1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 12

Bảo hộ sáng chế - so sánh pháp luật Đức và Việt Nam

14 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 401,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, ngay cả khi Luật Sáng chế năm 1877 nói về việc luật không cần đưa ra khái niệm "sáng chế", việc xuất hiện khái niệm hầu như trong tất cả các giáo trình về sáng chế cho đ[r]

Trang 1

BẢO HỘ SÁNG CHẾ - SO SÁNH PHÁP LUẬT ĐỨC VÀ VIỆT NAM

PGS TS Nguyễn Thị Quế Anh

Khoa Luật, ĐHQGHN

Đề dẫn:

Trong bối cảnh hình thành và phát triển nền kinh tế dựa trên sáng tạo tại các nước phát triển và đang phát triển vấn đề về cơ chế bảo hộ các thành quả của hoạt động sáng tạo và đầu tư ngày càng được chú trọng Một nền kinh tế sáng tạo không phụ thuộc hoàn toàn vào năng suất lao động hay tài nguyên thiên nhiên mà còn dựa vào các ứng dụng công nghệ và sự học hỏi, đổi mới.3 Cần khẳng định rằng mức độ triển khai nền kinh tế sáng tạo ở các nước với trình độ phát triển khác nhau có những đặc thù khắc biệt Sự khác biệt này được lý giải bởi sự hiện diện hay thiếu vắng những tập hợp các điều kiện và yếu tố cần thiết cho việc hình thành và hoạt động của các nguyên tắc và cơ chế của nền kinh tế sáng tạo Một trong những cơ chế này hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), trong đó vai trò quan trọng thuộc về hệ thống bảo hộ sáng chế

Sự cần thiết của việc nghiên cứu so sánh pháp luật về bảo hộ sáng chế giữa CHLB Đức và Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo này xuất phát từ một loạt các lý do như sau:

Thứ nhất, hệ thống bảo hộ sáng chế (patent) được coi là một trong

những thiết chế pháp luật năng động và luôn được cập nhập, đổi mới cùng với việc phát triển các nhu cầu kinh tế Một trong những đặc trưng của luật sáng chế hiện đại là kết hợp các hệ thống bằng sáng chế của các quốc gia khác nhau Điều này giúp đưa ra các chuẩn mực quốc gia thống nhất thông qua sự hài hoà, thống nhất và liên tục cập nhập Trong bối cảnh như vậy việc nghiên cứu pháp luật sáng chế nước ngoài, đặc biệt là CHLB Đức – quốc gia đang sở hữu một trong những hệ thống patent hiện đại nhất, đồng thời có Tòa sáng chế Liên bang4 với hoạt động từ rất lâu đời là điều hết sức cần thiết

3

The Business VietNam Nền kinh tế sáng tạo của một quốc gia là gì? Xem:

http://thebusiness.vn/bai-viet/nen-kinh-te-sang-tao-cua-mot-quoc-gia-la-gi_2934.html (truy cập 11.3.2018)

4

Tòa án sáng chế liên bang của CHLB Đức được thành lập vào tháng 7.1961 Đây là Tòa án đặc biệt để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp ở Đức Thẩm quyền xét xử của tòa án không chỉ liên

Trang 2

Thứ hai, pháp luật về bảo hộ sáng chế của CHLB Đức có sự hài hòa với

pháp luật về bảo hộ sáng chế của Liên minh Châu Âu trong khuôn khổ các thỏa thuận patent như Công ước Châu Âu về sáng chế được ký kết tại Munich năm 1973 (European Patent Convention - EPC)5, Công ước Luxembourg về sáng chế dành cho Khối thị trường chung 1975 (CONVENTION FOR THE EUROPEAN PATENT FOR THE COMMON MARKET - Люксембург, 1975)6 Hơn thế nữa, CHLB Đức là nơi đặt trụ sở của Cơ quan sáng chế Châu

