- Việc phát triển TNGDM trong các trường đại học Việt Nam cần chú ý đến các yếu tố quan trọng sau: nhận thức của cộng đồng, vấn đề bản quyền và giấy phép, cơ chế hỗ trợ/ chính sách của[r]
Trang 1BÁO CÁO KHẢO SÁT TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ
TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
Đỗ Văn Hùng, Nghiêm Xuân Huy, Trần Đức Hòa, Phạm Tiến Toàn, Nguyễn Kim Dung, Nguyễn Kim Lân,
Bùi Thanh Thủy
MỞ ĐẦU
Tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) - Open Educational Resources (OER) được xem là một nguồn tài nguyên phục vụ hữu hiệu cho việc tăng cường chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học Các trường đại học Việt Nam đang trong quá trình đổi mới về chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp giảng dạy, trong đó lấy người học làm trung tâm, chú trọng đào tạo về năng lực và kỹ năng để
tự khai phá tri thức cũng như trang bị khả năng học tập suốt đời Để đổi mới phương pháp giảng dạy với người học tự chủ trong khai phá tri thức thì cần một nguồn học liệu đủ lớn và có chất lượng Tuy nhiên, thực tế cho thấy các trường đại học Việt Nam hiện đang thiếu hụt nguồn học liệu OER có thể coi là một giải pháp cho vấn đề này
Báo cáo khảo sát này nhằm làm rõ thực trạng OER tại các trường đại học Việt Nam, trên cơ sở đó đưa những đề xuất để phát triển OER một cách bền vững trong các trường đại học Việt Nam Báo cáo này tập trung làm rõ những vấn đề sau:
- Sự hiểu biết của cộng đồng về OER
- Tạo lập, sử dụng và chia sẻ OER
- Bản quyền và giấy phép
- Chính sách đối với OER
Trang 2- Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển OER tại Việt Nam.
- Hạ tầng công nghệ cho phát triển OER
- Vai trò của các bên liên quan đến phát triển OER
Báo cáo này được thực hiện bởi Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới
sự tài trợ của Văn phòng UNESCO Bangkok cùng sự hỗ hợ của Văn phòng UNESCO Hà Nội
PHẦN 1: SỐ LIỆU VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ TẠI VIỆT NAM
1 Số liệu về giáo dục đại học Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có dân số lớn thứ 3 trong khu vực Đông Nam
Á, đứng thứ 15 trong số các quốc gia đông dân nhất trên thế giới, với số dân xấp xỉ 96.2 triệu người Tỷ lệ người trong độ tuổi đi học cao, nhu cầu đào tạo trình độ cao đẳng và đại học tại Việt Nam là vô cùng to lớn1 Theo Tổng cục Thống kê tính đến hết năm 2019, Việt Nam có
436 trường Cao đẳng (CĐ) và Đại học (ĐH), trong đó trường công lập chiếm 80% (347 trường), các trường tư chiếm 20% (89 trường CĐ và ĐH) Tổng số sinh viên trong cả nước là 2.363.942 người, trong đó có 313.620 sinh viên ngoài công lập Giảng viên là 91.420 người, trong đó
số giáo viên ngoài công lập là 17.308
Bảng 1 Thống kê số lượng các trường đại học, cao đẳng, giáo viên, sinh viên
của Việt Nam năm 2019 2
1 Theo Thông tấn xã Việt Nam trích nguồn từ Tổng cục Thống kê năm 2019.
2 Theo số liệu của Trung tâm Tư liệu & dịch vụ thống kê - Tổng cục Thống kê năm 2019.
Trang 3Để tạo hành lang pháp lý cho nền giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục ĐH nói riêng hoạt động, với phương châm giáo dục là quốc sách hàng đầu, những năm qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật như: Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua 18/06/2012; Nghị định 73/2012/NĐ-
CP quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục ban hành 26/09/2012; Nghị quyết số 29-NQ/TW ban hành ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quyết định ban hành Điều lệ trường Đại học số 70/2014/QĐ-TT ngày 10/12/2014; Nghị định
số 43/2006/NĐ-CP ban hành ngày 25/04/2006 quy định quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ban hành ngày 15/04/2009 hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục & đào tạo; Nghị định
số 16/2015/NĐ-CP bước đầu trao nhiều quyền tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng cho các trường ĐH… Nhìn chung những chính sách này này đều hướng tới hai điểm quan trọng đó là đổi mới giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường đại học trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế; và tăng cường tính tự chủ của các trường đại học Bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới của QS năm 2016 thì Việt Nam không có trường đại học nào lọt vào top 1000, còn trong bảng xếp hạng 350 trường đại học châu Á, Việt Nam có trường đại học xếp hạng cao nhất là Đại học Quốc gia Hà Nội (vị trí 139) 1 Có thể thấy
có khoảng cách khá xa giữa các trường đại học Việt Nam với các trường đại học trong khu vực và thế giới
Về hệ thống thư viện hỗ trợ học tập, có thể thấy các thư viện đại học chưa đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo và nghiên cứu của các trường đại
1 Bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới của QS năm 2016 http://www topuniversities.com/university-rankings/world-university-rankings/2016.
