Ở Việt Nam, hệ thống thể chế tổ chức về bảo tồn ĐDSH và PTBV ngày càng được hoàn thiện, với những chính sách pháp luật khá đồng bộ, đã thúc đẩy quá trình sử dụng bền vững tài nguyên ĐD[r]
Trang 1BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM – TỪ LÝ THUYẾT
TỚI THỰC TIỄN
Võ Thanh Sơn
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là cơ sở cho sự phát triển bền vững (PTBV), nhưng hiện nay, ĐDSH đang bị suy thoái do các hoạt động của con người và sự suy thoái này, ngược lại, lại ảnh hưởng đến tiến trình PTBV của thế giới Vì vậy, bài viết này là một nỗ lực làm sáng
tỏ thực trạng trên thế giới từ góc độ lý thuyết và thực tiễn, thông qua xem xét thể chế, chính sách, đến những cách tiếp cận được áp dụng, để làm rõ mô hình PTBV và bảo tồn ĐDSH Một hệ thống thể chế chính sách toàn cầu đã được thiết lập, với việc áp dụng các nguyên lý PTBV và cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái, làm nền tảng để đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển Ở Việt Nam, hệ thống thể chế tổ chức về bảo tồn ĐDSH và PTBV ngày càng được hoàn thiện, với những chính sách pháp luật khá đồng bộ, đã thúc đẩy quá trình sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH, phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Hệ thống các khu bảo tồn ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và hệ thống các khu dự trữ sinh quyển đang được xây dựng là những địa chỉ thực hành cho công tác bảo tồn ĐDSH gắn với phát triển sinh kế địa phương và xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững
MỞ ĐẦU
Trong những thập niên vừa qua, sự phát triển kinh tế của thế giới cùng tiến bộ khoa học kỹ thuật
đã đem lại thịnh vượng cho con người, nhưng cũng tác động mạnh mẽ đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường Đất đai ở nhiều lãnh thổ bị xói mòn, nhiều nguồn nước bị ô nhiễm, nhưng nghiêm trọng hơn là nhiều hệ sinh thái (HST) đa dạng, bao gồm cả trên cạn và dưới nước, đã bị suy thoái trầm trọng hoặc bị hủy diệt, nhiều loài động thực vật đã bị tuyệt chủng Hậu quả của suy thoái tài nguyên thiên nhiên và thất thoát đa dạng sinh học (ĐDSH) này là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới tiến trình phát triển bền vững (PTBV) trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học trong phát triển trên thế giới, các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức bảo tồn và phát triển khác đã có những cam kết trong công tác bảo tồn ĐDSH, đồng thời thúc đẩy tiến trình PTBV trong mối quan hệ hài hòa Nhiều nỗ lực đã được thực hiện, như xây dựng nền tảng lý thuyết, đến các hoạt động thực tiễn, có quy mô rộng khắp thế giới đã được triển khai, nhằm đảm bảo vai trò quan trọng của ĐDSH trong sự nghiệp PTBV của con người Bài báo này, vì thế, là một nỗ lực nhằm tổng quan
Trang 2được những vấn đề liên quan tới chính sách ở cấp vĩ mô trên thế giới về bảo tồn ĐDSH và PTBV, từ đó, nhìn nhận các hoạt động thực tiễn trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam
1 B ẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN THẾ GIỚI
1.1 Thể chế, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững trên thế giới
Vấn đề môi trường và phát triển đã được đề cập một cách hệ thống tại Hội nghị Môi trường ở Stockhom năm 1972, còn mối quan hệ giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển kinh tế đã được xem xét
từ những năm 80 của thế kỷ XX trong chiến lược của các tổ chức bảo tồn và phát triển, đặc biệt được thể hiện trong “Cứu lấy Trái Đất – Chiến lược cho cuộc sống bền vững” (IUCN, UNEP và WWF, 1996) và “Tương lai chung của chúng ta” của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987) Đến năm 1992, tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Môi trường và phát triển, bảo tồn ĐDSH đã được tất cả các nước tham dự đặc biệt quan tâm và cam kết thực hiện, với việc gia nhập Công ước Đa dạng sinh học và chấp nhận các phương thức và biện pháp bảo tồn sự đa dạng của các loài động, thực vật, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh học và đảm bảo lợi ích thu được phải được chia sẻ một cách công bằng Song song với tiến trình này, Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững đã được giới thiệu, là một văn kiện đồ sộ dài 800 trang, gồm
