1. Trang chủ
  2. » LUYỆN THI QUỐC GIA PEN-C

Bàn về khái niệm nhà nước pháp quyền và việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo Hiến pháp 2013

15 67 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 432,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại, mặc dù Hiến pháp 2013 đã khẳng định rõ vị thế và quyền làm chủ của nhân dân, song nhận thức về thực thi dân chủ ở nước ta vẫn còn phiến diện và ít nhiều sai lệch, thể hiện ở [r]

Trang 1

BÀN VỀ KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ VIỆC XÂY DỰNG

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

THEO HIẾN PHÁP 2013

PGS.TS Vũ Công Giao – ThS.NCS Nguyễn Minh Tâm

Ở Việt Nam, khái niệm “nhà nước pháp quyền” lâu nay vẫn được đồng nhất với khái niệm

“the Rule of Law” trong tiếng Anh (và đôi khi là với cả khái niệm Rechtsstaat trong tiếng Đức và État de Droit trong tiếng Pháp) Tuy nhiên, quan điểm này có thể cần phải xem xét thêm

Trước hết nói về the Rule of Law Xét cả về nội hàm và hình thức, thuật ngữ này dịch

sang tiếng Việt cần là “pháp quyền” chứ không phải là “nhà nước pháp quyền” Thuật ngữ

này được A.V Dicey – học giả nổi tiếng về luật hiến pháp của Anh – lần đầu tiên trình bày một cách có hệ thống trong tác phẩm Giới thiệu về nghiên cứu luật hiến pháp (Introduction

to the Study of the Law of Constitution) vào năm 1885 Trong tác phẩm này, Dicey cho rằng, the Rule of Law (đôi khi ông còn gọi là Supremacy of Law) và quyền tối cao của

Nghị viện là hai đặc trưng chính trị riêng biệt của nước Anh, đồng thời là hai nguyên tắc bao trùm của hiến pháp, bổ trợ cho nhau.59 Nguyên tắc cốt lõi của the Rule of Law là sự bình đẳng trước pháp luật và trước quyền tài phán của tòa án, mà theo đó không ai đứng

trên pháp luật, tất cả mọi người, bất kể địa vị hay điều kiện, đều là đối tượng của pháp luật

và chịu sự xét xử của cơ quan tư pháp.60 Ngoài ra, còn hai nguyên tắc khác được Dicey nêu

ra, bao gồm: Thứ nhất, the Rule of Law đối ngược lại với quyền lực tùy tiện, mà vì thế bảo đảm không ai bị trừng phạt hoặc chịu tổn hại về thân thể hay lợi ích, trừ khi có sự vi phạm pháp luật rõ ràng theo thủ tục pháp lý trước tòa án.61 Thứ hai, các nguyên tắc của hiến pháp với nền tảng the Rule of Law không là nguồn gốc, mà là kết quả của quyền con người được hình thành qua án lệ của tòa án.62

Bên cạnh quan điểm của Dicey, hiện tại, có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về the Rule

of Law trong các từ điển và tài liệu của các tổ chức quốc tế, trong đó tiêu biểu như: “The Rule of Law… là sự hạn chế việc sử dụng quyền lực tuỳ tiện bằng cách ràng buộc quyền lực

vào những đạo luật được xây dựng rõ ràng, chặt chẽ” (Từ điển Oxford).63 “The Rule of Law… là trạng thái tuyệt đối rằng luật pháp đứng trên mọi công dân bất chấp sự khác biệt về

quyền lực giữa các công dân” (Black’s Law Dictionary).64 “The Rule of Law… là một

nguyên tắc quản trị mà trong đó tất cả mọi cá nhân, tổ chức, thiết chế, cả công và tư, kể cả các nhà nước, đều phải tuân thủ pháp luật mà được công bố công khai, được áp dụng bình đẳng và được phán định một cách độc lập, phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế Pháp quyền đồng thời đòi hỏi các biện pháp bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, công bằng trong áp dụng pháp luật, phân chia quyền lực, sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định, tính tin cậy pháp lý, phòng chống sự tuỳ tiện và tính minh bạch của pháp luật và thủ tục” (theo Liên hợp quốc).65

58 Một số nội dung của phần này cũng được thể hiện trong bài viết “Một số vấn đề lý luận về pháp quyền và nguyên tắc pháp quyền” của hai tác giả gửi tới Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội) năm 2018

59 Xem: A.V Dicey (1979 [1885]), Introduction to the Study of Law of the Constitution (A.V Dicey With an Introduction by E.C.S Wade), London: The MacMillan Press, tr.183-184, 406

60 Xem: A.V Dicey (1979 [1885]), tài liệu đã dẫn, tr.193

61 Xem: A.V Dicey (1979 [1885]), tài liệu đã dẫn, tr.188

62 Xem: A.V Dicey (1979 [1885]), tài liệu đã dẫn, tr.195-196

63 Xem: https://en.oxforddictionaries.com/definition/rule_of_law, [truy cập: 7/5/2018]

64 Xem: Bryan A Garner (ed in chief) (2014), Black’s Law Dictionary, 10 th edition, tr.692

65 Xem: UN Security Council (2004), The rule of law and transitional justice in conflict and post-conflict societies: report of the Secretary-General, tại: http://www.refworld.org/docid/45069c434.html, [truy cập: 7/5/2018]

Trang 2

“The Rule of Law… là một hệ thống/cơ chế mà trong đó không một chủ thể nào, kể cả nhà

nước, được đứng trên pháp luật; nơi mà pháp luật bảo vệ các quyền cơ bản và tất cả mọi người đều có thể tiếp cận với công lý” (theo WJP).66

