thòi điểm xúc động Mỗi bảo tàng là một noi tưỏng niệm và cũng là một địa điểm cùa tưong lai Đấy là một không gian của cuộc sống, của đổi thoại, mỏ cửa ra các nền văn hoá khác, các nền văn minh khác và những con ngưồi khác Bảo tàng là nơi để "phát hiện" theo nghĩa mà
20
Trang 22A ndré Malraux đã đặt cho nó Là một nơi mà mỗi ngưòi
có thể ưóc mơ
Bảo tàng này, thưa quý bà quý ông, mà tôi đã theo dõi
sự phát triển từng bưỏc, vối sự thích thú cá nhân, sẽ được chúng ta cùng vào thăm Đây sẽ trỏ thành một địa chỉ để phát hiện, một nơi gặp gõ, và như ngày nay ngưòi ta thưòng nói, địa điểm thần kỳ
Hỗ trộ dự án này, nưỏc Pháp đâ thực hiện truyền thống lỏn của những nhà dân tộc học mỏ đưòng ỏ bán đảo Đông Dương, mà những công trình của họ vẫn giữ một vị trí trang trọng trong các thu viện lớn ò Hà Nội
Xin cho phép tôi nhắc lại, vì đây chính là lúc tôn vinh một số trong những nguòi đã làm rạng danh bàng chất lường những công trình dân tộc học và cá nhân mình, Auguste Boniíacy, Jeanne Cuisinier, Nguyễn Văn Huyên
và nhũng ngưòi mỏi ra đi gàn đây, Jacques Dournes, mà nhũng công trình về tộc ngưòi Gia Rai là một minh chứng Tôi cũng nghĩ đến Giáo sư Từ Chi, khuôn mặt lỏn của dân tộc học Việt Nam
Công việc của nhà dân tộc học ngày nay vừa là một công việc khoa học, vừa là một công việc đấu tranh cho
sự đa dạng và phong phú của toàn nhân loại Trong khi quan sát, mô tả, ghi chép lại lối sống của những nhóm ngưòi ít ỏi nhất và ít được biết đến nhất, nhà dân tộc học
đã chứng minh tiềm năng kỳ lạ để đáp ứng và thích nghi
21
Trang 23của con ngưòi trong những điều kiện khác nhau của môi trường và cả những khả năng sáng tạo và thiên tài để khẳng định súc sống của mình.
Trong thế giỏi ngày nay có một cuộc đấu tranh cho sự
đa dạng văn hoá, nhằm bảo tồn các truyền thống, các lối sống và những di sản cổ truyền của các dân tộc Và cuộc đấu tranh đó cũng là cuộc đấu tranh cho sự tự trọng và khoan dung
Tại sao Bảo tàng này quan trọng là như thế Nó là minh chứng cho sự tôn trọng của nhà chức trách Việt Nam đối vỏi toàn bộ các thành phần phong phú của dân tộc, các tộc ngưòi (54) hợp thành di sản và cả tâm hồn Việt Nam
Sứ mệnh cùa một bảo tàng tất nhiên là đổ truyền lại hiểu biết, cụ thể họ là những ngưòi trẻ tuổi Cái khó khăn
là phải thu hút sự chú ý của họ, mòi họ tham gia vào hành trĩnh Và tôi nghĩ đấy là thành công của bảo tàng này, đã biết làm nổi lên những bộ sưu tập tuyệt vòi, biết làm thế nào cho ngưòi ta hiểu chúng Khánh thành một công trình có thể coi là biểu tượng hợp tác của hai nưỏc chúng ta sẽ được ghi lại trong lịch sử bảo tàng học ở Đông Nam Châu Ấ
Vả lại, vào thòi điểm H à Nội đón chào Hội nghị cấp cao các nuổc có sử dụng tiếng Pháp, mà bà Phó chủ tịch nưỏc CHXHCN Việt Nam đã góp nhiều công sức vói nhiều tài năng, tôi rất lấy làm nhạy cảm khi thấy những thông
22
Trang 24tin khoa học, những mô tả dân tộc học trưng bày ỏ đây,