40 chương, 2.500 khuyến nghị hành động trong phát triển kinh tế và xã hội thân thiện với môi trường và tài nguyên thiên nhiên Sau đó, căn cứ vào tài liệu này, các nước trên thế giới đã xây dựng các Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững cho quốc gia mình, các chương trình nghị sự này đặc biệt quan tâm tới bảo vệ môi trường nói chung, bảo tồn ĐDSH nói riêng trong
ba trụ cột về kinh tế-xã hội-môi trường, trong bối cảnh văn hóa-chính trị khác nhau
1.1.1 Phát triển bền vững
Liên Hợp Quốc đã hình thành Ủy ban về Phát triển Bền vững (United Nations Commission on
Sustainable Development – CSD) vào năm 1992 và từ đó cho đến nay, vẫn là bộ phận quan trọng
của Liên Hợp Quốc để thúc đẩy tiến trình PTBV trên thế giới
Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992 đã tiếp tục phát triển ý tưởng gắn kết những vấn đề môi trường với vấn đề phát triển Với việc thông qua Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững tại Hội nghị, cho đến nay, hàng trăm nước trên thế giới đã xây dựng Chương trình Nghị sự 21 địa phương, làm cơ sở cho chiến lược PTBV cho quốc gia Song song với tiến trình này, 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã được Liên Hợp Quốc thông qua và tổ chức triển khai thực hiện trên toàn thế giới, bao gồm: (i) Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực; (ii) Đạt phổ cập giáo dục tiểu học; (iii) Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; (iv) Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; (v) Tăng cường sức khỏe bà mẹ; (vi) Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác; (vii) Đảm bảo bền vững về môi trường;
và (viii) Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển Bảo tồn ĐDSH là Mục tiêu thứ 7 về Đảm bảo bền vững về môi trường
Hội nghị thượng đỉnh về PTBV tại Johannesburg năm 2002 (Rio+10) đã đưa ra được những chính sách lớn với Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững và Chương trình hành động
"Kế hoạch thực hiện Tuyên bố Johannesburg" và khẳng định tiếp tục thực hiện những mục tiêu
mà Hội nghị Rio 1992 đã đưa ra, theo ba trụ cột là kinh tế-xã hội-môi trường Mười năm sau đó, Hội nghị thượng đỉnh về PTBV tại Rio de Janeiro (Rio+20) năm 2012 đã nhấn mạnh xu hướng
Trang 3PTBV gắn với tăng trưởng xanh và bảo tồn các hệ sinh thái rừng và biển, sử dụng bền vững giá trị ĐDSH, phục vụ lợi ích của con người (xem Bảng 1.1)
Năm 2015 là thời điểm Liên Hợp Quốc sẽ đánh giá kết quả thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ trên toàn thế giới và đề xuất 17 Mục tiêu Phát triển bền vững cho những năm sau năm 2015 (UN, 2014) Ngoài những mục tiêu về giảm nghèo, an ninh lương thực, giáo dục, tài nguyên nước, năng lượng, công bằng, đô thị, năng lượng và biến đổi khí hậu, có hai mục tiêu gắn kết bảo tồn
và phát triển, đó là: (i) Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển, và tài nguyên biển phục vụ PTBV; (ii) Bảo vệ, phục hồi và thúc đẩy sử dụng bền vững hệ sinh thái trên cạn, quản lý bền vững rừng, chống sa mạc hóa, và làm dừng và đảo chiều tình trạng suy thoái đất đai và làm dừng tình trạng thất thoát ĐDSH Như vậy, mục tiêu phát triển bền vững lần này đã nhấn mạnh vai trò của hệ sinh thái và ĐDSH trong tiến trình PTBV so với mục tiêu khái quát về đảm bảo bền vững
về môi trường trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
Đánh giá giám sát phát triển bền vững là một hoạt động quan trọng trong tiến trình thực hiện PTBV của các nước Chính vì vậy, Ủy ban Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc cũng đã tổng hợp các phương pháp luận để xây dựng các chỉ số phát triển bền vững (UN, 1996, 2001, 2007) Dựa vào phương pháp luận này, các nước xây dựng và đề xuất bộ chỉ tiêu giám sát phát triển bền vững phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình
Nhiều tổ chức phát triển như Tổ chức các nước Hợp tác Kinh kế và Phát triển (OECD), Ngân hàng Thế giới, ADB đã quan tâm đến những khía cạnh PTBV từ rất sớm, đặc biệt là về tăng trưởng xanh và kinh tế xanh trong bối cảnh khí hậu (OECD, 2011a; WB, 2011, 2012; ADB, 2013) Tổ chức OECD có kinh nghiệm và đã xây dựng được bộ chỉ số giám sát tăng trưởng xanh theo hiệu suất tài nguyên và môi trường, nền tảng tài sản thiên nhiên, chất lượng cuộc sống về môi trường, cơ hội kinh tế và phản hồi chính sách (OECD, 2011b) Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) đã đề cập tới Khung phân tích Tăng trưởng xanh và nhấn mạnh tới nội dung chính của tăng trưởng xanh, gồm vốn con người, vốn thiên nhiên và vai trò của đổi mới công nghệ Tổ chức Môi trường Liên Hợp Quốc đã khẳng định vai trò của đo đạc những tiến bộ của tăng trưởng xanh, mà qua đó, mới có thể quản lý và thúc đẩy quá trình này, đặc biệt tập trung vào nội dung
về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và phát thải khí nhà kính (UNEP, 2011, 2012)
Bảng 1.1 Tiến trình và một số mốc thời gian quan trọng về phát triển bền vững trên thế giới
1971 Thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển, UNESCO
1972 Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và con người (Hội nghị Stockholm)
1980 Chiến lược Bảo tồn thế giới, IUCN
1987 Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển, với báo cáo “Tương lai chung
của chúng ta”
1992 Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và phát triển (Rio-1992)
1997 Hội nghị Rio+5 về Môi trường và phát triển
2002 Hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững (Rio+10) (Johannesburg)
2012 Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững (Rio+20)
Trang 4Hơn nữa, các thể chế tài chính cũng đưa ra các quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường, bao gồm bảo tồn ĐDSH và vấn đề xã hội trong các dự án đầu tư của mình (Ngân hàng Thế giới, 2004) và hiện nay, những quy định này đang được hoàn thiện thành một quy định thống nhất
1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
Để thúc đẩy quá trình nghiên cứu, điều phối cũng như quản lý bảo tồn ĐDSH và PTBV, Công ước Đa dạng sinh học của Liên Hợp Quốc đã được tất cả các nước ký từ năm 1992 tại Rio de Janeiro, cùng với việc thông qua Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững Từ đó, các nước trên thế giới đã coi Công ước này là một định hướng chiến lược lớn cho công tác bảo tồn
đa dạng sinh học của quốc gia mình, đồng thời gắn chặt với tiến trình bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới Theo sự điều phối của Ban Thư ký thực hiện Công ước đa dạng sinh học, các nước đều gửi báo cáo quốc gia về thực trạng thực hiện công tác bảo tồn đa dạng sinh học của nước mình, gắn với mục tiêu bảo tồn thống nhất trên toàn thế giới
Cho đến nay, Hội nghị các bên tham gia (COP) của Công ước Đa dạng sinh học đã tổ chức 12 cuộc họp thường kỳ và một cuộc họp bất thường Từ năm 1994 đến năm 1996, Hội nghị các bên tham gia tổ chức các cuộc họp thường kỳ hàng năm và bắt đầu từ năm 2000, hội nghị sẽ được tổ chức hai năm một lần
Đặc biệt là, Hội nghị các bên lần thứ 10, tổ chức từ ngày 18-29/10/2010 tại Nagoya, tỉnh Aichi, Nhật Bản, đã thông qua một sửa đổi và cập nhật Kế hoạch chiến lược cho Đa dạng sinh học, bao gồm các Mục tiêu Aichi Đa dạng sinh học cho giai đoạn 2011-2020 Kế hoạch này cung cấp một khuôn khổ tổng thể về ĐDSH, không chỉ đối với các nước tham gia Công ước Đa dạng sinh học,
mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Liên Hợp Quốc và các đối tác khác tham gia quản lý ĐDSH và xây dựng chính sách Mục tiêu Aichi giai đoạn 2011-2020 của Ban Thư ký Công ước
Đa dạng sinh học đã thúc đẩy bảo tồn ĐDSH gắn với sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, nâng cao phúc lợi và sinh kế của cộng đồng địa phương theo phương châm “sống hài hòa