Trang 4học Khảo sát cho thấy 36% bạn đọc phản hồi thư viện đáp ứng rất ít hoặc hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, 44% chỉ đáp ứng 1/3 nhu cầu, và chỉ có 19% bạn đọc khẳng định thư viện cung cấp gần nhu đầy đủ nhu cầu tài liệu của họ Bình quân mỗi người dùng (giảng viên và sinh viên) có 03 cuốn sách.
Giáo dục ĐH Việt Nam hiện đang cần tìm lời giải cho mối quan
hệ giữa chất lượng đào tạo và nhu cầu thực tiễn về nghề nghiệp của xã hội Hay nói cách khác giáo dục ĐH Việt Nam phải giải quyết triệt để mối quan hệ giữa cung và cầu nếu muốn theo kịp với sự phát triển và hoà nhập được với giáo dục ĐH trên thế giới Giáo dục đại học phải chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao và gắn với nhu cầu thị trường lao động”1 Trong bối cảnh hội nhập, nguồn nhân lực Việt Nam cũng cần phải có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế và cạnh tranh với chính nguồn nhân lực của khu vực ngay trên đất nước mình Bên cạnh đó người học cần trang bị cho mình năng lực tự học tập suốt đời để luôn cập nhật tri thức mới và thích ứng với sự thay đổi của khoa học công nghệ cũng như kinh
tế, xã hội
2 Một số hoạt động phát triển TNGDM tại Việt Nam
Tại Việt Nam đã có những hoạt động về TNGDM như sau:
- Chương trình Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam được hỗ trợ bởi Vietnam Foundation Tiền thân của chương trình này là VOCW năm
2005, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với VEF và VAFC, đến năm
2008 đổi thành VOER Hiện tại VOER đã xây dựng được 22.171 tài liệu, 518 tuyển tập từ 8.372 tác giả
- Năm 2012 Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì Xây dựng cuốn tài liệu hướng dẫn phát triển TNGDM cho các trường đại học Việt Nam Tuy nhiên đến nay tài liệu này chưa được chính thức xuất bản
- Chương trình OER@University Roadshow 2016 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở (RDOT) - Bộ Khoa
1 Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục.
Trang 5học và Công nghệ, Khoa Thông tin – Thư viện (FLIS) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chương trình học liệu mở Việt Nam cùng với liên chi hội các trường đại học phía Bắc (NALA) và phía Nam (VILASAL) phối hợp tổ chức giảng dạy cho cán
bộ thư viện và giảng viên của các trường đại học trong cả nước
- Hội thảo khoa học về TNGDM: Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với RDOT, NALA VFOSSA và UNESCO tổ chức 2 hội thảo quốc tế về TNGDM
PHẦN 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM
1 Nhận thức và hiểu biết về Tài nguyên giáo dục mở
Khảo sát giảng viên, cán bộ thư viện và sinh viên cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong nhận thức và sự hiểu biết về TNGDM Trong khi cán bộ giảng dạy và cán bộ thư viện có mức độ quan tâm khá lớn tới TNGDM thì số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ sinh viên đã có tìm hiểu
và nhận thức về TNGDM chưa cao Cụ thể, có gần 68% giảng viên và trên 50% cán bộ thư viện cho rằng đã biết về sự tồn tại của TNGDM trước khi có cuộc điều tra, trong khi con số này của sinh viên là 34% (đồng ý và rất đồng ý với mệnh đề được hỏi) Đáng chú ý, tuy có tới gần 60% giảng viên và trên 36% cán bộ thư viện đã có hiểu biết về vấn