đã được thực hiện rất có duyên bằng tiếng Pháp
Thành công đã đến ỏ nơi hẹn gặp Bảo tàng này sẽ thu hút ngày càng nhiều khách tham quan, họ đến từ Việt Nam và khắp nơi trên thế giối, trong số đó có nhiều nhà nghiên cứu sẽ tìm thấy ỏ đây một nguồn thông tin vô tận Tôi chúc họ thành đạt nhũng thành công xúng đáng, bỏi
họ là minh chúng cho một thiên hưống mà nưỏc Pháp cần tìm lại: hiểu biết, yêu mến và làm cho nguòi ta yêu các dân tộc và các nền văn minh ở Viễn Đông
Xin cám ơn
23
Trang 25PHÁT BIỂU CỦA GS.TS NGUYÊN d u y q u ý
GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM KHXH VÀ NVQG
HỌC VIỆT NAM (12/11/1997)
Kinh thưa:
- Tổng thống nưỏc Cộng hoà Pháp Jacques Chirac
- Phó Chủ tịch nưóc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Thị Bình
- Các vị khách quý và các bạn
16 năm trưổc, Nhà nuỏc Việt Nam đâ có chủ trương xây dựng một Bảo tàng Dân tộc học tại H à Nội Bảo tàng này vừa là một cơ sỏ khoa học, vừa là một cơ sò văn hoá giũ vai trò quan trọng trong việc góp phần suu tập, bảo tồn và khai thác những tinh hoa văn hoá của tất cả 54 dân tộc anh em trên đất nưổc Việt Nam và nghiên cứu về lịch
sử, văn hoá của các dân tộc, giáo dục về truyền thống và
về bản sác dân tộc
Được sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ cùa lãnh đạo Đảng và Nhà nưốc, của các cơ quan hữu quan, Bảo tàng
24
Trang 26Dân tộc học Việt Nam thuộc Trung tâm Khoa học xá hội
và Nhân văn quốc gia đã hoàn thành Tập thể cán bộ và nhân viên của Viện Dân tộc học, của Bảo tàng Dân tộc học, đã phấn đấu rất khẩn trương, vượt qua không ít khó khăn, làm việc vỏi tinh thần trách nhiệm và sự nỗ lực rất đáng biểu dương, để kịp khánh thành Bảo tàng vào đúng dịp khai mạc Hội nghị cấp cao lần thứ 7 các nưóc có sử dụng tiếng Pháp tại Thủ đô Hà Nội
Trong quá trình xây dựng, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đõ hết sức quý báu của nhân dân các dân tộc và chính quyền các địa phương khắp mọi miền đất nuốc, của Thủ đô Hà Nội, của bạn bè quốc tế, đặc biệt là của nưỏc Cộng hoà Pháp (thông qua Bảo tàng Con nguời) về các phương diện vật chất, kỹ thuật, cũng nhu những kinh nghiệm trong việc tổ chức trưng bày và hoạt động của bảo tàng
Nhân dịp này, thay mặt Trung tâm Khoa học xã hội
và Nhân văn Quốc gia, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp
đõ nhiệt tình của đồng chí, đồng bào trong cả nưỏc, cũng như của bạn bè quốc tế, nhất là của các nhà khoa học Nưổc Cộng hoà Pháp Tại buổi Lễ long trọng này, tôi xin đưộc vui mừng thông báo Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, chính thức được khánh thành
Tôi xin chân thành cảm On Tổng thống nưỏc Cộng hoà Pháp Jacques Chừac, Phó Chủ tịch nưóc Cộng hoà Xã hội
25
Trang 27chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Thị Bình, Đại sứ nước Cộng hoà Pháp tại Hà Nội cùng tất cả các vị khách quý và các bạn đâ đến dự Lễ khánh thành Bảo tàng D ân tộc học Việt Nam.