với thiên nhiên (living in harmony with nature)” (CBD, 2010) Cuộc họp thứ 12 của Hội nghị
các bên tham gia Công ước về Đa dạng sinh học được tổ chức tại Pyeongchang, Hàn Quốc từ 06-17/10/2014 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của lồng ghép ĐDSH vào mục tiêu phát triển bền vững sau năm 2015 (CBD, 2014)
1.2 Nhận thức và cách tiếp cận trong phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học
Tiến trình nhận thức về phát triển bền vững bước đầu được tiếp cận từ những người hoạt động trong lĩnh vực môi trường, với việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, do các tổ chức quốc tế về môi trường đề xuất, đặc biệt là tổ chức IUCN, WWF và UNEP (IUCN, UNEP và WWF, 1996; UNEP, 2012)
Sau đó, khái niệm bền vững được nhìn nhận dựa trên ba trụ cột chính là kinh tế-xã hội-môi trường và do Hội đồng Phát triển Bền vững đề xuất, với khái niệm chung nhất là “sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”, hay nói một cách khác, là đảm bảo sự hài hòa giữa ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, bảo
vệ môi trường và công bằng xã hội Gần đây, khái niệm PTBV dựa trên ba trụ cột này được bổ sung thêm khía cạnh văn hóa đặc thù cho từng quốc gia và vùng lãnh thổ, do UNESCO đề xuất
Trang 5Chiến lược Phát triển bền vững của IUCN cũng nhấn mạnh việc tăng cường trụ cột bảo vệ môi trường và công bằng xã hội, vì hai nội dung này thường chưa được quan tâm đúng mức trong thực hiện tiến trình phát triển bền vững
Để thúc đẩy tiến trình PTBV, cách tiếp cận theo Khung động lực-áp lực-hiện trạng-tác động-phản hồi (DPSIR) được triển khai khá rộng rãi trong hoạch định chính sách PTBV Được tổ chức OECD xây dựng, nhằm thực hiện hoạch định chính sách môi trường, cách tiếp cận này tỏ ra khá hiệu quả khi quan hệ nhân quả rất phù hợp cho những nội dung về PTBV Cách tiếp cận nhân quả động lực-hiện trạng-phản hồi (DSR) hay Khung Đánh giá đầy đủ DPSIR này cũng được Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc áp dụng để xây dựng chỉ số PTBV, dựa trên các trụ cột là kinh tế-xã hội-môi trường và thể chế (UN, 1996, 2001) Căn cứ theo thực tiễn áp dụng cách tiếp cận trên các nước trên thế giới, phương pháp luận này đã được cập nhật và hoàn thiện trong tài liệu
về phương pháp xây dựng chỉ số PTBV, áp dụng theo các chủ đề (UNCSD, 2007)
Nhận thức về bảo tồn ĐDSH thay đổi có tính đột phá khi Báo cáo Hệ sinh thái thiên niên kỷ được xuất bản, với sự tham gia của hàng nghìn các nhà khoa học và các nhà quản lý hàng đầu trên thế giới (MEA, 2005) Nhận thức lớn nhất trong báo cáo này là, con người được coi là một phần của HST và khi nghiên cứu đánh giá HST, thì những hoạt động phát triển kinh tế-xã hội của con người phải được xem xét đến Lần đầu tiên, có một cách nhìn tổng thể về mối tác động qua lại của hai hệ thống – hệ tự nhiên và hệ xã hội – với cơ chế tác động qua lại thông qua khái niệm dịch vụ HST (dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa và dịch vụ hỗ trợ) Cũng theo Đánh giá Hệ sinh thái thiên niên kỷ (MEA, 2005), trong hơn 50 năm qua, con người
đã thay đổi HST nhanh chóng và mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thực phẩm, nước ngọt, gỗ, sợi và nhiên liệu, đã tạo ra sự phồn thịnh về kinh tế của xã hội loài người, nhưng đồng thời cũng làm suy giảm các hệ sinh thái và các dịch vụ của chúng trên Trái Đất Cũng theo đánh giá gần đây của UNEP (UNEP, 2012), áp lực lên ĐDSH toàn cầu tiếp tục gia tăng, làm ĐDSH, các HST và các dịch vụ của chúng đều bị giảm sút nghiêm trọng Những lợi ích con người có được từ ĐDSH đang có nguy cơ giảm sút Suy thoái các HST vẫn tiếp tục, mức độ sử dụng, tiêu thụ không bền vững và sự bất bình đẳng trong chia sẻ lợi ích từ ĐDSH đe dọa thành tựu đã đạt được trong những thập kỷ gần đây Liên quan đến hệ sinh thái rừng, mặc dù trong thời gian gần đây, tốc độ mất rừng ở quy mô toàn cầu có giảm so với trước, nhưng vẫn ở mức cao, tương đương với 13 triệu ha/năm trong thập kỷ 2000-2010, so với 16 triệu ha/năm trong thập kỷ