đề này nhưng tỷ lệ người hiểu được vấn đề giấy phép sử dụng TNGDM lại chưa cao (40% giảng viên và 35,4% cán bộ thư viện tán thành và rất tán thành đã hiểu khái niệm «giấy phép sử dụng mở» trước khi tham gia cuộc điều tra) Điều này lý giải cho thực tế phát triển TNGDM ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, dù nhu cầu và nhận thức của các bên liên quan là rất đáng kể (xem Bảng 1, 2 và 3)
Ở khía cạnh trải nghiệm thực tế về TNGDM, có một tỷ lệ không cao giảng viên và cán bộ thư viện (sau khi nắm được khái niệm về TNGDM của UNESCO cung cấp tại bảng hỏi) cho rằng đã tham gia vào một số dự
án liên quan đến TNGDM Trong số 178 giảng viên trả lời, có 19,2% tán thành và 3% rất tán thành câu hỏi cho rằng “Tôi đã tham gia vào một số
dự án có liên quan đến TNGDM”, con số tương tự đối với cán bộ thư viện lần lượt là 12,1% và 2,8% (trong tổng số 215 người trả lời) Điều này cho
Trang 6thấy sự sẵn sàng tham gia và kinh nghiệm sẵn có của 2 đối tượng chính tạo ra TNGDM là còn khá hạn chế, đòi hỏi các kế hoạch truyền thông hiệu quả, các khóa bồi dưỡng nâng cao nhận thức có tính hệ thống và tạo
cơ hội trải nghiệm thực tế cho các bên liên quan
Bảng 1 Nhận thức của giảng viên về TNGDM
Các khía cạnh nhận thức không Rất
tán thành
Không tán thành
Không
ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/
OCW trước khi tham gia cuộc điều
tra này
10.7% 8.4% 12.9% 40.4% 27.5%
Tôi đã hiểu về khái niệm của
OERs/OCW trước khi tham gia
cuộc điều tra này
13.5% 9.6% 20.2% 40.4% 16.3%
Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử
dụng mở (ví dụ Creative Commons) 18.9% 14.9% 25.1% 34.3% 6.9%Tôi đã tham gia vào một số dự án
có liên quan đến OERs 35.9% 19.8% 22.2% 19.2% 3.0%Theo tôi, chất lượng khoa học của
học liệu mở là đáng tin cậy 4.0% 5.7% 38.6% 40.3% 11.4%Tất cả những tài liệu truy cập mở
(open access) và miễn phí được
Không
ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/
OCW trước khi tham gia cuộc điều
tra này
8.8% 16.3% 25.6% 40.5% 8.8%
Tôi đã hiểu về khái niệm của OERs/
OCW trước khi tham gia cuộc điều
tra này
9.3% 22.0% 32.6% 29.5% 6.6%
Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử
dụng mở (ví dụ Creative Commons) 10.8% 22.9% 30.9% 32.3% 3.1%Tôi đã tham gia vào một số dự án
có liên quan đến OERs 30.2% 31.2% 23.7% 12.1% 2.8%Theo tôi, chất lượng khoa học của
học liệu mở là đáng tin cậy 1.8% 10.0% 39.7% 35.2% 13.2%Tất cả những tài liệu truy cập mở
(open access) và miễn phí được
coi là OERs
10.1% 23.0% 30.4% 28.1% 8.3%
Trang 7Đối với sinh viên, do chưa có nhiều cơ hội trải nghiệm sử dụng TNGDM (dù có nhu cầu và sự hiểu biết nhất định), nên cách hiểu về nội hàm TNGDM của nhóm này cũng chưa nhất quán Có gần 45% ý kiến (trên tổng số 190 người trả lời) rất đồng ý và đồng ý với ý kiến cho rằng tất
cả những tài liệu truy cập mở (open access) và miễn phí được coi là OERs, gần 30% không có ý kiến đối với mệnh đề này, số còn lại (trên 1/3 tổng số câu trả lời) phản đối với cách hiểu nêu trên (xem Bảng 3) Như vậy, đây rõ ràng là đối tượng cần được nâng cao nhận thức về TNGDM và những vấn
đề liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên quan trọng này