Xin cảm ơn
26
Trang 28BÁO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM• • «
PGS.PTS NGUYỄN VĂN HUY
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (BTDTHVN) vừa là một cơ sỏ khoa học vừa là một trung tâm văn hoá, có tính khoa học cao và tính xã hội rộng lỏn Vị trí xác định đó
đã được thể hiện qua các chức năng của Bảo tàng này: Nghiên cứu khoa học về các dân tộc ỏ nưổc ta, sưu tầm, phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giỏi thiệu và khai thác nhũng giá trị lịch sử - văn hoá của các dân tộc, đồng thòi cung cấp tư liệu dân tộc học và đào tạo cán bộ cho loại hình bảo tàng Dân tộc học
Trong tương lai, BTDTHVN còn hưỏng tỏi giổi thiệu, trưng bày cả về văn hoá và văn minh cùa các dân tộc ỏ Đông Nam Á và châu Ấ
1 Quá trình hình thành
Loại hình bảo tàng Dân tộc học rất quan trọng và có
ý nghĩa to lổn về nhiều phương diện trên quy mô quốc gia cũng như ỏ từng địa phương, bởi vì nưốc ta có tổi 54 dân
27
Trang 29tộc Cho nên, ngay tù năm 1981, Nhà nưổc đã chủ trương hình thành một Bảo tàng Dân tộc học đặt tại thủ đô Hà Nội Công trình Bảo tàng Dân tộc học được chính thức phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật ngày 14-12-1987 và được Nhà nưổc cấp đất để xây dựng: nám 1987 cấp 2.500m2, năm 1988 cấp 9.500m2, và năm 1990 Thủ tưổng Chính phủ có quyết định giao toàn bộ 3,27 ha.
Suốt nhiều nãm, công trình này được xem như một bộ phận của Viện Dân tộc học Ngày 24-10-1995, Thủ tưổng Chính phủ ra Quyết định về việc thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (trực thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia)
Ngày 12 tháng 11 năm 1997 Bảo tàng khánh thành khu trung bày Ihưòng xuyên
H iện tại, BTDTHVN toạ lạc trên khu đất rộng gần 3,3 ha (có thể sẽ được mỏ rộng thành khoảng 4 ha) ỏ phưòng Dịch Vọng, đưồng Nguyễn Văn Huyên, quận Càu Giấy, cách trung tâm Thù đô chừng 8 km Đây vốn là vùng đất trũng của cư dân sỏ tại; tất cả các công trình cơ sỏ hạ tầng đều mỏi đưộc xây dựng cùng vổi quá trình hình thành Bảo tàng, kể cả đưòng Nguyễn Văn Huyên mỏi dài khoảng 700m nối tù đưòng Hoàng Quổc Việt đến Bảo tàng (trong tương lai nó còn được kéo dài tiếp đến khu Khách sạn Deawoo bên đưòng Càu Giấy và Liễu Giai)
Bảo tàng bát đầu được cấp vốn chuẩn bị đầu tu vào năm 1986 Công việc khỏi công xây dựng móng triển khai
28
Trang 30từ cuối năm 1989 Theo luận chứng kinh tế kỹ thuật, tổng kinh phí đổ xây đựng là 26 tỷ đồng, chưa kể khoảng 4 tỷ đồng cho việc sưu tầm hiện vật và tổ chức trưng bày Cho đến nay, Nhà nưỏc đã cấp khoảng 20 tỷ đồng cho xây dựng Bảo tàng.
BTDTHVN do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (ngưòi dân tộc Tày, Cồng ty tư vấn thiết kế xây dựng nhà ỏ và công trình công cộng, Bộ Xây dựng) thiết kế Nội thất công trình do bà kiến trúc sư Véronique Dollíus (ngưòi Pháp) thiết kế
Bảo tàng gồm hai khu vục chính: trong nhà và ngoài tròi Khu vực trong nhà bao gồm các khối nhà: cơ sở nghiên cứu và thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường và nhà trưng bày Các khối nhà này liên hoàn vỏi nhau, có các lối đi hộp lý, với tổng diện tích 2480m2, trong đó 750m2 dành cho kho bảo quản
Kể tù khi khánh thành, đúng vào dịp Hội nghị cấp cao làn thứ 7 các nuỏc có sử dụng tiếng Pháp họp tại H à Nội, Bảo tàng bắt đầu đón tiếp khách tỏi tham quan khu trưng bày trong nhà Còn khu trưng bày ngoài tròi bắt đầu được chuẩn bị từ năm 1997 và sẽ đuộc hoàn thành khi nhân loại bưóc sang thế kỷ XXL
2 Nhứng điểm mới
Có thể nói, Bảo tàng này là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học vỏi nhũng chuyên gia về các dân tộc, các lĩnh
29
Trang 31vực chuyên ngành; đồng thòi là một trung tâm lưu trữ quý giá về văn hoá của đù 54 dân tộc, đã có khoảng 15.000 hiện vật, 15.000 ảnh màu và ảnh đen tráng, hằng trăm băng ghi hình và ghi âm Ngưòi ta đến đây không chỉ để tham quan, giải trí, mà còn đế tìm hiểu, nghiên cứu về các dân tộc, các sắc thái văn hoá đa dạng và đặc sắc của tùng tộc, từng vùng cũng như những giá trị truyền thống chung của các dân tộc Vì vậy, từ nhân dân khắp các miền trong nưỏc đến khách nưỏc ngoài, tù học sinh, sinh viên đến nhà khoa học đều tìm thấy sự hấp dẫn ỏ đây.