90 của thế kỷ XX, đặc biệt là ở những vùng nhiệt đới, nơi chứa đựng những hệ sinh thái hết sức
đa dạng và phong phú
Dựa trên tư duy này mà cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
và bảo tồn đa dạng sinh học đã được phát triển, với 12 nguyên tắc (IUCN, 2002) và được tổng hợp thành 5 bước thực hiện chính (Shepherd, 2004) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái được phát triển và áp dụng trong lĩnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu bằng cách sử dụng đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái như là một phần của một chiến lược tổng thể để thích ứng (IUCN, 2009, 2010) Những cách tiếp cận này đều dựa trên tài nguyên đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và phục vụ lợi ích phát triển bền vững của con người
Trang 61.3 Thực tiễn và mô hình phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học
Thực tế, chưa có được một mô hình phát triển bền vững một cách toàn mỹ, mà mỗi nước, dựa vào điều kiện kinh tế-xã hội và thể chế chính sách của mình mà xây dựng những mô hình thân thiện với môi trường/thiên nhiên theo hướng bền vững
Một điển hình nữa liên quan đến hình thức quản lý các khu bảo tồn, vườn quốc gia Nhận thức của các tổ chức bảo tồn lớn trên thế giới như IUCN (Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới) thay đổi theo tiến trình nhận thức, nói một cách khái quát, từ nguyên tắc “Bảo tồn vị bảo tồn”, tức là bảo tồn nghiêm ngặt giá trị đa dạng sinh học, sang nguyên tắc “Bảo tồn vị nhân sinh”, tức
là bảo tồn phục vụ lợi ích của con người trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn
Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong các chủ đề của bộ sách hướng dẫn liên quan tới công
tác bảo tồn và quản lý các khu bảo tồn, dưới tiêu đề “Tài liệu thực hành tốt nhất” (best practice),
do Tổ chức IUCN cộng tác với Hiệp hội các Vườn Quốc gia Thế giới xây dựng Trong 22 ấn phẩm xuất bản cho đến nay, những ấn phẩm đầu tiên chủ yếu liên quan tới công tác phân loại, quy hoạch, bảo tồn một cách đơn thuần, tới những ấn phẩm sau lại liên quan tới quá trình phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững Điển hình cho xu thế này trong công tác quản lý bảo tồn tại các vườn quốc gia/khu bảo tồn là hướng dẫn phát triển du lịch bền vững (IUCN, 2002), phát triển nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo tồn (IUCN, 2006), bảo tồn và mối quan hệ với cộng đồng người dân địa phương (IUCN, 2004), phục hồi hệ sinh thái gắn với phát triển sinh
kế bền vững (IUCN, 2012), hay bảo tồn gắn với phát triển đô thị bền vững (IUCN, 2014)
Tài nguyên đa dạng sinh học nói chung và các hệ sinh thái nói riêng là nền tảng cho sự phát triển kinh tế-xã hội toàn cầu và trên thực tế đã đem lại lợi ích kinh tế vô cùng to lớn cho sự phát triển bền vững thông qua các giá trị dịch vụ hệ sinh thái (xem Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Vốn thiên nhiên trong tăng trưởng xanh:
Một số ví dụ hàng hóa, dịch vụ hệ sinh thái và giá trị kinh tế
Đa dạng sinh học Hàng hóa và dịch vụ
hệ sinh thái Giá trị kinh tế
Hệ sinh thái (đa dạng
và mức độ/khu vực)
- Vui chơi giải trí
- Điều tiết nước
- Lưu trữ cacbon
Giảm phát thải khí nhà kính bằng cách bảo tồn rừng: 3,7 nghìn tỷ USD (NPV)
Loài (đa dạng và
phong phú)
- Lương thực, vải sợi, chất đốt
- Cảm hứng thiết kế
- Thụ phấn cây trồng
Đóng góp của côn trùng trong thụ phấn cây trồng cho sản phẩm nông nghiệp 190 tỷ USD/năm
Gen - Những phát minh y học
- Chống chịu bệnh tật
- Năng lực thích ứng
25-50% trong tổng số 640 tỷ USD của thị trường dược của Mỹ có nguồn gốc tài nguyên di truyền
Nguồn: UNEP, 2011