Bảng 3 Nhận thức của sinh viên về TNGDM
Các khía cạnh nhận thức không Rất
tán thành
Không tán thành Không ý kiến thành Rất tán Tán thành
Tôi đã biết về sự tồn tại của
OERs/OCW trước khi tham gia
cuộc điều tra này
24.1% 22.5% 19.4% 23.6% 10.5%
Tôi đã hiểu về khái niệm của
OERs/OCW trước khi tham gia
cuộc điều tra này
Tất cả những tài liệu truy cập
mở (open access) và miễn phí
được coi là OERs
14.8% 13.8% 29.1% 29.1% 13.2%
2 Sử dụng, tạo lập và chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở và tài liệu số
2.1 Về sử dụng Tài nguyên giáo dục mở
Về tổng thể, mức độ tích cực của việc sử dụng TNGDM cho mục đích đào tạo và học tập là khá cao Giảng viên, sinh viên đã khai thác TTGDM như một trong những nguồn học liệu quan trọng Đối với giảng viên, việc dùng TNGDM cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng là trên 48% (tuy con
số tán đồng với điều này có tổng là 23,3%, gần 30% không có ý kiến) Tuy coi trọng TNGDM nhưng tỷ lệ giảng viên có khai thác học liệu từ các dự án quốc tế như OpenCourseWare; Commonwealth of Learning, hay các dự án của Việt Nam như Vietnam Open Education resources còn khá khiêm tốn,
Trang 8với tổng lần lượt là 29% và 21% Có lẽ do chưa áp dụng thường xuyên TNGDM và chưa thấy hết được giá trị của nguồn học liệu quan trọng này nên tỷ lệ giảng viên thường xuyên giới thiệu TNGDM cho sinh viên sử dụng là khá thấp, chỉ 24,6% (xem Bảng 4)
Bảng 4 Việc sử dụng TNGDM của giảng viên
Sử dụng tài nguyên
giáo dục mở Rất không tán thành tán thành Không Không ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi thường sử dụng OERs
cho việc biên soạn giáo
trình, bài giảng
12.8% 10.5% 28.5% 38.4% 9.9%
Tôi luôn khuyến khích sinh
viên khai thác OERs phục
Vietnam Open Education
resources (VOER, địa chỉ
trang website tại http://voer.
edu.net)
19.8% 23.4% 35.9% 15.0% 6.0%
Tôi đã giới thiệu / chia sẻ
một số nguồn OERs cho
đồng nghiệp hoặc sinh viên
12.3% 12.3% 26.3% 38.6% 10.5%
Tôi chưa bao giờ sử dụng
OER cho việc giảng dạy của tôi 29.3% 21.3% 22.0% 18.3% 9.1%
Với sinh viên, tỷ lệ người quan tâm sử dụng TNGDM cho mục đích học tập tương đối khả quan, đặc biệt tỷ lệ sinh viên đã từng khai thác TNGDM là khá ấn tượng, chiếm 49,8% tổng số sinh viên (dù tỷ lệ thường xuyên truy cập tới website của dự án VOER không cao (13,8%) (xem bảng 5) Tuy có tới trên 33% sinh viên không quan tâm nhiều đến việc sử dụng loại hình học liệu này, nhưng trong bối cảnh TNGDM còn đang manh nha phát triển ở Việt Nam, tín hiệu trên vẫn hết sức tích cực,
do xuất phát từ khối người dùng năng động (sinh viên) Đây là điều rất đáng quan tâm và có thể tạo tiền đề cho phát triển TNGDM nói chung tại Việt Nam
Trang 9Bảng 5 Việc sử dụng TNGDM của sinh viên
Sử dụng tài nguyên
giáo dục mở Rất không tán thành
Không tán thành
Không
ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi đã từng sử dụng OERs cho
việc học tập của tôi 13.0% 21.2% 16.1% 30.1% 19.7%Tôi thường xuyên khai thác
OERs từ những dự án Vietnam
Open Education resources
(VOER, dịa chỉ trang website tại