Hiện vật của BTDTHVN không phải chỉ là những cổ vật đát tiền, mà chủ yếu bao gồm những thứ rất bình thưòng trong đòi sống thực tại của ngưòi dân, như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái táu, tấm chiếu Chúng phảii ánh mọi khía cạnh văn hoá phi vật thể của cộng đồng cư dân, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo văn hoá của họ Bỏi vậy, trong bảo tàng, hiện vật rất phong phú, ngày càng thêm phong phú Có thề hình thành được nhiều sưu tập theo các tiêu chí sắp xếp khác nhau Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc, nhu: về ngưòi Thái, về ngưòi Hmông, về nguòi Gia rai Phân chia theo cồng dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo - tín ngưõng, cưổi xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác Trên co sỏ đó, bảo tàng tổ chức trưng
30
Trang 32bày và xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú vói mọi đối tuộng, mọi trình độ học vấn.
Hiện nay, phần trưng bày thưòng xuyên chiếm trọn toà nhà 2 tàng có dáng mô phỏng hình tróng đồng - một biểu tưộng chung của nền văn minh Việt Nam Chiếc cầu đá granit dẫn vào toà nhà này tạo cảm giác như chúng ta bưốc lên căn nhà sàn phổ biến ở nhiều vùng Sảnh lổn của nhà trung bày thể hiện không gian bao quát của đất nưóc, mặt nền được trang trí bằng đá granit vỏi biểu trưng theo hình thể của Tồ quốc có đất liền và biển cả; trên cao có cánh diều tượng trưng cho bầu tròi
BTDTHVN được triển khai theo nhiều quan niệm mỏi phù họp vỏi sự tiến bộ khoa học kỹ thuật Trưỏc hết đó
là quan niệm bảo tàng dành cho tất cả mọi ngưòi Quan niệm này được thể hiện cả trong kiến trúc lẫn trong kỹ thuật trưng bày Bảo tàng có lối đi riêng thích hộp cho thưong binh hay những ngưồi khuyết tật phải di chuyển bằng xe đẩy và có thang máy để họ lên xem tầng hai Các bậc lên xuống đều có tay vịn cho ngưòi già yếu tiện đi lại Trong trưng bày, kế thùa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế giỏi, BTDTHVN đã không chọn chữ in mà chọn chữ viết thưòng cho tất cả các bài viết đé ngưòi xem ỏ các lứa tuổi đều dể đọc, không mỏi mát Các tấm panô cũng được treo ỏ tầm cao có tính toán phù hộp với lứa tuổi thiếú nhi Trưng bày cùa Bảo tàng có hiện vật, có ảnh, bài
Trang 33viết, có băng hình, có các tư liệu tham khảo mà ngưòi xem tuỳ trình độ và nhu càu khác nhau có thể khai thác nhiều hay ít.