Trang 7Phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái do các tác động của con người cũng có một ý nghĩa rất quan trọng Căn cứ vào mục đích thực hiện, phục hồi hệ sinh thái có thể chia thành các nhóm sau: (i) Bảo tồn đa dạng sinh học; (ii) Đảm bảo nguồn nước cung cấp; (iii) Đảm bảo an ninh lương thực; (iv) Đảm bảo sức khỏe và quản lý nước thải; (v) Giảm nhẹ biến đổi khí hậu; (vi) Ngăn ngừa và giảm nhẹ thiên tai; (vii) Lợi ích kinh tế của phục hồi hệ sinh thái chính là thông qua kinh tế xanh và phát triển bền vững (UNEP-WCMC, 2010) Một đánh giá của 89 dự án phục hồi hệ sinh thái lớn trên toàn thế giới kết luận rằng, phục hồi sinh thái làm tăng giá trị đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái tương ứng là 44% và 25% (Benayas và nnk., 2009)
Khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ) được coi là phòng thí nghiệm sống cho sự PTBV và là những trung tâm học tập cho khả năng thích ứng của môi trường và con người Theo Kế hoạch hành động Madrid do Hội nghị quốc tế các KDTSQ thế giới lần thứ 3 tổ chức vào tháng 2/2008 tại Madrid, Tây Ban Nha đề xuất (UNESCO-MAB, 2008), Mạng lưới các Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới (WNBR) thuộc Chương trình Con người và Sinh quyển là một mạng lưới tương tác năng động, nhằm thúc đẩy sự hội nhập hài hòa giữa con người và thiên nhiên hướng tới PTBV thông qua đối thoại có sự tham gia, chia sẻ kiến thức, xóa đói giảm nghèo và cải thiện cuộc sống của con người, tôn trọng các giá trị văn hóa và năng lực xã hội trong việc ứng phó với sự thay đổi, góp phần thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Vì vậy, Mạng lưới các Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới là một trong những công cụ quốc tế chủ yếu để phát triển và thực hiện các phương pháp tiếp cận phát triển bền vững trong những bối cảnh rộng lớn hơn Đến năm
2013, đã có 621 KDTSQ được thành lập trên toàn thế giới, thuộc 117 quốc gia, bao gồm tất cả các loại hệ sinh thái đa dạng, từ các khu vực rộng lớn có diện tích hàng triệu hecta, đến các khu vực tương đối nhỏ, nằm trong những vùng dân cư đông đúc
2 B ẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
2.1 Thể chế, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững ở Việt Nam
Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tới bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường và phát triển năm
1992 và sau đó đã ký Công ước Đa dạng sinh học Một hệ thống thể chế, các chính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững đã được xây dựng khá đầy
đủ ở Việt Nam (Bảng 2.1)
Việt Nam đã thành lập Hội đồng Phát triển Bền vững từ năm 2005, là đại diện của các bộ, ngành địa phương, do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch Văn phòng Phát triển Bền vững, trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm cơ quan thư ký cho Hội đồng Ngoài ra, một số bộ như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương cũng thành lập ban chỉ đạo PTBV ngành
và văn phòng PTBV của bộ mình, nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng thành lập Văn phòng Doanh nghiệp vì sự Phát triển Bền vững, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp
Trang 8Bảng 2.1 Các mốc chính thực hiện phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam
1990 Thành lập Cục Môi trường
1993, 1998,
2014
Luật Bảo vệ môi trường
1998 Nghị quyết của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
2003 Thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường
2003 Chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường
2004 Định hướng chiến lược về Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình
Nghị sự 21 của Việt Nam) Văn phòng Phát triển Bền vững (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) được thành lập
Luật Bảo vệ và phát triển rừng
2005 Hội đồng Phát triển Bền vững Quốc gia đã được thành lập; Ban Chỉ đạo Phát
triển Bền vững Tài nguyên và Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Ban Chỉ đạo PTBV ngành Công nghiệp (Bộ Công Thương) được thành lập
2006 Văn phòng Doanh nghiệp vì sự Phát triển Bền vững (Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam) được thành lập
2008 Luật Đa dạng sinh học
2012 Chiến lược Phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020; Chiến lược quốc gia về
Tăng trưởng xanh; Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