số giảng viên lần lượt rất đồng thuận và đồng thuận với nội dung “Tôi thường giới thiệu các tài liệu trực tuyến/ gửi tài liệu tham khảo dạng điện tử cho sinh viên” (xem Bảng 6) Về phương thức tương tác điện tử, trực tuyến với sinh viên, có tổng số 40,9% số giảng viên được hỏi thường xuyên giao tiếp với sinh viên qua website môn học và các môi trường trực tuyến Số giảng viên dùng các máy tìm tin trực tuyến để phục vụ tìm tài liệu số cũng rất ấn tượng (77,8%) Những con số trên cho thấy tài liệu số đang dần thực
sự trở thành ưu tiên sử dụng của giảng viên trong bối cảnh hiện nay Đây là điều hết sức thuận lợi trong việc phát triển TNGDM tại Việt Nam
Bảng 6 Tình hình sử dụng tài liệu số của giảng viên
Sử dụng tài liệu số không Rất
tán thành
Không tán thành
Không
ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi thường giới thiệu các tài liệu trực
tuyến/ gửi tài liệu tham khảo dạng
điện tử cho sinh viên
3.4% 4.6% 21.7% 46.3% 24.0%
Tôi chủ yếu giao tiếp với sinh viên
thông qua website môn học, môi
trường trực tuyến
9.5% 17.2% 32.5% 30.8% 10.1%
Trang 10Tôi gặp khó khăn trong việc sử dụng
tài liệu số (không biết tổ chức như
thế nào trên máy tính cá nhân, thiếu
phần mềm chuyên dụng, internet
chậm, )
20.4% 22.2% 37.1% 13.8% 6.6%
Tôi thường dùng các máy tìm kiếm (ví
dụ như google) để tìm các tài liệu số 2.3% 4.1% 15.8% 42.7% 35.1%Tôi thường sử dụng tài liệu số trong
thư viện/ được thư viện giới thiệu 6.5% 14.1% 26.5% 34.1% 18.8%
Đối với sinh viên, các nguồn tài liệu số bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu thông tin Các tài liệu số do giáo viên cung cấp, thư viện cung cấp, có sẵn trên Internet hay các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về cơ bản
đã thỏa mãn được nhiều nhu cầu người dùng Tỷ lệ sinh viên hài lòng với chất lượng và khả năng đáp ứng của các nguồn tin này lần lượt là 50,3%, 45,2%, 65,6 và 54,4% (xem Bảng 7) Tuy nhiên, điểm đáng lưu
ý là trung bình trên dưới 30% sinh viên cảm thấy thỏa mãn ở mức độ bình thường, và khoảng 10-15% cảm thấy không thỏa mãn Có thể thấy, tuy đã có nhiều tác động tích cực đối với hoạt động học tập của sinh viên, nhưng nguồn tài liệu số cần được tiếp cận hiệu quả hơn, đáp ứng cao hơn nhu cầu của sinh viên
Bảng 7 Mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin của các loại nguồn tài liệu điện tử
Mức độ thỏa mãn
nhu cầu thông tin Rất không thỏa mãn thỏa mãn Chưa thường Bình Thỏa mãn Rất thỏa mãn
Nguồn tài liệu do giáo viên
Nguồn tài liệu từ thư viện 5.9% 10.6% 38.3% 35.1% 10.1% Nguồn tài liệu từ internet 2.1% 7.9% 24.3% 44.4% 21.2% Nguồn tài liệu từ các cơ sở
dữ liệu chuyên ngành 2.6% 7.9% 35.1% 40.3% 14.1%
Tính chủ động của sinh viên khi tiếp cận các nguồn tin điện tử nhìn chung khá cao, mức độ thường xuyên sử dụng máy tìm tin, OPAC của thư viện, cơ sở dữ liệu chuyên ngành cho việc khai thác thông tin là rất đáng kể (xem Bảng 8) Sinh viên ưu tiên nhất là sử dụng các máy tìm tin trên Internet (trên 89%) Tuy nhiên, số sinh viên gặp nhiều khó khăn khi tìm tài liệu phục vụ học tập là khá lớn (42,6% tổng số sinh viên),
và gần 40% không biết các tiêu chí đánh giá thông tin sau khi tìm được
Trang 11qua Internet (xem bảng 9) Đây là những lợi thế, nhưng cũng là thách thức đáng kể trong việc triển khai các dự án TNGDM bằng phương pháp số hóa.
Bảng 8 Các phương tiện tìm kiếm thông tin của sinh viên
Các phương tiện tìm kiếm
thông tin Rất không tán thành Không tán thành Không ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi thường xuyên tìm kiếm trên
internet (thông qua Google,
Bing, )
1.0% 1.0% 6.8% 35.9% 55.2%
Tôi thường xuyên tìm kiếm
Tôi thường xuyên hỏi mượn/
tư vấn từ thầy cô, bạn bè về tài
liệu mà tôi cần
2.7% 10.1% 36.2% 38.8% 12.2%
Tôi thường xuyên tìm ở các
nhà sách và thường mua tài
liệu học tập
5.3% 15.5% 32.6% 36.9% 9.6%
Tôi thường tìm kiếm ở các cơ
sở dữ liệu chuyên ngành 3.3% 13.1% 35.5% 37.7% 10.4%Tôi thường gặp khó khăn khi
tìm tài liệu mình cần cho việc
học tập
6.4% 19.7% 31.4% 27.7% 14.9%
Với cách tiếp cận chủ động như vậy, sinh viên cũng tỏ ra chủ động trong khai thác và sử dụng thông tin số phục vụ học tập của sinh viên (xem Bảng 9), dù họ chưa được trang bị kỹ năng và chưa có ý thức cao trong thẩm định và đánh giá chất lượng nguồn thông tin số
mà họ tiếp cận Tổng số 60,6% sinh viên thừa nhận phần lớn tài liệu dùng cho học tập là lấy về từ Internet Tuy nhiên, những tài liệu thu thập được từ Internet không được đa số sinh viên quan tâm đến việc thẩm định, đánh giá trước khi sử dụng Cụ thể, có 30,7% và 9,5% sinh viên lần lượt rất đồng ý và đồng ý với với việc “không quan tâm lắm đến nguồn, tác giả của tài liệu tìm được trên internet, miễn là phù hợp với nội dung mà tôi cần sử dụng” Tương tự, như trên đã nói, trên 40% không biết các tiêu chí đánh giá chất lượng và độ tin cậy của thông tin và chỉ khoảng 40% sinh viên quan tâm nhiều đến việc sử dụng tài liệu từ các thư viện
Trang 12Bảng 9 Việc sử dụng học liệu số phục vụ học tập của sinh viên
Mức độ sử dụng học liệu số Rất không tán thành tán thành Không Không ý kiến thành Tán Rất tán thành
Phần lớn tài liệu tôi sử dụng cho
việc học tập của tôi là từ trên internet 0.5% 7.8% 31.1% 37.3% 23.3% Phần lớn tài liệu tôi sử dụng cho
việc học tập của tôi là từ thư viện 5.9% 18.7% 36.4% 29.4% 9.6%Tôi thường không quan tâm lắm
đến nguồn, tác giả của tài liệu
tìm được trên internet, miễn là
phù hợp với nội dung mà tôi cần
sử dụng
9.5% 22.2% 28.0% 30.7% 9.5%
Tôi không biết cách/tiêu chí đánh
giá chất lượng và độ tin cậy của
một tài liệu trên internet
7.0% 24.1% 28.9% 27.3% 12.8%
Tôi chỉ tìm kiếm và đọc tài liệu khi
ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi 9.5% 22.2% 29.6% 30.7% 7.9%Tôi thích dùng tài liệu số/tài liệu trực
tuyến hơn là tài liệu in trên giấy 10.2% 22.6% 39.2% 21.0% 7.0%Thường thì tôi chỉ sử dụng bài
giảng của thầy/cô trên lớp để ôn
tập và làm các bài kiểm tra
5.4% 16.1% 26.3% 38.7% 13.4%
Sinh viên cũng không thực sự chủ động trong tiếp cận và tìm kiếm thông tin Gần 40% tổng số sinh viên chỉ tìm và đọc tài liệu khi ôn tập chuẩn bị thi và 52,1% sinh viên coi việc dùng bài giảng của thầy để ôn tập và làm bài kiểm tra là đủ Những con số trên cho thấy cần có những giải pháp về mặt phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá để nâng cao hơn tính chủ động của người học trong tiếp cận và xử lý thông tin Đây cũng là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch cho phát triển TNGDM tại Việt Nam
2.3 Vấn đề tạo lập và chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở
Tạo lập và chia sẻ TNGDM là một vấn đề cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan, đặc biệt là giảng viên và cán bộ thư viện Kết quả khảo sát cho thấy đã có những tín hiệu tích cực về sự tham gia của các
Trang 13bên liên quan, mức độ sẵn sàng nói chung của cộng đồng là khá ấn tượng (xem Bảng 10) Có thể xem đây là những tín hiệu tích cực cho việc phát triển TNGDM tại Việt Nam.
Đối với giảng viên, sự tham gia ở mức độ chia sẻ và khuyến khích sinh viên sử dụng TNGDM là rất cao Có tới 86,4% số giảng viên khẳng định sẵn sàng chia sẻ và khuyến khích cộng đồng sử dụng học liệu mà mình khai thác được Sự sẵn sàng tái sử dụng tài liệu hoặc tùy biến để
sử dụng các tài liệu này cũng rất cao (73%) và ý thức về việc tạo ra một phiên bản mới trên cơ sở các bản đang có là đáng kể (gần 50%) Tuy nhiên, liên quan đến sở hữu trí tuệ cá nhân, mức độ sẵn sàng chia sẻ có phần giảm xuống Có đến 48,1% giảng viên chưa sẵn sàng chia sẻ tài nguyên do mình tạo ra, trên 30% không có ý kiến gì về việc này Đa phần giảng viên chỉ đồng ý chia sẻ một phần học liệu của mình (77,2%) Với giả thuyết đưa ra là đã có hệ thống pháp luật đủ mạnh để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tỷ lệ giảng viên nhất trí tham gia vào việc tạo dựng nền tảng TNGDM là rất đáng kể (74,7%), trong khi số phản đối chỉ chiếm trên 4% Như vậy, có thể thấy, nếu vấn đề sở hữu trí tuệ được làm rõ và được đảm bảo, việc khuyến khích giảng viên tham gia tạo dựng TNGDM là khả thi và nhận được sự đồng thuận cao
Bảng 10 Mức độ sẵn sàng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM của giảng viên Mức độ sẵn sằng tham gia
tạo lập và chia sẻ TNGDM Rất không tán thành tán thành Không Không ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi sẽ chia sẻ và khuyến khích
sinh viên/ đồng nghiệp độc tài
Tôi sẽ tái sử dụng hoặc tuỳ
biến tài liệu đó để thích hợp nó
vào giáo trình của tôi 2.9% 5.2% 19.0% 49.4% 23.6% Tôi sẽ tuỳ biến, bổ sung và xuất
bản một phiên bản mới 6.9% 11.0% 32.9% 32.9% 16.2% Tôi chưa sẵn sàng để chia sẻ
Trang 14Tôi sẵn sàng chia sẻ toàn bộ
học liệu của mình với cộng đồng 3.5% 7.6% 25.7% 47.4% 15.8% Tôi sẵn sàng chia sẻ những
học liệu của tôi nếu cơ quan
Tôi sẵn sàng chia sẻ học liệu
nếu hệ thống pháp luật có chế
tài đủ mạnh để đảm bảo quyền
lợi của tôi/ tác giả 1.2% 2.9% 21.2% 45.9% 28.8%
Đối với cán bộ thư viện, mức độ sẵn sàng cũng rất cao (xem Bảng 11)
Tỷ lệ đồng thuận tham gia vào quá trình chia sẻ và khuyến khích sử dụng TNGDM là khá ấn tượng Có tới 80% số cán bộ thư viện nhất trí cao đối với việc chia sẻ Việc tạo dựng học liệu mở cũng được 57,5% tổng số cán bộ thư viện được hỏi bày tỏ quan điểm sẵn sàng tham gia (số phản đối là 11,6% và số không có ý kiến là 30,8%)
Bảng 11 Mức độ sẵn sàng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM
của cán bộ thư viện Mức độ sẵn sằng tham gia
tạo lập và chia sẻ TNGDM Rất không tán thành tán thành Không Không ý kiến thành Tán Rất tán thành
Chắc chắn tôi sẽ chia sẻ và
khuyến khích bạn đọc sử
dụng tài liệu đó
0.9% 3.6% 15.5% 47.3% 32.7%
Tôi sẽ tuỳ biến, bổ sung và
xuất bản một phiên bản mới 2.3% 9.3% 30.8% 44.9% 12.6%
Tuy sự sẵn sàng trực tiếp tham gia tạo dựng TNGDM cao, tỷ lệ cán
bộ thư viện chủ động chia sẻ, giới thiệu TNGDM tới bạn đọc thư viện chưa thực sự cao Tỷ lệ trung bình dưới 30% cán bộ thư viện đã tham gia vào các quy trình khác nhau của việc tạo lập nền tảng TNGDM tại Việt Nam (xem bảng 12) cho thấy kinh nghiệm của đội ngũ này trong hoạt động phát triển TNGDM tại Việt Nam là chưa cao Đặc biệt, tỷ lệ hưởng ứng phối hợp với giảng viên trong thu thập và xây dựng nền tảng TNGDM cho trường đại học là khá thấp (dưới 20%), dẫn tới những khó khăn không nhỏ phía trước đối với hoạt động đòi hỏi tính tương tác và
sự phối hợp cao như phát triển TNGDM
Trang 15Bảng 12 Sự tham gia chia sẻ và tạo dựng TNGDM của cán bộ thư viện
Sự tham gia chia sẻ
và tạo dựng TNGDM Rất không tán thành tán thành Không Không ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi đã từng chia sẻ/ giới thiệu
OERs với bạn đọc thư viện 17.2% 22.6% 27.6% 25.3% 7.2%Tôi thường xuyên khai thác
Tôi chưa tùng thu thập và chia
sẻ/ giới thiệu OER tới bạn đọc 16.1% 21.1% 31.2% 25.2% 6.4%Tôi đã từng phối hợp với giảng
viên để thu thập và xây dựng
Về vấn đề giấy phép sử dụng, cần giải quyết một số vấn đề quan trọng về mặt nhận thức Cụ thể, mặc dù có 19,5% và 33,9% ý kiến của giảng viên là rất đồng ý và đồng ý với mệnh đề “Tôi luôn quan tâm đến giấy phép sử dụng đối với bất kỳ tài liệu nào tôi sử dụng”, nhưng số người không quan tâm (32,8%) và phản đối vấn đề này cũng không phải
là nhỏ Điều này cũng lý giải cho tỷ lệ gần 20% giảng viên “không tin tưởng hệ thống giấy phép như Creative Commons”, chỉ gần 25% giảng viên sử dụng giấy phép Creative Commons khi chia sẻ học liệu, và tới hơn 40% giảng viên chỉ quan tâm đến vấn đề bản quyền khi chia sẻ tài liệu với người khác (xem Bảng 13) Về phía cán bộ thư viện, ý thức về giấy phép sử dụng TNGDM cũng còn nhiều hạn chế, có tới trên 20% tổng số người được hỏi thể hiện sự quan tâm cao đến vấn đề giấy phép
và vấn đề bản quyền khi chia sẻ học liệu (xem bảng 14)
Trang 16Bảng 13 Sự quan tâm của giảng viên đối với vấn đề bản quyền
và giấy phép sử dụng TNGDM
Sự quan tâm của giảng viên
đối với vấn đề bản quyền và
giấy phép sử dụng TNGDM
Rất không tán thành tán thành Không Không ý kiến thành Tán Rất tán thành
Tôi luôn quan tâm đến giấy
phép sử dụng đối với bất kỳ tài
liệu nào tôi sử dụng
5.7% 8.0% 32.8% 33.9% 19.5%
Tôi trích dẫn đầy đủ khi sử
dụng OERs cũng như các tài
liệu khác
4.7% 2.9% 20.5% 42.7% 29.2%
Tôi luôn nhắc nhở sinh viên về
vấn đề đạo văn trong các hoạt
động học tập và nghiên cứu
khoa học
2.9% 3.5% 19.7% 40.5% 33.5%
Tôi đã từng chia sẻ học liệu
của tôi kèm theo giấy phép
Creative Commons
18.3% 14.8% 42.0% 16.6% 8.3%
Tôi chỉ quan tâm đến vấn đề
bản quyền khi chia sẻ tài liệu
với người khác
7.1% 14.3% 38.1% 30.4% 10.1%
Tôi không tin tưởng hệ thống
giấy phép như Creative
Commons
15.0% 21.6% 43.7% 18.0% 1.8%
Tôi sẽ tìm hiểu giấy phép và
gắn giấy phép vào tài liệu của
tôi khi tôi chia sẻ
4.7% 9.9% 33.3% 38.6% 13.5%
Về vấn đề đạo đức sử dụng và bản quyền trong tiếp cận TNGDM, các nhóm người dùng liên quan đã có sự hiểu biết và trải nghiệm tương đối phù hợp Mặc dù có 70% giảng viên luôn lưu ý sinh viên về vấn đề đạo văn trong học tập và nghiên cứu khoa học (xem Bảng 13), nhưng
có tới 31,6 % sinh viên ủng hộ ý kiến cho rằng không cần trích dẫn khi
sử dụng tài liệu miễn phí, có 55,3% sinh viên đồng ý cho rằng không để
ý lắm đến vấn đề bản quyền, giấy phép khi sử dụng tài liệu trên mạng
và 45,7% sinh viên cho rằng chưa chú ý lắm đến các vấn đề đạo văn và trích dẫn trong quá trình học tập (xem Bảng 15)
Có thể thấy nhận thức và hiểu biết về bản quyền, giấy phép liên quan đến sử dụng TNGDM đang là vấn đề cần đặc biệt quan tâm Hai đối tượng sử dụng chính (giảng viên và sinh viên) chưa nhận thức và