Bảo tàng lấy hiện vật làm trung tâm, hon nữa hiện vật phản ánh nhũng sinh hoạt đòi thưòng của nhân dân các dân tộc; cho nên một quan điểm xuyên suốt là: trang trí thật đon, giản, không cầu kỳ, để nguòi xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật rất bình dị, đòi thuòng, không bị lôi cuốn vào những sáng tạo không cần thiết của hoạ sĩ hay nhà trưng bày Trong bảo tàng không có tranh minh hoạ Nếu càn minh chứng cho những sinh hoạt nào đó, ỏ đây chỉ dùng ảnh hay băng hình ghi lại cuộc sống thực của-các dân tộc
Mặc dù Bảo tàng hiện nay có khoảng 30.000 hiện vật
và tư liệu nhưng chỉ trưng bày một số hiện vật: trên dưổi
650 đơn vị hiện vật và 280 ảnh Quan điểm chung là không tham đưa quá nhiều hiện vật vào các tủ trưng bày, bỏi sẽ gây cảm giác thừa ứ hoặc khó tiếp cận một cách tập trung.Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày cùa bảo tàng là kết hộp giữa vùng lãnh thổ và cộng đồng ngôn ngữ Hầu hết hiện vật trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn
và chủ yếu phô bày trong 97 tủ kính lổn nhỏ khác nhau;
có loại tủ 1 mặt, có loại 4 mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật,
có tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện vật Trong số đó, hon 50
tủ có bài viết giỏi thiệu kèm theo Mỗi hiện vật đều có
32
Trang 34phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thòi cho biết dân tộc
và xứ sỏ sản sinh ra nó Bảo tàng cũng sử dụng manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách cứng, ảnh, phim video, bâng âm thanh, một số mô hình và 33 panô Mặc dù diện tích không lổn, nhung trong nhà vẫn có một sổ điểm trung bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá nào
đó Ngưòi xem hiểu được nội dung tái tạo thông qua không chi hiện vật, mà còn có phim video kèm theo
Bảo tàng chủ trương tăng cưòng lòi giải thích để phục
vụ ngưòi xem Cho nên, hon 100 bài viết trên panô và gắn vổi tủ kính hoặc vói tái tạo đều cố gáng cung cấp những thông tin cân thiết và ảnh minh hoạ, nhiều panô có cả bản
đồ Tuy nhiên, do hạn chế về khuôn khổ, nên phải viết dưỏi dạng ngán gọn, cô đọng, v ỏ i mục đích giúp ích cho
cả khách là ngưòi nuỏc ngoài, các bài viết đó cũng như các phụ đề của hiện vật không chỉ dùng tiếng V iệt,
mà còn in bằng tiếng A nh và tiếng Pháp Vì vậy, dù không cần thuyết minh viên giỏi thiệu, ngưòi xem vẫn có thể tự hiểu được đáng kể về các phần, các tủ, các hiện vật trung bày
Bảo tàng cố gắng tìm các giải pháp kỹ thuật mối Theo cách sử dụng ánh sáng tập trung, việc dùng đèn chuyên dụng chiếu rọi vào từng hiện vật hay bộ phận của hiện vật làm nổi lên vẻ đẹp nhằm gây sự chú ý quan sát Trong điều kiện hiện nay, Bảo tàng đã lựa chọn phương
án thông khí cho toàn bộ khu trưng bày Từng tủ kính
Trang 35đều được lắp hệ thống thông khí để đảm bảo cho hiện vật không bị mốc.
Đối vổi phần ngoài tròi, do đất hẹp nên bảo tàng sẽ chỉ cố thể dựng một số không nhiều công trình kiến trúc dân gian cùng các hiện vật lỏn, như: ngôi nhà rông của ngưòi Ba Na, nhà sàn dài của ngưòi Ê đê, nhà của nguòi nông dân ngưòi Việt, ngưòi Chăm, ngưòi Hmông; nhà nửa sàn nửa đất cùa nguòi Dao, nhà trình tưòng của ngưòi Hà Nhì, nhà mồ của ngưòi Gia rai Xen giữa các "hiện vật" lổn đó là cây xanh các loại, các lối đi ngoằn ngoèo, và cả con suối uốn khúc chảy suốt 4 mùa, có cầu nối đôi bò Song, những ý định đó mỏi đang bát đầu được thực thi
3 Nội dung trưng bày
Trong nhà trưng bày, phần lổn diện tích bố trí trưng bày'thường xuyên; bên cạnh đó, có dành riêng một không gian (150m2) để tổ chức các trưng bày nhất thòi theo chuyên đề Bố cục phổ biến của mỗi phần đều có trung bày ngay bên lối đi, có các tủ kính trưng bày chính và có tái tạo Hiện tại, trưng bày thuòng xuyên trong nhà được chia làm 9 phần lổn:
Phần th ứ nhất: Giới thiệu chung
Trưỏc tiên ngưòi xem có thể tiếp cận ngay vổi một panô có nhan đề: "Việt Nam: những chặng đưòng lịch sử, văn hoá", qua đó có được thông tin về các thòi kỳ lịch sử
34
Trang 36lón của đất nưổc, sự hội nhập của các dân tộc và các nền văn minh vào Việt Nam.
Một tấm bản đồ lốn được in màu chỉ ra sự phân bố của các dân tộc ỏ nưỏc ta theo các nhóm ngôn ngữ, đồng thòi có ba mặt cắt ở các vị trí Bắc, Trung, Nam để thấy được đặc điểm cư trú cùa các dân tộc theo các độ cao.Bên cạnh đó, có 5 tấm panô giỏi thiệu chân dung ngưòi của 54 dân tộc theo 5 ngữ hệ (Nam Ấ, Nam Đảo, Thái - Kađai, Hmông - Dao, Hán - Tạng) Cũng ỏ đây, ngưòi xem chỉ trong khoảnh khắc có thể cảm nhận được tiếng nói của từng dân tộc ở nưỏc ta
Phần thứ hai: Dân tộc Việt (Kinh)
Ngay bên lối vào phỏng trưng bày này có panô giỏi thiệu một số thông tin chung nhất về dân tộc Việt cùng vổi ảnh và bản đồ
Một không gian rộng rãi, sáng sủa và đầy ấn tượng dành cho việc tái tạo lại quá trình làm nón và hoạt động của nghề đan đó Nón là một vật dụng gắn bó sâu sác vỏi nguòi phụ nữ từ lâu đòi Nghề làm nón ỏ làng Chuông cúng như nghề đan đó ỏ làng Thủ Sĩ được tái tạo ỏ đây không chỉ thể hiện sụ tinh tế, khéo léo, cần mẫn của các nghề thủ công này, mà còn chứng minh làng ở đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã có mối quạn hệ kinh tế và xã hội rộng rãi trong việc làm ra sản phẩm cũng nhu tiêu thụ sản
35
Trang 37phẩm Cảnh làm nón và chợ bán nón, cảnh làm đó và vận chuyển đó đi bán được thể hiện trên màn hình.
Một số nét văn hoá cổ truyền ngưòi Việt được giới thiệu trong 11 tủ kính trưng bày vỏi các chủ đề: múa rối nưốc, nhạc cụ, tín ngưõng thò Mẫu, các đồ chơi dân gian của trẻ em, thò tổ nghề hát bội Một số nghề thủ công tiêu biểu như nghề đúc đồng, chạm khắc gỗ, nghề sơn, nghề làm tranh Dông Hồ được giỏi thiệu trong các tủ kính Ngưòi xem vừa thấy được một số sân phẩm nghề thủ công, vừa được biết công cụ, dụng cụ và quy trình sản xuất ra các sản phẩm ấy
Thò cúng tổ tiên, nét văn hoá tiêu biểu của ngưòi Việt, được thể hiện thông qua việc trưng bày một bàn thò tổ tiên ỏ một gia đình nông dân
Phăn thứ ba: Các dân tộc Mường, Thổ, Chứt
Bên lối vào phòng trưng bày về 3 dân tộc này, có 3 panô giỏi thiệu những nét chung nhất về từng dân tộc cùng vỏi ảnh và bản đồ Song song vổi các panô này là 4 tủ kính giổi thiệu một số hiện vật đẹp để tạo nên cái nhìn khái q uát về nội dung phòng trưng bày
Chủ đề tập trung giỏi th iệu ỏ 6 tủ kính của phồng này là h o ạt động sãn b á n và hái lượm của ngưòi
C h ú t, nghề đan gai của ngưòi Thổ, công việc săn bán, dệt vải, sinh hoạt đòi thưòng bên bếp lửa và nhạc cụ của ngưòi Mưòng
36
Trang 38Ỏ không gian tái tạo có cảnh đám ma ngưòi Muòng Thông qua một đám ma ngưòi ta có thể hiểu quan niệm
về cỏi sống, cõi chết, thế giỏi quan, nhân sinh quan truyền thống của nguòi Muòng Minh hoạ cho phần tái tạo là phim video về đám ma Mưòng
Truổc khi lên tàng 2, có một tủ kính trưng bày các mô hình thuyền khác nhau, ỏ đây còn có không gian cho nguòi xem dừng chân nghỉ ngơi và nhận thêm các thông tin qua bài viết, ảnh
Phăn thứ tư: Các dân tộc ngôn ngữ Tày - Thái và Kađai
Có 5 panô để giói thiệu những thông tin chung về nhóm này: giỏi thiệu chung về các nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, Kađai, kiến trúc Tày, Nùng, nhà ở của ngưòi Thái, cảnH quan vùng cư trú
Nét nổi bật trong phòng trưng bày này là tái tạo một căn nhà sàn Thái Người xem có thể thấy được đặc trưng của kiến trúc nhà sàn Thái Đen qua mái nhà hình mu rùa, khau cút, lan can nhà Nhũng hiện vật về văn hoá của nguồi Tày, Thái, Nùng, Sán Chay (Cao Lan - Sán Chỉ), Giáy, Bố Y, Lào, Lự (thuộc nhóm ngôn ngũ Tày - Thái) được trưng bày trong các tủ kính đều nàm chung dưới một mái nhà Có tủ giói thiệu chữ viết Có tủ về thổ cẩm Tày
Có tủ chuyên về nghề thủ công ngưòi Nùng Có tủ về trang phục của các nhóm địa phuong Tày như ngưòi Thu Lao,
Pa Dí
37
Trang 39Nghi thức đám then nguồi Tày được chọn làm chủ đề tái tạo ỏ đây, ngay cạnh đó có màn hình video về lễ làm then.
Các dân tộc La Chí, Cò Lao, Pu Péo, La Ha (thuộc nhóm ngồn ngữ Kađai) có những bộ y phục sặc sõ bên cạnh những hiện vật của điệu múa sinh thực khí theo tục ngưòi La H a và cái kèn của ngưồi Cò Lao
Phần thứ năm: Các dân tộc nhóm ngôn ngứ Hmông - Dao, Tạng - Miến và người Sán Dìu, người Ngái
Sau những thông tin chung nhất về các dân tộc này qua 4 panô và một số ít hiện vật ở 2 bên lối vào là 2 nhóm
tủ trưng bày: Một nhóm gồm những tủ về 3 dân tộc: Hmông, Dao, Pà Thẻn vỏi các chủ đề như kỹ thuật tạo hoa văn bàng sáp ong, các đồ gia dụng bằng gỗ, lễ phục của ngưòi Hmông, các đồ gia dụng của ngưòi Pà Thẻn Còn nhóm kia có 1 tủ dành cho ngưòi Sán Dìu và ngưòi Ngái, các tủ khác giỏi thiệu về trang phục nữ, công cụ săn bắn, đòi sóng thưòng ngày và nhạc cụ của 6 dân tộc: Lô
Trang 40tộc ỏ vùng Trường Sơn - Tây Nguyên (Bru - Vân Kiều, Ta
Ôi, Cổ tu, Hrê, Co, Gié - Triêng, Xơ đăng, Ba na, Rơ Măm, Brâu, Mnông, Cơ ho, Mạ, Xtiêng, Chơ Ro) Thuộc
không gian trưng bày này có 5 panô giỏi thiệu về các dân
tộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me ỏ miền Bác, ở Trường Son - Tây Nguyên, về nông nghiệp nương rẫy, về làng, về nhà cửa và tín ngưõng
Bên ngoài các tủ kính, còn có hiện vật để trên giá đõ
và treo ỏ tưòng
Vãn hoá truyền thống của các cư dân này đa dạng, có những nét đặc sắc và khá nguyên sơ Người ta còn thấy đưộc những dấu ấn văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh trên miền Thượng Mặc dù cách bố trí trưng bày có tạo nên sự phân cách nhất định giữa các tộc ở miền Bắc và các tộc ỏ Trưòng Sơn - Tây Nguyên, nhưng vẫn dễ nhận
ra nhũng điểm thống nhất, tương đồng bên cạnh các đặc điểm tộc ngưòi và khu vực Các chủ đề chính ỏ đây là: trang phục nữ Khơ mú, Mảng, các vật dụng hàng ngày của các dân tộc Kháng, Xinh mun, o đu, vỏ bàu trong đòi sống, vật dụng bằng vỏ cây, các loại gùi, nghề dệt vải, nhạc
cụ Có 3 tủ giới thiệu về từng vùng: bắc Trưòng Sơn, bác Tây Nguyên, nam Tây Nguyên và đông Nam Bộ Có riêng một tủ lỏn giỏi thiệu về nguòi Xơ đăng
Lé hội lỏn nhất của các tộc Thượng là lễ hội có đâm trâu cúng thần, do đó lễ hội đâm trâu đã được lấy làm chủ đề tái tạo ỏ đây và đưọc thể hiện trên băng video
39