2013 Kế hoạch hành động quốc gia về Phát triển bền vững giai đoạn 2013-2015
Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030
2014 Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020;
Quy hoạch tổng thể Bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược Quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
2015 Luật Tài nguyên và môi trường biển và hải đảo
Nguồn: CHXHCN Việt Nam, 2012 và cập nhật của tác giả
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác bảo
vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH, gắn với phát triển kinh tế-xã hội và nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật để triển khai thực hiện trên thực tế Nhiều chiến lược có liên quan đã được xây dựng,
Trang 92003); Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 (năm 2007); Chiến lược Quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010 (năm 2003); Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học (năm 1995) Một hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993, sửa đổi năm 2005), Luật Tài nguyên nước (ban hành năm 1999), Luật Đa dạng sinh học (ban hành năm 2009), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (ban hành năm 1991, sửa đổi năm 2005) và Luật Biển (ban hành năm 2015)
Đặc biệt là, Luật Đa dạng sinh học về bảo tồn và PTBV ĐDSH đã nhấn mạnh sử dụng bền vững HST tự nhiên, các loài sinh vật và tài nguyên di truyền, phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học lại làm rõ hơn về sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ HST và ĐDSH phục vụ cho PTBV
2.2 Nhận thức và cách tiếp cận trong phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học
Ở Việt Nam năm 2004, khi ban hành Định hướng Phát triển bền vững, nhiều nghiên cứu về bộ chỉ tiêu về phát triển bền vững đã được thực hiện (Lê Anh Sơn và Nguyễn Công Mỹ, 2006), chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Hội đồng Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc (UN, 1996,
2001, 2007) Bộ chỉ tiêu Phát triển bền vững cho quốc gia đã được thông qua và được ban hành kèm theo Chiến lược Phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (Chính phủ Việt Nam, 2012) và cho địa phương trong Bộ chỉ tiêu Giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương giai đoạn 2013-2020 (Chính phủ Việt Nam, 2013), đặc biệt nhấn mạnh tới thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng cacbon thấp, đồng thời giảm nhẹ tác động và ứng phó với BĐKH, phòng chống thiên tai Cụ thể, chỉ tiêu GDP xanh (bắt đầu thực hiện từ 2015), với khía cạnh hạch toán những chi phí ô nhiễm và thiệt hại do thiên tai trong hệ thống tài khoản quốc gia và các phương pháp tính toán GDP xanh thống nhất cho toàn quốc đang trong quá trình xây dựng và áp dụng thử nghiệm (CIEM, 2012) Đối với cấp độ địa phương, chỉ tiêu phát triển bền vững địa phương cũng đang được đề xuất áp dụng, đặc biệt là chỉ tiêu số 26 về “Số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại”, nhằm cung cấp thêm số liệu để tính toán GDP xanh tại địa phương
Cách tiếp cận DPSIR cũng được áp dụng trong xây dựng các chỉ số/chỉ tiêu phát triển bền vững
và bảo tồn ĐDSH, đặc biệt trong xây dựng Chỉ số PTBV giai đoạn 2011-2020 (Chính phủ Việt Nam, 2012) và Chỉ số Giám sát đánh giá đa dạng sinh học (Bộ TN&MT và JICA, 2014)
Để có thể thúc đẩy việc đánh giá và giám sát đa dạng sinh học, các tổ chức quốc tế đã biên soạn tài liệu hướng dẫn xây dựng bộ chỉ thị đa dạng sinh học (BIP, 2011; UNEP-WCMC, 2010) Ở Việt Nam, bộ chỉ thị đa dạng sinh học đã được xây dựng và hướng dẫn sử dụng, góp phần vào việc đánh giá và giám sát đa dạng sinh học (Hoàng Thị Thanh Nhàn và nnk., 2014; Bộ TN&MT
và JICA, 2014) Như vậy, bộ chỉ thị này cũng có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản lý thông qua đánh giá được thực trạng đa dạng sinh học trong khu vực nghiên cứu