Mặc dù vậy, có thể thấy các định nghĩa nêu trên có sự khác nhau ít nhiều về diễn đạt và nội hàm, nhưng trọng tâm đều xoay quanh các yếu tố đó là vị trí, mục đích và tính chất của pháp luật trong xã hội Cụ thể hơn, có sự đồng thuận phổ biến về các thuộc tính cốt lõi của pháp quyền đó là:

(1) Vị trí của pháp luật – pháp luật có tính tối thượng mà mọi chủ thể trong xã hội, bao

gồm cả người dân và nhà nước, đều bị điều chỉnh bởi pháp luật và đều phải tuân thủ pháp luật;

(2) Mục đích của pháp luật – pháp luật phải bảo vệ công lý và quyền con người;

(3) Tính phù hợp của pháp luật – pháp luật cần phải được xây dựng một cách dân chủ

và nội dung của pháp luật phải phản ánh những quy tắc dân chủ cơ bản được cộng đồng quốc

tế thừa nhận rộng rãi.67

Cả ba thuộc tính nêu trên thực tế là sự cụ thể hoá và phát triển những luận điểm của Dicey về the Rule of Law Các thuộc tính có sự gắn kết với nhau, đều là những yêu cầu không thể thiếu của pháp quyền Nếu lược bỏ hay cắt xén bất kỳ thuộc tính nào cũng sẽ phá

hỏng hoặc làm méo mó khái niệm pháp quyền

Từ những phân tích trên, có thể thấy pháp quyền (The Rule of Law) là một phạm trù có

nội hàm trừu tượng, rộng và bao trùm hơn so với khái niệm “nhà nước pháp quyền” mà đang được sử dụng phổ biến ở Việt Nam Cụ thể, nếu như nhà nước pháp quyền hàm ý một mô hình mà nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và bản thân mình cũng tuân thủ pháp luật, thì the Rule of Law hàm ý một nguyên tắc hay cơ chế mà ràng buộc mọi chủ thể trong xã hội, trong đó không chỉ nhà nước mà cả mọi công dân, vào một “luật chơi” chung, trong đó lấy pháp luật làm chuẩn mực đối chiếu Như vậy, việc đồng nhất “nhà nước pháp quyền” với

“The Rule of Law” sẽ làm hẹp đi rất nhiều ý nghĩa và tác động của pháp quyền

Bảng dưới đây phác hoạ một số khác biệt giữa hai quan niệm về pháp quyền và nhà nước pháp quyền:

Một phạm trù chính trị-pháp lý, được phổ

biến và thảo luận rộng rãi

Một thuật ngữ chính trị-pháp lý, chỉ được đề cập, thảo luận ở một số nước, đôi khi được đồng nhất với pháp quyền

Lý thuyết về vị trí, vai trò tối thượng của

pháp luật và việc vận dụng pháp luật trong

quản trị quốc gia

[Quan điểm] về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dựa trên pháp luật

Nguyên tắc nền tảng cho sự tồn tại và phát

triển của một xã hội dân chủ, chi phối hoạt

động của tất cả các chủ thể bao gồm cả nhà

nước, tổ chức, công dân

Mô hình (không phải kiểu) nhà nước trong

đó bộ máy được tổ chức và hoạt động dựa trên pháp luật, sử dụng pháp luật để quản lý

xã hội

Tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ, quản trị

hiệu quả và tôn trọng nhân quyền của các

quốc gia

Mục tiêu hướng tới của một số quốc gia

66 Xem: https://worldjusticeproject.org/about-us/overview/what-rule-law, [truy cập: 7/5/2018]

67 Xem thêm cuốn: Geoffrey de Q Walker (1988), The Rule of Law: Foundation of Constitutional Democracy, Melbourne: Melbourne University Press

Trang 3

The Rule of Law cũng khác với một thuật ngữ khác là Rule by Law (thường được dịch

là “pháp trị”) the Rule of Law được cho là đặt pháp luật trên chính trị, pháp luật là tối cao đối với cả chính quyền và các cá nhân trong xã hội Ngược lại, Rule by Law có nghĩa sử dụng

pháp luật như một công cụ của quyền lực chính trị: nhà nước dùng pháp luật để kiểm soát người dân, nhưng không cho phép pháp luật được sử dụng để kiểm soát nhà nước (nhà nước

đứng trên pháp luật) Giữa the Rule of Law và Rule by Law có điểm chung là xã hội có pháp luật và được quản lý bằng pháp luật, nhưng Rule by Law thiếu những yêu cầu quan trọng khác về mục đích, tính phù hợp của pháp luật như trong the Rule of Law Trong mối quan hệ

so sánh này, có thể thấy khái niệm “nhà nước pháp quyền” đang được dùng ở Việt Nam có

phần nghiêng nhiều về phía Rule by Law hơn là về phía the Rule of Law

The Rule of Law cũng không đồng nghĩa với những thuật ngữ mà ở Việt Nam vẫn được xem là gần gũi với nó như Rechtsstaat và État de Droit

Trước hết, về Rechtsstaat Đây là lý thuyết lấy cảm hứng từ học thuyết luật thực chứng (positive law doctrine) – là triết lý truyền thống về nhà nước của các nhà triết học Đức, cụ

thể như từ Kant, Fichte, Hegel Theo học thuyết này, luật pháp là do nhà nước ban hành, có tính chất “thế tục”.68 Cốt lõi của Rechtsstaat là quan điểm về một "nhà nước tự giới hạn",

trong đó nhà nước là nguồn gốc của luật pháp, song cũng tự đặt mình dưới luật pháp, tự tuân thủ luật pháp Luật pháp không áp đặt trên nhà nước một ràng buộc từ bên ngoài, một giới hạn khách quan, mà giới hạn đó do chính nhà nước tự đặt ra cho mình để tạo ra những nguyên tắc cho việc thực hiện quyền lực của mình.69 Mặc dù những giới hạn đó mang tính chủ quan song vẫn có ý nghĩa ràng buộc thực sự với nhà nước, bởi khi nhà nước không tôn trọng luật pháp, tức là phá bỏ những giới hạn đó cũng tức là tự mình hủy bỏ trật tự pháp lý làm nền móng cho sự tồn tại của chính mình70

Ở Việt Nam, quan điểm phổ biến cho rằng Rechtsstaat là “phiên bản” Đức của the Rule

of Law (hoặc là hình thức biểu hiện trên thực tế của the Rule of Law), đồng thời xem thuật ngữ Rechtsstaat hoàn toàn đồng nhất với “nhà nước pháp quyền” Tuy nhiên, cần thấy rằng

xét về nguồn gốc nếu như the Rule of Law là thuật ngữ xuất phát từ quan điểm về vị trí, vai trò, ý nghĩa của pháp luật trong tư tưởng của nhà triết học Anh Dicey, mang đặc tính của

truyền thống luật Anh-Mỹ (common law), thì Rechtsstaat xuất phát từ quan điểm thực chứng

về nhà nước của các nhà triết học cổ điển Đức, có tính chất của truyền thống luật châu Âu

lục địa (Roman Law hoặc Civil Law), vì thế khó có thể nói rằng Rechtsstaat là bản sao hay

là biểu hiện thực tế của the Rule of Law Quan trọng hơn, mặc dù có những điểm chung khi nói đến pháp luật, song nội hàm của Rechtsstaat không hoàn toàn tương đồng với the Rule of Law Cụ thể, nếu như the Rule of Law là một nguyên tắc hay hệ thống chi phối hoạt động của cả nhà nước và xã hội, thì Rechtsstaat chủ yếu tập trung vào nhà nước Mục đích của the

Rule of Law là tạo ra “luật chơi” chung cho mọi chủ thể trong đó lấy pháp luật làm tiêu

chuẩn, thì mục đích của Rechtsstaat chỉ là hạn chế quyền lực của Nhà nước bằng luật pháp 71 Trong một xã hội dựa trên the Rule of Law, pháp luật là tối thượng, mọi chủ thể, cả nhà nước và người dân, đều phải hành xử dựa trên pháp luật, còn trong một xã hội theo mô

hình Rechtsstaat, Nhà nước bị đặt dưới luật pháp, chỉ được hành động theo những quy định

của luật pháp.72

68 Xem: Danilo Zolo (2007), “The Rule of Law: A Critical Reappraisal”, trong: Pietro Costa, Danilo Zolo (edited), The Rule of Law: History, Theory and Criticism, Published by Springer, the Netherlands, tr.11-13

69 Cao Huy Thuần (2007), “Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Tia Sáng Online ngày 24/12/2007

70 Cao Huy Thuần, tài liệu đã dẫn

71 Xem thêm Cao Huy Thuần, tài liệu đã dẫn

72 Theo Cao Huy Thuần, đây là điểm khác biệt căn bản giữa Nhà nước luật pháp (Rechtsstaat) và Nhà nước cảnh sát (Polizeistaat) – một mô hình nhà nước mà có các dấu hiệu của the rule by law Xem thêm Cao Huy Thuần, tài liệu đã dẫn

Trang 4

Như vậy, xét đến sự giới hạn về nội hàm so với the Rule of Law, Rechtsstaat có sự

tương đồng nhất định với “nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam Tuy nhiên, việc đồng nhất

Rechtsstaat với “nhà nước pháp quyền” vẫn mang tính tư biện, khiên cưỡng bởi lẽ Rechtsstaat nhấn mạnh vào mục đích và các biện pháp hạn chế quyền lực của Nhà nước bằng

luật pháp, và việc này được thực hiện bằng nhiều cơ chế; còn “nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam tuy có đề cập đến yếu tố hạn chế quyền lực nhưng không coi đó là nền tảng Cụ thể, trong các yếu tố được xem là đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ được đề cập một cách mờ nhạt và hạn chế (tập trung vào hình thức kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước) trong đặc trưng thứ

ba.73 Ngược lại, bởi chỉ tập trung vào vai trò giới hạn quyền lực nhà nước của luật pháp,

Rechtsstaat thiếu hụt một số đặc trưng được xác định cho “nhà nước pháp quyền” như tính

chất thượng tôn của pháp luật với mọi chủ thể trong xã hội; vị trí, vai trò của nhân dân trong

mối quan hệ với nhà nước và pháp luật Chính vì vậy, có tác giả không dịch Rechtsstaat là

‘nhà nước pháp quyền”, mà thành “nhà nước luật pháp” để phù hợp với cả nội hàm và ý

nghĩa chiết tự của nó (trong tiếng Đức, Recht là luật pháp, Staat là Nhà nước). 74

Về État de Droit Lý thuyết này được cho là do Raymond Carré de Malberg đề xuất ở Pháp giai đoạn nền Cộng hòa thứ ba, trong tác phẩm Contributions à la théorie générale de l’État (1920).75 Xét cả về nội dung và chiết tự, État de Droit thực chất là một cố gắng tổng hợp lý thuyết về Rechtsstaat của Đức để áp dụng vào Pháp Sự khác biệt giữa État de Droit

và Rechtsstaat chủ yếu là do trong quá trình du nhập ấy, người Pháp đã bổ sung thêm một số yếu tố của lý thuyết về Due Process of Law từ Hoa Kỳ.76 Mục tiêu chủ yếu của État de Droit

là bảo vệ các quyền cá nhân trước khả năng tùy tiện của nhà nước, bằng cách nhà nước “tự giới hạn” quyền lực thông qua việc tự ràng buộc vào nghĩa vụ tôn trọng các quy tắc, giá trị

chung Theo cách tiếp cận đó, chủ quyền nhân dân (popular or national sovereignty) được trao cho Nghị viện, cơ quan có địa vị tối cao tuyệt đối (absolute primacy) so với các nhánh

quyền lực nhà nước khác “Luật pháp” được hiểu là sự biểu hiện ý chí chung của quốc gia

(nation’s general will), và do đó, hành pháp phải chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt bởi lập

pháp Thẩm phán cũng không được phép can thiệp vào việc thực hiện quyền lập pháp, bao gồm việc không thể đình chỉ thi hành luật pháp Mặc dù vậy, lập pháp cũng phải tuân thủ Hiến pháp, văn bản được tách biệt với các luật thông thường bằng cách đặt ở vị trí cao nhất

mà Nghị viện – “quyền lực được ủy quyền” (constituted powers), 77 cũng buộc phải tôn trọng các giới hạn pháp lý được đặt ra trong Hiến pháp

Trong thực tế, những yếu tố cốt lõi của État de Droit như tính chất của pháp luật, chủ

quyền nhân dân, quyền con người, quyền công dân đã được hình thành và thử nghiệm trong

Cách mạng Pháp 1789, Rechtsstaat chỉ là khung mẫu để dựa trên đó người Pháp hoàn thiện

và lý thuyết hoá những yếu tố đó.78 Sự hoàn thiện thể hiện ở việc khi du nhập Rechtsstaat,

người Pháp đã tìm ra còn đường khả dĩ để quyết sự bối rối kéo dài vài thế kỷ của họ trước một vấn đề lý thuyết hóc búa, đó là mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, mà thể hiện qua

73 Cụ thể là: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước” Xem Đào Trí Úc, Giáo trình Nhà nước pháp quyền, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội, 2015

74 Xem Cao Huy Thuần, tài liệu đã dẫn

75 Raymond Carré de Malberg (1920), Contributions à la théorie générale de l’État, tại

http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k9359q

76 về Due Process of Law

77 “Quyền lực được ủy nhiệm” (constituted powers) [thẩm quyền tiền lập pháp (pre-legal power)] chỉ là một phần của “quyền lập hiến” (constituent power) – thuộc về nhân dân Quyền lực được ủy nhiệm là quyền lực có giới hạn; còn quyền lập hiến là quyền lực vô hạn, không phải chịu bất cứ hạn chế nào của Hiến pháp Nhân dân có quyền quyết định đâu là những giá trị và nguyên tắc nền tảng của cộng đồng; có quyền xem xét, sửa đổi và thay đổi Hiến pháp của mình [Điều 28 Tuyên ngôn về quyền (Declaration of Rights, 1793)]

78 Cao Huy Thuần, tài liệu đã dẫn

Trang 5

câu hỏi: nhà nước và pháp luật, cái nào ở trên và quyết định cái nào? 79 Giải pháp về “nhà

nước tự giới hạn” của người Đức trong Rechtsstaat, trong đó cho rằng nhà nước là cái đứng

trên và quyết định pháp luật, tuy bị tranh luận và phê phán kịch liệt ở Pháp vì mâu thuẫn với quan điểm về chủ quyền nhân dân còn lỏng lẻo và mang tính hình thức của Rút-xô, nhưng

rốt cục vẫn được chấp nhận và thể hiện trong État de Droit

Nói tóm lại, cả người Đức và người Pháp, thông qua Rechtsstaat và État de Droit, đều

cho rằng nhà nước có trước và tạo ra pháp luật, pháp luật là sản phẩm và công cụ của nhà nước để quản lý xã hội, nhưng nhà nước cũng phải tự mình đặt dưới pháp luật, tự mình tôn trọng pháp luật Tư duy này rõ ràng khác với cách tiếp cận của người Anh trong the Rule of Law khi cho rằng có một thứ có trước và vượt trên nhà nước cũng như pháp luật thực định,

đó chính là pháp luật tự nhiên (natural law) và gắn với nó là các quyền tự nhiên (natural right) của con người Chính cái thứ có trước và vượt trên này là hồn cốt của the Rule of Law,

tạo nên những cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước chặt chẽ và hiệu quả hơn ở các nước

chịu ảnh hưởng bởi nguyên tắc này (chủ yếu là các nước theo truyền thống thông luật - common law) so với những nước chịu ảnh hưởng bởi Rechtsstaat và État de Droit (chủ yếu

là các nước theo truyền thống dân luật - civil law)

Dù vậy, tuy mức độ biểu hiện ít nhiều khác nhau, giữa the Rule of Law, Rechtsstaat và État de Droit cũng có những điểm chung, trong đó bao gồm vị trí của pháp luật như là công

cụ để quản lý xã hội, tính không tuyệt đối của quyền lực nhà nước, và yêu cầu hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền con người, quyền công dân Những điểm chung đó

thể hiện cụ thể ở việc, cả trong the Rule of Law, Rechtsstaat và État de Droit, nhà nước

không phải muốn làm gì thì làm mà đều phải tôn trọng và hành động đúng luật pháp Tuy nhiên, như đã đề cập, trong vấn đề giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước, the Rule of

Law chứng tỏ sự sâu sắc, hợp lý và hiệu quả hơn so với hai lý thuyết còn lại

Khi nghiên cứu về pháp quyền, nhiều học giả thường đưa ra một bản liệt kê các nguyên tắc mà pháp quyền bao hàm như là sự cụ thể hóa những thuộc tính cơ bản cấu thành khái niệm pháp quyền Các nguyên tắc có thể được chia thành các khía cạnh về hình thức, thủ tục,

và nội dung Các khía cạnh về hình thức bao gồm: pháp luật do một thiết chế được ủy quyền làm ra, theo các quy tắc thủ tục; minh bạch (pháp luật được công khai và dễ tiếp cận); pháp luật có tính tổng quát, rõ ràng, thích hợp, ổn định và có thể tiên đoán; pháp luật được áp dụng công bằng và vô tư.80 Các khía cạnh về thủ tục thường làm liên tưởng tới nguyên tắc trình tự

pháp luật công bằng (due process of law), một thuật ngữ khá tương đồng và rất quan trọng

đối với pháp quyền.81 Trong khi đó, các khía cạnh về nội dung của pháp quyền là vấn đề còn gây nhiều tranh luận Nhiều học giả cho rằng pháp quyền chỉ có tính hình thức và thủ tục, trong khi những người khác lại muốn bổ sung thêm các khía cạnh có tính nội dung.82

Các tổ chức như Dự án công lý quốc tế (World Justice Project – WJP), Viện nghiên cứu pháp quyền Úc (The Rule of Law Institute for Australia – RoLIA) sử dụng các nguyên tắc của pháp quyền như là tiêu chí đánh giá mức độ pháp quyền của các quốc gia Cụ thể, WJP đưa ra 4 nguyên tắc có tính phổ quát của pháp quyền đó là: trách nhiệm giải trình; pháp luật công bằng; chính quyền mở; cơ chế giải quyết xung đột vô tư, có thể tiếp cận, 83 còn RoLIA đưa ra 10 nguyên tắc đó là: phân quyền; pháp luật do cơ quan dân cử làm ra; người dân có quyền tự do hội họp và tự do ngôn luận; pháp luật được áp dụng bình đẳng, công bằng; pháp luật được phổ biến đến tất cả mọi người; cấm tra tấn và các hành vi tùy tiện của nhà nước; tư pháp độc lập và xét xử công bằng; suy đoán vô tội và quyền im lặng; không có

79 Cao Huy Thuần, tài liệu đã dẫn

80 Xem: Katrin Blasek (2015), The Rule of Law in China A Comparative Approach, Springer, tr.9-10

81 Xem: Standford Encyclopedia, tại: https://plato.stanford.edu/entries/rule-of-law/, [truy cập: 9/5/2018]

82 Xem: Standford Encyclopedia, tài liệu đã dẫn

83 Xem: https://worldjusticeproject.org/about-us/overview/what-rule-law[truy cập: 7/5/2018]

Trang 6

tội nếu không có luật và cấm hồi tố84 Mặc dù có sự khác nhau nhất định về số lượng và nội dung của các nguyên tắc pháp quyền, nhưng về bản chất, cả WJP và RoLIA đều thừa nhận

và nhấn mạnh nguyên tắc cốt lõi là “thượng tôn pháp luật” Ngoài ra, các nguyên tắc đều đề

cập đến các yếu tố quan trọng khác liên quan đến chất lượng (hay tính chính đáng) của pháp luật; tính hiệu lực, hiệu quả của pháp luật; và mục tiêu bảo vệ nhân quyền của pháp luật

Theo Liên hợp quốc, bản thân the Rule of Law đã mang tính chất là một nguyên tắc về

quản trị nhà nước và xã hội Nghị viện châu Âu coi the Rule of Law là một nguyên tắc chung

của các quốc gia trong khu vực.85 Rộng hơn, pháp quyền còn được xem là một nguyên tắc phổ quát, có tính toàn cầu, đóng vai trò nền tảng cho các quan hệ quốc tế (giải quyết các tranh chấp quốc tế, bảo vệ nhân quyền, bảo vệ hòa bình, an ninh và thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia và cộng đồng quốc tế).86 Như vậy, ở góc độ khái quát nhất và tiếp cận từ vai

trò của nó, có thể định nghĩa nguyên tắc pháp quyền là việc lấy thượng tôn pháp luật làm yếu

tố cơ sở, định hướng, chi phối hoạt động và quan hệ của mọi nhà nước, tổ chức và cá nhân,

cả ở cấp độ quốc gia và quốc tế Từ định nghĩa này và những phân tích ở trên, có thể thấy

thực hiện nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi sự tác động đến tổ chức và hoạt động của toàn bộ

bộ máy nhà nước chứ không chỉ liên quan đến cơ quan lập pháp Sự tác động đó chủ yếu được hướng vào việc kiểm soát, ngăn ngừa sự lạm quyền của các cơ quan nhà nước và bảo

vệ các quyền con người Tuy nhiên, sự tác động của pháp quyền còn nhằm để bảo đảm các quan hệ trong xã hội được thiết lập và vận hành một cách hợp lý, hài hoà và ổn định

2 Quy định về nhà nước pháp quyền trong Hiến pháp 2013 và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam

Khái niệm “pháp quyền” đã được nhắc đến bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái

Quốc) từ năm 1919, trong bản Việt Nam yêu cầu ca (bản dịch ra tiếng Việt theo thể thơ lục bát bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây) Tại văn bản này, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã chuyển thể yêu sách thứ bảy (tổng cộng có 8 yêu sách) thành:

“Bảy xin hiến pháp ban hành,

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”

Thuật ngữ “thần linh pháp quyền” cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc ý

nghĩa của pháp quyền, còn yêu cầu về việc ban hành hiến pháp cho thấy Người nhận thức rõ tầm quan trọng của hiến pháp, và rộng ra là của chủ nghĩa hiến pháp

Tuy nhiên, “nhà nước pháp quyền” là một khái niệm mới chỉ xuất hiện gần đây ở Việt Nam Lần đầu tiên khái niệm này được nhắc đến một cách chính thức là vào năm 1991, 87 tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII năm 1994, 88 sau đó được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1992 ở lần sửa đổi năm 2001 với tên gọi chính thức “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN)” (Điều 2) Cương lĩnh xây dựng đất nước của Đảng (bổ sung năm 2011) tái xác định chủ trương xây dựng “nhà nước pháp quyền XHCN” và xem đó

là một trong 8 phương hướng để đạt được các mục tiêu đề ra trong văn kiện.89

84 Xem: https://www.ruleoflaw.org.au/principles/ [truy cập: 7/5/2018]

85 Xem: Ricardo Gosalbo-Bono (2010), “The Significance of the Rule of Law and Its Implications for the European Union and the United States”, University of Pittsburgh Law Review, Vol 72:229, tại:

https://lawreview.law.pitt.edu/ojs/index.php/lawreview/article/viewFile/159/159, [truy cập: 7/5/2018] Cũng xem: Rule of Law, tại: http://democracyweb.org/node/63, [truy cập: 7/5/2018]

86 Xem: Lời nói đầu, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc; Lời nói đầu Tuyên ngôn phổ quát về nhân quyền; Tuyên

bố về Rule of Law được thông qua theo một nghị quyết của Đại hội đồng ngày 30/11/2012 (A/RES/67/1)

87 Cao Huy Thuần, tài liệu đã dẫn

88 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ Đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.329

89 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), tại: http://www.sggp.org.vn/cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bo-sung-phat-trien-nam-2011-234757.html, [truy cập: 9/5/2018]

Trang 7

Thể chế hoá Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung năm 2011), Hiến pháp năm 2013

kế thừa toàn văn (chỉ khác một điểm nhỏ là viết hoa chữ Nhân dân) quy định về nhà nước pháp quyền trong Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) Cụ thể, Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”

Cả Hiến pháp 1992 và 2013 đều chỉ xác định mục tiêu mà không nêu ra định nghĩa về nhà nước pháp quyền XHCN Mặc dù vậy, có thể khái quát hoá được nội hàm của khái niệm này thông qua một số quy định trong Chương I (Chế độ chính trị) của hai bản Hiến pháp

1992 và 2013 Cụ thể, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo các Hiến pháp 1992 và

2013 mang những dấu hiệu (hay đặc trưng) sau đây:

-Thứ nhất, do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền

tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013)

So với Hiến pháp 1992 (Điều 2), đặc trưng này được bổ sung thêm một nội dung quan trọng đó là “nhà nước do Nhân dân làm chủ”

- Thứ hai, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa

các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013)

So với Hiến pháp 1992 (Điều 2), đặc trưng này được bổ sung một nội dung quan trọng

đó là sự “kiểm soát” giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

-Thứ ba, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo

vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3 Hiến pháp 2013)

So với Hiến pháp 1992 (Điều 3), đặc trưng này được bổ sung một nội dung rất quan trọng đó là: “Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”

-Thứ tư, tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến

pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ (Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013)

So với Hiến pháp 1992, đây là một đặc trưng mới được bổ sung

-Thứ năm, chịu sự lãnh đạo của một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam (Điều

4 Hiến pháp 2013)

So với Hiến pháp 1992 (Điều 4), phần diễn giải về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Điều 4 Hiến pháp 2013 bổ sung quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” Ngoài ra, không chỉ mọi tổ chức của Đảng (theo Hiến pháp 1992) mà cả các đảng viên (theo Hiến pháp 2013) cũng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Trên phương diện lý luận, các đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cũng đã được một số nhà nghiên cứu nước ta xác định (mà cơ bản tương tự như những đặc trưng được khái quát hoá đã nêu ở trên), bao gồm: (1) Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân (2) Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp (3) Quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ (4) Nhà nước quản

lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội (5)

Trang 8

Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân (6) Nhà nước và xã hội do một đảng duy nhất lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam.90

Ngoài hai khái niệm “pháp quyền’và “nhà nước pháp quyền”, gần đây khái niệm

“nguyên tắc pháp quyền” cũng được sử dụng ở Việt Nam, đầu tiên là trong Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Ban Chấp hành trung ương Đảng về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, và trong Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới của Đảng.91 Trong văn kiện các Đại hội Đảng XI và XII, thuật ngữ này cũng được đề cập tới nhưng dưới dạng rút gọn là “pháp quyền”.92

Trong Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới của Đảng, nguyên tắc pháp quyền [XHCN] được trình bày như là yêu cầu và yếu tố nền tảng của nhà nước pháp quyền XHCN.93 Như vậy, các đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN mà đã được xác định có thể được xem là các đặc trưng của nguyên tắc pháp quyền [XHCN] Cách tiếp cận này cần được nghiên cứu

thêm, bởi như đã chỉ ra ở phần trên, không thể đồng nhất giữa pháp quyền với nhà nước pháp quyền, giữa các đặc trưng của một nguyên tắc tổ chức và hoạt động của một xã hội với các đặc trưng của một nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước

Mặc dù chưa xác định cụ thể, song Nghị quyết 48-NQ/TW đã gián tiếp đề cập đến một

số yếu tố có thể xem như là cấu thành của nguyên tắc pháp quyền XHCN, gồm có: (1) Chất lượng của pháp luật: thể hiện qua mục tiêu “xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng

bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch” (Mục 1 Phần I), và định hướng “nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, bảo đảm tốt hơn tính dân chủ, pháp chế, công khai, minh bạch của

hệ thống pháp luật” (Mục 1.3 Phần II) (2) Hiệu lực của pháp luật: thể hiện qua mục tiêu

“đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội (Mục 1 Phần I), và định hướng “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” (Mục 5 Phần II)

(3) Bảo vệ quyền con người: thể hiện qua mục tiêu “xây dựng nhà nước trong sạch, vững

mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Mục I Phần I), và định hướng “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do,

dân chủ của công dân” (Mục 2 Phần II) (4) Giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước: thể

hiện qua các định hướng: cụ thể hóa đầy đủ nguyên tắc hiến định “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Mục 1.2 Phần II); thúc đẩy sự tham gia của người dân, xây dựng cơ chế bảo vệ luật và Hiến pháp (Mục 1.3 Phần II); cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính (Mục 1.4 Phần II) Các quy định nêu trên của Nghị quyết 48-NQ/TW thể hiện cách tiếp cận hợp lý, tiệm cận hơn với quan điểm phổ biến về pháp quyền của cộng đồng quốc tế Cụ thể, trên thế giới, nếu tiếp cận theo nghĩa tổng quát (xem the Rule of Law chính là một nguyên tắc, gọi là

nguyên tắc pháp quyền) thì có thể coi các yếu tố mà WJP và RoLIA xác định (nêu ở phần

trên) chính là các thuộc tính cấu thành của nguyên tắc pháp quyền Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo nghĩa cụ thể hơn thì nội hàm của nguyên tắc pháp quyền cần tiếp tục được chi tiết hoá

Về vấn đề này, WJP đã xác định 9 yếu tố (factors) để đánh giá mức độ pháp quyền của các

90 Xem: Đào Trí Úc (chủ biên) (2006), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.233-315

91 Xem: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; và Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội

92 Xem: Nguyễn Xuân Tùng (2017), “Khái niệm, nội dung của nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, tham luận tại Tọa đàm khoa học: Một số vấn đề lý luận về thực hiện nguyên tắc pháp quyền, tổ chức ở Viện Nhà nước và pháp luật, ngày 27/02/2017 tại Hà Nội

93 Xem: Nguyễn Xuân Tùng (2017), tài liệu đã dẫn

Trang 9

quốc gia Nếu xét nội dung của chúng, có thể xem 9 yếu tố này như là các thuộc tính cụ thể

cấu thành nguyên tắc pháp quyền, bao gồm: (1) Quyền lực của chính quyền bị giới hạn; (2) Không tham nhũng; (3) Chính quyền mở; (4) Quyền con người cơ bản; (5) Trật tự và an ninh; (6) Thực thi pháp luật; (7) Tư pháp dân sự; (8) Tư pháp hình sự; và (9) Tư pháp không chính thức.94

Có thể thấy 9 yếu tố nêu trên rất toàn diện, cụ thể, bao trùm một phạm vi rộng các vấn

đề mà trong đó có một số chưa được quan tâm đúng mức ở Việt Nam, cũng như chưa từng hoặc ít được gắn với nội hàm của pháp quyền hay nhà nước pháp quyền theo quan điểm phổ biến ở Việt Nam (như: tư pháp không chính thức, chính quyền mở, và không tham nhũng) Các yếu tố khác, về bản chất đều đã có những nội dung tương đồng trong Nghị quyết số 48-NQ/TW và một số văn kiện của Đảng Nhìn chung, xét cả trên phương diện chính trị và pháp

lý, tất cả 9 yếu tố nêu trên đều không xung đột với đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng

và Nhà nước Việt Nam, vì vậy đều có giá trị tham khảo trong việc xác định nội hàm của nguyên tắc pháp quyền [XHCN], và rộng ra là trong việc thi hành quy định về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta

3 Một số vấn đề đặt ra với việc thi hành quy định về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong Hiến pháp 2013

Từ những nội dung đã trình bày ở các phần trên, có thể thấy để thực thi quy định về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong Hiến pháp 2013, điều đầu tiên là cần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về pháp quyền và nhà nước pháp quyền

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu lý luận đã được xác định ngay trong Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới Trong văn kiện này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định về những hạn chế trong nhận thức như sau: “Lí luận… về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về dân chủ và xây dựng nền dân chủ XHCN, … còn hạn chế, chưa đầy đủ và hệ thống, chưa

lý giải và làm sáng tỏ nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra;… Quan điểm về dân chủ XHCN chưa sâu sắc và đầy đủ; có lúc, có nơi còn xem nhẹ việc thực hành dân chủ; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương Chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp”.95 “Bản chất, đặc trưng, cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN chưa được xác định rõ và đầy đủ… Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nhận thức chưa đầy đủ về nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, về cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước, … Các nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, tính tối thượng của Hiến pháp, vai trò, tiêu chuẩn của pháp luật và hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền XHCN; tiêu chuẩn, đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN, … chưa được nhận thức, quy định đầy đủ trong mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị”.96

Đi sâu vào chi tiết, nhận thức của giới học thuật nước ta hiện nay về hai khái niệm pháp quyền và nhà nước pháp quyền vẫn còn chưa thống nhất và còn những điểm chưa hợp lý,

trong đó đáng tranh luận nhất đó là xu hướng đồng nhất pháp quyền (the Rule of Law) với nhà nước pháp quyền (the state governed by the rule of law) Như đã phân tích ở các mục trên, từ góc độ học thuật, pháp quyền có sự liên quan nhưng không thể đồng nhất với nhà nước pháp quyền, cũng như với các thuật ngữ gần gũi khác với nó như Rechtsstaat, État de droit Đây là điều đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước chứng minh So sánh với ba thuật ngữ nhà nước pháp quyền (của Việt Nam), Rechtsstaat (của Đức), và État

94 Xem: World Justice Project, “Factors of the Rule of Law”, tại: https://worldjusticeproject.org/our-work/wjp-rule-law-index/wjp-rule-law-index-2017–2018/factors-rule-law, [truy cập: 7/5/2018]

95 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.144

96 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), tài liệu đã dẫn, tr.145

Trang 10

de droit (của Pháp), pháp quyền (Rule of Law) có nguồn gốc riêng và có nội hàm rộng, bao trùm nhất Sự đồng nhất các thuật ngữ này, đặc biệt là giữa pháp quyền và nhà nước pháp quyền là sự khiên cưỡng về mặt học thuật Ở Việt Nam, sự đồng nhất về mặt thuật ngữ đã

dẫn tới tình trạng đồng nhất các yếu tố cấu thành của pháp quyền với các yếu tố cấu thành của nhà nước pháp quyền XHCN; thậm chí còn có sự đồng nhất pháp quyền với thuật ngữ

“pháp trị” (Rule by Law) Hậu quả là đã làm hẹp đi đáng kể nội hàm của pháp quyền/ nguyên tắc pháp quyền, và làm “hạ cấp” mục tiêu [lẽ ra cần là] xây dựng một xã hội pháp quyền xuống còn nhà nước pháp quyền

Mặc dù trên thế giới hiện cũng chưa có một định nghĩa chung về pháp quyền, song cũng có thể nhận biết được khái niệm này qua một số thuộc tính cấu thành được thừa nhận một cách phổ biến Các yếu tố này tập trung vào những vấn đề như: tính tối thượng của pháp luật; hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ nhân quyền, bảo đảm pháp luật được xây dựng một cách phù hợp và được thực thi hiệu quả trên thực tế

Cũng từ những phân tích ở các phần trên, có thể thấy hầu như tất cả các yếu tố cấu thành của pháp quyền theo cách hiểu phổ biến trên thế giới đã được thể hiện, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong các văn kiện của Đảng và trong hai bản Hiến pháp 1992, 2013 của Việt Nam (song được hiểu với tính chất như là các yêu cầu hay nội dung của nhà nước pháp quyền XHCN) Như vậy, có thể tham khảo và áp dụng các yếu tố cấu thành của pháp quyền

mà đã được một số tổ chức nghiên cứu và học giả quốc tế xác định để xây dựng lên nội hàm của pháp quyền hoặc nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Tuy nhiên, một yêu cầu đặt

ra ở đây là cần tách bạch giữa các yếu tố cấu thành của pháp quyền với các yếu tố cấu thành của nhà nước pháp quyền Để thực hiện được việc này, cần bắt đầu từ việc nhận thức lại về khái niệm pháp quyền trong mối quan hệ với khái niệm nhà nước pháp quyền

Về phương diện thực tiễn, cũng cần xem xét, đánh giá và củng cố khung khổ pháp lý

về những vấn đề gắn liền với nội hàm của pháp quyền/nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, tiêu biểu như:

- Vấn đề dân chủ

Hiện tại, mặc dù Hiến pháp 2013 đã khẳng định rõ vị thế và quyền làm chủ của nhân dân, song nhận thức về thực thi dân chủ ở nước ta vẫn còn phiến diện và ít nhiều sai lệch, thể hiện ở chỗ dân chủ cơ bản đang được đánh đồng với bầu cử, xem việc tổ chức bầu cử “đúng quy trình” đã là đảm bảo dân chủ Ở đây, trong khi đúng là bầu cử được coi là yếu tố nổi bật,

là chìa khóa của dân chủ, qua đó thành lập nên chính quyền, tuy nhiên quy trình bầu cử phải thỏa mãn được các yếu tố như phổ thông, tự do, công bằng và cạnh tranh Để bầu cử đáp ứng được những yêu cầu này, trước hết các quyền tự do ngôn luận và hiệp hội của công dân phải được bảo đảm, để người dân có thể biểu đạt, truyền đạt quan điểm của mình và thuyết phục người khác cùng tham gia Robert Dahl – một cố Giáo sư chính trị học nổi tiếng của Hoa Kỳ, chỉ ra sáu thiết chế tối thiểu của một nền dân chủ đại diện hiện đại bao gồm:97 (1) Các quan chức do dân bầu; (2) Những cuộc bầu cử tự do, công bằng, và theo định kỳ; (3) Quyền tự do biểu đạt; (4) Khả năng tiếp cận thông tin; (5) Quyền tự chủ của các tổ chức; và (6) Mọi người đều có quyền công dân Sáu thiết chế này đảm bảo hai chiều kích của dân chủ, đó là

bầu cử cạnh tranh và sự tham gia của người dân Đây chính là khuôn khổ chính yếu cho các

thước đo dân chủ hiện đại Ở nước ta hiện nay cả hai chiều kích này đều đã có, nhưng đều mang tính hình thức, chưa thực chất, thiếu hiệu quả

Khuôn khổ pháp lý hiện hành về dân chủ đại diện (luật về bầu cử), tuy mới sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chứa đựng nhiều quy định bất cập (như quy định về ứng cử, đề cử, hiệp

97 Xem thêm cuốn: Robert A Dahl (2015 [1998]), Bàn về dân chủ (On Democracy, Phạm Nguyên Trường dịch), Nxb Giấy Vụn, Huê Kỳ (Phần về các thiết chế của chế độ dân chủ đại diện hiện đại trình bày ở tr.134-136)

Ngày đăng: 17/01/2021, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w