Âu Xu hướng chung hiện nay là sẽ tăng cường, mở rộng và hoàn thiện hệ thống bằng sáng chế Châu Âu, thay đổi cấu trúc và giảm thiểu các quyền SHTT quốc gia cùng với việc tăng cường hòa nhập thực tiễn xét nghiệm của

ba cơ quan sáng chế lớn – Đức, Mỹ và Nhật Bản hướng tới mục đích chung là tăng cường bảo hộ sáng chế Do vậy, định hướng và kinh nghiệm lập pháp của Đức trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế sẽ là hết sức cần thiết với Việt Nam trong bối cảnh sửa đổi Luật SHTT 2015 nhằm hướng tới thực thi trong tương lai những thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CP TPP) và các thỏa thuận khác

Thứ ba, mặc dù quá trình hợp nhất pháp luật về sáng chế quốc tế ngày

càng gia tăng, tuy nhiên hệ thống sáng chế quốc gia vẫn được coi là trọng tâm Trong pháp luật sáng chế các quốc gia phát triển (trong đó có CHLB Đức) tính nhất quán nội bộ của các quy phạm được thể hiện một cách rõ nét hơn so với nhiều lĩnh vực pháp luật khác Đây là lĩnh vực quyền phát sinh như

quan đến các tranh chấp về sáng chế, mà còn đối với các tranh chấp về nhãn hiệu hàng hoá, giả pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí tích hợp và các tranh chấp liên quan đến bảo hộ giống cây trồng Ngoài ra, Tòa án có thẩm quyền để quyết định về việc cấp license cưỡng chế Sau khi Công ước Sáng chế Châu Âu có hiệu lực, Tòa án sáng chế Liên bang được giao nhiệm vụ mới, trong đó có việc ra các quyết định liên quan đến việc hủy bỏ bằng sáng chế châu Âu, liên quan đến Đức Xem: Добрынин Олег Викторович, Орлова Валентина Владимировна Как работают патентные суды Германии и Великобритании? РОССИЙСКАЯ БИБЛИОТЕКА ИНТЕЛЛЕКТУАЛЬНОЙ СОБСТВЕННОСТИ Журнал

"Патенты и лицензии" 2007 Xem: http://troy.ru/article.php?article=353 (truy cập 11.3.2018)

5 CHLB Đức hầu như được coi là nhà sáng lập ra Công ước này Xem: Кузьмина, О М Критерии и объем патентной охраны по законодательству Германии и России : Сравнительно-правовой анализ Автореферат диссертации на соискание ученой степени кандидата юридических наук

Источник: Электронный каталог отраслевого отдела по направлению «Юриспруденция» (библиотеки юридического факультета) Научной библиотеки им М Горького СПбГУ http://law.edu.ru/book/book.asp?bookID=107677 (ngày truy cập 10.3.2018)

6 Xem:

https://publications.europa.eu/en/publication-detail/-/publication/b884b73a-8a0b-4c34-b1de-f4de8c5fa6df/language-en (truy cập 11.3.2018)

Trang 3

là những “vệ tinh” trực tiếp của tiến bộ khoa học và kỹ thuật và chỉ có thể phát triển dựa trên chính những yếu tố này Đồng thời, sự phát triển của khoa học và công nghệ của các nước Tây Âu (trong đó có CHLB Đức) đã cho thấy không ít cơ hội để sử dụng quá trình hội nhập sáng chế với mục tiêu thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật Trong bối cảnh phát triển của làn sóng Cách mạng

kỹ thuật mới (Cách mạng 4.0) việc nâng cấp hệ thống pháp luật về bảo hộ sáng chế của Việt Nam tới những chuẩn mực bảo hộ cao hơn cần hướng tới mục tiêu hỗ trợ cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế Thông qua việc hoàn thiện hệ thống sáng chế quốc gia trên cơ sở kinh nghiệm các quốc gia phát triển như CHLB Đức, các nước đang phát triển như Việt Nam sẽ thiết lập được những công cụ hữu hiệu nhằm thúc đẩy được hoạt động nghiên cứu, sản xuất kinh doanh tiến tới đạt được các mục tiêu về phát triển khoa học – công nghệ và kinh tế - xã hội

Thứ tư, CHLB Đức là một cường quốc trong lĩnh vực cấp bằng sáng

chế và chuyển giao sáng chế Kinh nghiệm tích lũy của Đức trong lĩnh vực này không chỉ thú vị cho các nhà nghiên cứu và các nhà lập pháp của Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng với các các nhân, đơn vị đang triển khai những hoạt động thực tiễn liên quan đến sáng chế Kiến thức về pháp luật sáng chế và thực tiễn thực thi pháp luật sáng chế của CHLB Đức sẽ dành được sự quan tâm của cả các nhà sáng chế, nhà đầu tư và chủ sở hữu sáng chế trong nước, đặc biệt là các chủ thể đang và sẽ tham gia vào vào thị trường công nghệ Châu Âu và thế giới

Với thời gian nghiên cứu tương đối hạn hẹp, nội dung báo cáo sẽ tập trung vào các vấn đề như sau: sự hình thành hệ thống bảo hộ sáng chế theo hình thái pháp luật Đức”; một số nội dung cơ bản của pháp luật về bảo hộ sáng chế của CHLB Đức: Phạm vi bảo hộ sáng chế, các tiêu chí bảo hộ sáng chế; bảo hộ sáng chế công vụ Các phân tích đối sánh với pháp luật Việt Nam

sẽ được diễn giả trình bày trực tiếp tại Hội thảo và sẽ được bổ sung, cập nhập trong quá trình hoàn thiện tài liệu sau khi Hội thảo diễn ra

1 Sự hình thành hệ thống bảo hộ sáng chế theo “hình thái của Đức”

Pháp luật về bảo hộ sáng chế ở Đức xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, muộn hơn so với một loạt các quốc gia khác như Anh, Pháp, Áo, … Trước

Trang 4

khi hình thành nước Đức thống nhất vào cuối thế kỷ XIX, vào giữa thế kỷ XIX một số hầu quốc Đức riêng lẻ đã thực hiện những bước đi đầu tiên nhằm bảo hộ các giải pháp kỹ thuật Vào năm 1877, Đạo luật đầu tiên về bảo hộ sáng chế ra đời trên cơ sở các đạo luật sáng chế và thực tiễn áp dụng ở các quốc gia khác nhau Đạo luật này được sửa đổi, bổ sung (năm 1891, 1923, 1936)7 nhằm phù hợp với sự phát triển của hệ thống sáng chế tại Đức và trên thực tế đã đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia Theo đạo luật này, từ năm 1877 patent đầu tiên được cấp

từ số 1, bản mô tả sáng chế được công bố trên Công báo sáng chế chính thức, patent cuối cùng được cấp theo Luật 1877 vào tháng 5.1945 mang số thứ tự

768161.8 Trong giai đoạn này, tại các quốc gia phát triển trên thế giới đã hình thành những hệ thống bảo hộ sáng chế theo các mô hình khác nhau, trong đó

có mô hình bảo hộ sáng chế theo hình thái của Đức.9 Mô hình này có những đặc trưng như sau: quy định về tiêu chí khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế và tính mới tương đối trên toàn thế giới; bổ sung từ lý thuyết và thực tiễn áp dụng 2 tiêu chí bảo hộ là trình độ sáng tạo cao và tiến bộ kỹ thuật; loại trừ bảo hộ sáng chế đối với các sản phẩm hóa học, thuốc, thức ăn và hương vị; cấp patent với hệ thống hai cấp xét nghiệm …

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, nước Đức phân chia thành hai quốc gia Tại CHLB Đức pháp luật về sáng chế tiếp tục phát triển trên cơ sở Luật sáng chế trước đây với văn bản được sửa đổi vào năm 1961 CHLB Đức đã thành lập Cơ quan sáng chế vào năm 1949 và từ năm 1960 bắt đầu cấp patent

từ số 800001.10 Tại Đức văn bằng bảo hộ sáng chế được tích cực cấp cho nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong kỹ thuật điện, hóa học, cơ khí,

7

Vào năm 1923 thời hạn bảo hộ sáng chế được tăng lên đến 18 năm; vào tháng 5.1936 bổ sung thêm quyền của tác giả sáng chế từ chối nêu tên trên tài liệu sáng chế, đồng thời bổ sung thêm quy định về thời hạn ưu tiên về tính mới cho tác giả trong vòng 6 tháng, … Кузьмина, О М Критерии и объем патентной охраны по законодательству Германии и России :

Сравнительно-правовой анализ : Автореферат диссертации на соискание ученой степени кандидата юридических наук Xem: http://law.edu.ru/book/book.asp?bookID=107677 (truy cập 10.3.2018)

8 Xem: http://freepapers.ru/55/patentnoe-pravo-germanii/43475.280643.list1.html (truy cập 11.3.2018)

9 Trong giai đoạn này có 4 mô hình bảo hộ sáng chế: Đức, Roman, Anh và Mỹ Xem: И З

Мамиофа Правовая oхрaнa изобретений в капиталистических и развивающихся странах Учебное пособие, М ВНИИПИ, 1986, cтр 11

10

Xem: История развития патентного законодательства

http://librisum.com/patent/promsob03.htm (truy cập 11.3.2018)

Trang 5

điện tử Nước Đức giữ một trong những vị trí hàng đầu trên thế giới theo số lượng patent được cấp Các chủ thể đăng ký sáng chế chủ yếu là đại diện các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà sáng chế độc lập cũng như đại diện các doanh nghiệp công nghiệp lớn Năm 1968, Đức ban hành đạo luật mới về bảo

hộ sáng chế nhằm đắp ứng những yêu cầu ngày càng giai tăng trong bảo hộ sáng chế Luật về bảo hộ sáng chế 1968 đã tác động lớn đến hoạt động sáng chế cũng như hệ thống tài liệu sáng chế Đạo luật đã làm rõ hơn các tiêu chí bảo hộ sáng chế và bổ sung việc cấp bằng sáng chế đối với các chất được tạo

ra bằng phương pháp hóa học cũng như các sản phẩm là hương vị, đồ ăn, thuốc chữa bệnh; bổ sung hệ thống gia hạn xét nghiệm sáng chế, …

Dưới sự ảnh hưởng của các thỏa thuận quốc tế về sáng chế (Công ước

về thống nhất một số quy định của luật về sáng chế 1963- Convention on the Unification of Certain Points of Substantive Law on Patents for Invention 1963; Hiệp ước hợp tác sáng chế 1970 - Patent Cooperation Treaty 1970 – PCT; Công ước Châu Âu về sáng chế 1973 - European Patent Convention – EPC; Công ước về sáng chế dành cho Khối thị trường chung 1975), từ năm

1976 bắt đầu sự hoạt động cải tổ hệ thống pháp luật về sáng chế tại CHLB Đức Những thay đổi trong các quy định về bảo hộ sáng chế của Đức trước năm 1980 liên quan chủ yếu đến các vấn đề: thứ nhất, xác định phạm vi bảo

hộ đối với sáng chế; thứ hai, hủy bỏ ưu tiên về tính mới; thứ ba, một loạt các quy định khác về về luật nội dung và hình thức, cụ thể là: xác định nguyên tắc

ưu tiên nội bộ (ưu tiên quốc gia), hủy bỏ công bố đối với những đơn đã trải qua xét nghiệm, đưa ra khái niệm vi phạm sáng chế gián tiếp, v.v 11 Ngoài

ra, sự hòa nhập của Luật sáng chế Đức với pháp luật sáng chế Châu Âu trước hết xuất phát từ sự cần thiết phải xóa bỏ sự khác biệt về hiệu lực của các văn bằng bảo hộ sáng chế quốc gia do Văn phòng sáng chế CHLB Đức cấp với các văn bằng bảo hộ sáng chế do Văn phòng sáng chế Châu Âu cấp và hoạt động tại các quốc gia thành viên như với tư cách các sáng chế quốc gia.12

Thành quả của các cải cách trong lĩnh vực sáng chế diễn ra vào những thập niên 60 -70 tại Đức chính là sự ra đời của Luật sáng chế (Patentgesetz – PatG)

11 Финкель Н.К .Патентное законодательство зарубежных стран// Сост М.:

«Прогресс» 1987 С 554.

12

Krieger A Das neue deutsche Patentrecht nach der Harmonisierung mit dem europäischen Patentrecht — eine Ubersicht// GRUR Int.1981 № 5 S 284

Trang 6

ngày 16.12.1980 và có hiệu lực từ 1.1.1980 với những thay đổ chỉnh sửa tiếp theo Đây là đạo luật cơ bản trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế của Đức, điều chỉnh các quan hệ về đối tượng sáng chế, trình tự đăng ký sáng chế, cấu trúc

và chức năng cơ quan sáng chế, trách nhiệm do vi phạm sáng chế và hàng loạt các vấn đề khác Ngoài ra, Đức cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn việc thực hiện các quy định của Luật này.13

Ngoài ra, thực tiễn xét xử cũng đóng vào trò quan trọng trong hệ thống pháp luật về sáng chế của Đức Mặc dù bản thân những phán quyết của của Tòa sáng chế, Tòa Liên bang và các tòa án khác trong các vụ việc có liên quan đến sáng chế không được coi là án lệ nhưng chúng lại có ảnh hưởng quan trọng đến chính sách patent đối với những vấn đề phát sinh trong thực tiễn Ví dụ, một trong những vấn đề nổi trội của Luật Sáng chế Đức là không đưa ra khái niệm sáng chế Nội hàm của sáng chế được xác định xuất phát từ chính các tiêu chí bảo hộ sáng chế đươc quy định trong Luật cũng như được phát triển từ thực tiễn tư pháp và hành chính.14 Như vậy, thực tiễn tư pháp và hành chính về sáng chế luôn thực hiện vai trò giải thích và “lấp đầy” những khoảng trống của Luật sáng chế và do vậy luôn được coi là công cụ quan trọng để bảo vệ những nhà đầu tư, sáng tạo trong lĩnh vực sáng chế

2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật về bảo hộ sáng chế Đức trong đối sánh với Việt Nam

2.1 Phạm vi bảo hộ sáng chế

Nghiên cứu pháp luật Đức về phạm vi bảo hộ sáng chế có thể nhận thấy 13

Trong đó có: Thủ tục nộp đơn sáng chế (Verordnung über die Anmeldung von Patenten) ngày 29.5.1981 với những sửa đổi và bổ sung; Hướng dẫn về lệ phí (Kostenmerkblatt - Gebühren und Auslagen des Deutschen Patentamts und des Bundespatentsgerichts)ban hành vào tháng 6.2010; Ghi chú về thông tin tác giả (Erfinderbenennungsverordnung - ErfBenVO)ngày 29.5.1981; Hướng dẫn về xét nghiệm (Begutachtung) ngày 24.6.1981; Hướng dẫn về tìm kiếm công bố ngày 24.6.1981; Luật về hỗ trợ trong việc thanh toán các chi phí về thủ tục (Verfahrenskostenhilfe), được bổ sung trong các chương có liên quan của Luật bảo hộ sáng chế (

§129-138 PatG-Verfahrenskostenhilfe) ngày 13.6.1980 Xem: Патентное право Германии http://www.web-globus.de/articles/patentnoe_pravo_germanii (truy cập 11.3.2018)

14

Vì vậy, ngay cả khi Luật Sáng chế năm 1877 nói về việc luật không cần đưa ra khái niệm "sáng chế", việc xuất hiện khái niệm hầu như trong tất cả các giáo trình về sáng chế cho đến ngày nay

ở Đức có liên quan đến phán quyết của Tòa án sáng chế ngày 27.3.1969, trong đó xác định “việc bảo hộ sáng chế dành cho giải pháp về một hành động có hệ thống với việc áp dụng các công cụ kiểm soát tự nhiên để đạt được kết quả (для достижения причинно обозримого результата») Xem: Финкель Н.К Современное патентное право: проблемы и тенденции// Патенты и лицензии 1994 № 7-8 С 31

Trang 7

xu hướng mở rộng không ngừng phạm vi bảo hộ sáng chế đối với từng đối tượng cụ thể Bản thân bản chất kỹ thuật trong khái niệm sáng chế cũng như tiêu chí về khả năng áp dụng công nhiệp là những lý do để loại trừ một số giải pháp ra khỏi phạm vi bảo hộ sáng chế Tên gọi của một số điều luật đã trực tiếp đưa ra những ngoại lệ có tính then chốt: phương pháp phẫu thuật và điều trị người và động vật, phương pháp chẩm đoán thực hành trên cơ thể người và động vật – những giải pháp này không đáp ứng yêu cầu về khả năng áp dụng công nghiệp Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với các sản phẩm (ví dụ:dụng cụ phẫu thuật, thiết bị dùng trong trị liệu, … ) cũng như với các chất liệu (hỗn hợp) dùng trong điều trị chữa bệnh Từ việc ban hành Luật sáng chế năm 1968, tại Đức đã cho phép việc cấp patent cho các phương pháp tạo ra các chất liệu khác nhau (thức ăn, thuốc, hương vị, … ) trong quá trình áp dụng các

vi sinh vật và bảo hộ chính các vi sinh vật Đồng thời bắt buộc phải nộp lưu các chủng vi sinh này Từ năm 1968, Đức bắt đầu cho phép cấp patent cho các chất liệu được tạo ra bằng phương pháp hóa học.15 Như vậy từ chỗ cấm hoàn toàn việc cấp patent đối với các chất hóa học, pháp luật sáng chế Đức đã mở ra khả năng bảo hộ các đối tượng này thông qua cơ chế bảo hộ gián tiếp

Qua phân tích thực tiễn xét xử các vụ việc liên quan đến sáng chế, đặc biệt là các phán quyết của Tòa án tối cao Đức về khả năng bảo hộ sáng chế đối với các giải pháp kỹ thuật có liên quan đến chương trình máy tính có thể đưa ra kết luận về khả năng mở rộng phạm vi bảo hộ sáng chế.16 Một số lập luận trong các phán quyết này dường như đã làm thay đổi hình dung về bản chất kỹ thuật của sáng chế, điều này dẫn đến khả năng về xu hướng thu hẹp lại phạm vi những đối tượng không được cấp bằng sáng chế và cho phép cấp bằng sáng chế đối với các phần mềm

2.2 Tiêu chí bảo hộ sáng chế

Theo quy định của Luật sáng chế Đức (§1 PatG – Patentfähige Erfindung – tiêu chí bảo hộ sáng chế), cũng như xuất phát từ thực tiễn tư pháp

và hành chính về sáng chế, tiêu chí bảo hộ sáng chế được áp dụng trong xem

15 Xem: И З Мамиофа Правовая oхрaнa изобретений в капиталистических и

развивающихся странах Учебное пособие, М ВНИИПИ, 1986, cтр 25

16

Мингалева Ж.А О формировании правового поля в области инновационной и

интеллектуальной деятельности // Вестн Перм ун-та Юрид науки 2011 Вып 4(10) С 125

Trang 8

xét khả năng bảo hộ của giải pháp kỹ thuật bảo gồm: tính mới (Neuheit); bước tiến sáng tạo (erfinderische Tätigkeit) và khả năng ứng dụng công nghiệp (Gewerblichkeit).17

Về tính mới Trong Luật sáng chế của Đức tính mới được thể hiện

thông qua trình độ kỹ thuật của giải pháp yêu cầu bảo hộ Cần lưu ý rằng bản thân khái niệm “kỹ thuật” ở đây được sử dụng như là tiêu chí duy nhất để phân định các giải pháp lỹ thuật với các đối tượng khác của hoạt động sáng tạo của con người được bảo hộ trong những lĩnh vực khác như quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp… Giải pháp kỹ thuật được coi là mới nếu tính đến ngày ưu tiên của đơn – ngày nộp đơn yêu cầu bảo hộ đầu tiên tới Cơ quan sáng chế - giải pháp đó chưa được biết đến trong trình độ kỹ thuật hiện có Trình độ kỹ thuật hiện có bao gồm mọi kiến thức, thông tin đã được công chúng biết đến dưới các hình thức mô tả viết, bằng miệng, sử dụng hay các phương thức khác ở Đức cũng như ở nước ngoài Luật sáng chế Đức cũng chỉ

rõ khái niệm “trình độ kỹ thuật” bao gồm cả nội dung những đơn sáng chế đã được nộp sớm hơn, trong đó có các đơn quốc gia và đơn Châu Âu có yêu cầu bảo hộ tại Đức cũng như các đơn quốc tế được nộp trên cơ sở Hiệp ước hợp tác Sáng chế (PCT) 1970 nếu như trong đơn thể hiện Cơ quan sáng chế Đức

là đơn vị tiếp nhận Các đơn quốc gia nếu như không được công bố đúng thời hạn vì lý do an ninh quốc gia được coi là đã được công bố sau thời hạn 18 tháng kể từ ngày nộp đơn và sau thời gian đó nội dung các đơn này được coi như nằm trong phạm vi trình độ kỹ thuật hiện có khi xét nghiệm tính mới

Luật sáng chế Đức cũng xem xét những ưu tiên về tính mới trong những trường hợp: 1 Có sự kiện lạm dụng một cách rõ rệt đối với người nộp đơn hoặc người kế thừa của người nộp đơn; 2 Nếu như bản chất của giải pháp kỹ thuật mới được bộc lộ trong một giới hạn chủ thể nhất định; 3 Giải pháp kỹ thuật mới được người nộp đơn hoặc người kế thừa của người nộp đơn đưa ra để trưng bày trong các cuộc triển lãm được thừa nhận chính thức Ưu tiên về tính mới trong trường hợp trưng bày triển lãm được áp dụng nếu người nộp đơn có nêu rõ lý do ưu tiên này trong đơn và xuất trình được văn bản minh chứng trong thời hạn không muộn hơn 4 tháng kể từ ngày nộp đơn Ngoài ra, triển lãm cần đáp ứng các điều kiện được quy định trong Công ước

17 Luật sáng chế CHLB Đức 1980 Xem: http://www.wipo.int/wipolex/en/text.jsp?file_id=401424

Trang 9

về triển lãm quốc tế và thông tin về việc tiến hành triển lãm cần được đưa chính thức trong công báo của Đức Ngoài ra, quy định về tính mới của sáng chế cũng dành ngoại lệ cho trường hợp các chất và hỗn hợp hóa học đã được biết đến nếu chúng tạo ra những hiệu quả bất ngờ, chưa được biết đến.18

Phân tích các quy định trên cho thấy, một trong những đặc trưng của nổi bật trong các quy định của Luật sáng chế Đức là sự thiếu vắng quy định

ưu tiên về tính mới đối với tác giả Trước đây, theo Luật sáng chế Đức 1968 trường hợp thông tin đã được bộc lộ bởi chính nhà sáng chế sẽ không được coi là vi phạm tính mới nếu đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ được nộp trong vòng 6 tháng kể từ ngày bộc lộ Trong Luật hiện hành, phù hợp với các quy định của Công ước Châu Âu về hộ sáng chế ưu tiên về tính mới này đã bị loại

bỏ Theo ý kiến của các chuyên gia Đức và từ thực tiễn áp dụng cho thấy việc loại bỏ ưu tiên này là có thể được coi là một quyết định không thành công.19

Như vậy, có thể thấy Luật sáng chế Đức đòi hỏi tính mới tuyệt đối đối với giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ sáng chế Tuy nhiên trên thực tiễn áp dụng cũng vẫn có những trường hợp khi bản chất sáng chế bị bộc lộ trong các tài liệu được phổ biến chỉ với một phạm vi chủ thể nhất định, ví dụ, trong các trao đổi thư tín, các ấn phẩm nội bộ, … Trong các trường hợp này việc bộc

lộ thông tin không được coi là vi phạm đến tính mới của giải pháp kỹ thuật Quy định này áp dụng cho mọi loại nguồn thông tin và đôi khi được coi là yếu

tố quyết định trong đánh giá thông tin từ góc độ nội hàm tính mới của giải pháp kỹ thuật.20

Về bước tiến sáng tạo Với tính chất là tiêu chí bảo hộ sáng chế, “bước

tiến sáng tạo” là tiêu chí bảo hộ tương đương với “trình độ sáng tạo” – khái niệm được áp dụng ở Đức trước đây trong thực tiễn tư pháp và hành chính

18 Xem: Кузьмина, О М Критерии и объем патентной охраны по законодательству Германии

и России : Сравнительно-правовой анализ Автореферат диссертации на соискание ученой степени кандидата юридических наук Источник: Электронный каталог отраслевого

отдела по направлению «Юриспруденция»

(библиотеки юридического факультета) Научной библиотеки им М Горького СПбГУ http://law.edu.ru/book/book.asp?bookID=107677 (ngày truy cập 10.3.2018)

19 Xem: Мельникова З В., Молоствова О В ОСОБЕННОСТИ ПРАВОВОЙ ЗАЩИТЫ ПРАВ

ИНТЕЛЛЕКТУАЛЬНОЙ СОБСТВЕННОСТИ В РОССИИ И ГЕРМАНИИ В УСЛОВИЯХ КРЕАТИВНОЙ ЭКОНОМИКИ: СРАВНИТЕЛЬНЫЙ АНАЛИЗ http://elar.urfu.ru/bitstream/10995/50527/1/isi-2017-19.pdf (truy cập 10.3.2018)

20

Колесников А.П Патентная документация ведущих зарубежных стран и международных организаций - М.: ВНИИПИ, 1998 - c 57

Trang 10

nhưng không được thể hiện trong luật sáng chế hiện đại Không phụ thuộc vào tên gọi khác biệt của tiêu chí bảo hộ này – nội hàm của “hoạt động sáng tạo” hoàn toàn không thay đổi, tức là việc đánh giá tiêu chí mang tính chất chủ quan và liên quan đến trình độ của chuyên gia ở mức trung bình Cần lưu ý rằng yêu cầu về trình độ sáng tạo của sáng chế ở Đức đòi hỏi rất khắt khe, thậm chí cao hơn so với các quốc gia Châu Âu khác, cụ thể là chính việc có hay không điều kiện này được xác định khi đánh giá dấu hiệu chủ quan – chưa được biết đến bới chuyên gia Hiện nay, theo quy định của Luật sáng chế và từ thực tiễn xét nghiệm của cơ quan sáng chế cũng như thực tiễn xét xử, một giải pháp kỹ thuật nộp đơn bảo hộ được coi là có trình độ sáng tạo nếu như:

- Những đơn sáng chế có trước ngày ưu tiên và trình độ kỹ thuật ở tình trạng không thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại;

- Mặc dù có nhu cầu đối với một giải pháp kỹ thuật mới nhưng các chuyên gia không thể tìm được câu trả lời cần thiết đối với vấn đề đặt ra trong một thời gian dài, các cố gắng lặp lại giải quyết vấn đề đã không thành công;

- Trong quá trình tìm kiếm giải pháp thỏa đáng có những khó khăn kỹ thuật đáng kể cần phải giải quyết nhằm tạo ra sáng chế.21

Ngoài ra, tính hữu ích của kết quả đạt được, ví dụ như: sự đơn giản hóa, việc giảm giá thành hay những biểu hiện tiến bộ kỹ thuật khác, cũng là những yếu tố được chú ý trong xác định trình độ sáng tạo của giải pháp kỹ thuật Tuy nhiên, nếu giải pháp không phù hợp với tiêu chí này theo ý kiến của các thẩm định viên của Cơ quan sáng chế thì pháp luật xem xét khả năng cho người nộp đơn đối với giải pháp hữu ích (Gebrauchmuster) và yêu cầu cấp văn bằng bảo

hộ đối với sáng chế “nhỏ” (small patent) với thời hạn bảo hộ 3 năm và khả năng gia hạn thêm: lần thứ nhất 3 năm và 2 lần tiếp theo mỗi lần 2 năm.22 Như vậy, thời hạn bảo hộ tối đa của giải pháp hữu ích là 10 năm (thời hạn bảo hộ chung đối với sáng chế ở Đức là 20 năm kể từ ngày tiếp theo ngày nộp đơn đăng ký sáng chế)

Về khả năng áp dụng công nghiệp Khả năng áp dụng công nghiệp

được hiểu theo nghĩa tương đối rộng Khẳ năng áp dụng công nghiệp bao

21

Козырев А.Н Развитие законодательства об интеллектуальной собственности

[Электронный ресурс] URL: http://www.businesspravo.ru/Analyst/AnlShow_AnlID_24.html (truy cập: 12.12.2011).

22 Luật sáng chế CHLB Đức 1980 Xem: http://www.wipo.int/wipolex/en/text.jsp?file_id=401424

Ngày đăng: 17/01/2021, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w