Ở cấp độ vĩ mô, nhằm phục vụ cho giám sát tiến trình phát triển bền vững của đất nước, bộ Chỉ tiêu Phát triển bền vững quốc gia (Chính phủ Việt Nam, 2012) và cho địa phương (Chính phủ Việt Nam, 2013) Bộ Chỉ tiêu Giám sát phát triển bền vững quốc gia đã được phê duyệt này sẽ là khuôn khổ chung để xây dựng được những tiêu chí PTBV cho các KDTSQ ở Việt Nam
Trang 10Hiện nay, cách tiếp cận quản lý dựa trên HST đã được áp dụng trong công tác quản lý bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam, thông qua áp dụng 12 nguyên tắc, được nhóm thành 5 bước lớn thực hiện trong quản lý (Shepherd, 2004) và xây dựng được tài liệu hướng dẫn cho quản lý các khu đất ngập nước tại Việt Nam (Shepherd và Lý Minh Đăng, 2008), dựa trên nhiều nghiên cứu trước đó
về tiếp cận HST trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Cách tiếp cận này đã được áp dụng trong các ngành lâm nghiệp, thủy sản, các địa phương và một số khu bảo tồn để giải quyết đồng bộ vấn
đề bảo tồn, sự chia sẻ công bằng các lợi ích và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên như Vườn Quốc gia U Minh Hạ, KDTSQ Cần Giờ, phá Tam Giang, Cầu Hai, cũng như xây dựng hành lang xanh nối giữa các khu bảo tồn (Bộ TN&MT, 2014) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới bị tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Để thúc đẩy quá trình thích ứng với BĐKH và thiên tai ngày
càng khốc liệt, cách tiếp cập thích ứng dựa trên HST (ecosystem-based adaptation) đã bước đầu
được nghiên cứu và triển khai trên thực tế (ISPONRE, 2013)
Để hoàn thiện công tác quản lý bảo tồn gắn với phát triển bền vững, Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam đưa ra và áp dụng cách tiếp cận “tư duy hệ thống, quy hoạch cảnh quan, điều phối liên ngành, kinh tế chất lượng” gọi tắt là SLIQ (Ishwaran và nnk., 2008) trong việc xây dựng và quản lý các KDTSQ do tổ chức UNESCO công nhận tại Việt Nam
và được áp dụng thí điểm tại KDTSQ Cát Bà và KDTSQ Đất ngập nước ven biển Châu thổ Sông Hồng Việc phân vùng, gồm vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp, đã tạo điều kiện cho việc quy hoạch không gian, nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với phương châm của Chương trình Con người và Sinh quyển là “bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn” Những kinh nghiệm áp dụng phương pháp này đang được các địa phương khác học tập, nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững tại địa phương mình
2.3 Thực tiễn và mô hình phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học
2.3.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống khu bảo tồn
Mô hình bảo tồn gắn với phát triển đã được hình thành và phát triển cùng với lịch sử phát triển các hệ thống các khu bảo tồn ở Việt Nam, theo hệ thống rừng đặc dụng Theo quy định của Việt Nam, chức năng chính của khu bảo tồn (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên) là bảo tồn ĐDSH ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi HST bị suy thoái ở phân khu phục hồi sinh thái
và các hoạt động quản lý tại phân khu dịch vụ – hành chính Bao quanh khu bảo tồn là vùng đệm, thường là các xã với dân số rất lớn và nhiều khi sinh kế của người dân địa phương phụ thuộc vào khai thác tài nguyên của khu bảo tồn
Hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất khái niệm về vùng đệm của khu bảo tồn, kể cả nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Về lý thuyết, đây là nơi sẽ áp dụng những sinh kế thân thiện với thiên nhiên và ĐDSH, nhưng trên thực tế, do sức ép của người dân sinh sống xung quanh hay trong các khu bảo tồn ngày càng mạnh, công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn (Võ Quý, 2002) Để giải quyết các mâu thuẫn trên, nhiều khu bảo tồn đã thực hiện một số dự án về nâng cao nhận thức về môi trường, cải thiện cuộc sống người dân địa phương, nhất là những người nghèo sống xung quanh các khu bảo tồn và đã thu được một số kết quả khả quan, như trường hợp phát triển sinh kế để bảo tồn, trường hợp điển hình của cộng đồng tại xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh