1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

NGHIÊN cứu TỔNG QUAN về dân tộc THIỂU số ở TUYÊN QUANG 22

40 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 75,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về chính sách của nhà nước với dân tộc thiểu số nhằm phát triển du lịch. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục giữ vững quan điểm xem vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có ý nghĩa chiến lược và cấp bách; công tác dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị. Đảng và nhân dân ta kiên quyết đấu tranh chống mọi âm mưu chia rẽ dân tộc, thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữa vững độc lập, thống nhất Tổ quốc;

Trang 1

NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TUYÊN QUANG; CÁC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ

NƯỚC VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh

Viện dân tộc học

1 Đặc điểm về địa lý, dân tộc và địa bàn cư trú

1.1 Đặc điểm địa lý 1

Vị trí địa lý: Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có toạ độ địa lý 210

30'-22040' vĩ độ Bắc và 104053'- 105040' kinh độ Ðông, cách Thủ đô Hà Nội 165

Km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.868 km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước.Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh là quốc lộ 2 đi qua địa bàntỉnh dài 90 km từ Phú Thọ lên Hà Giang, quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi quahuyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái Hệ thống sông ngòi của tỉnh bao gồm

500 sông suối lớn nhỏ chảy qua các sông chính như: Sông Lô, Sông Gâm, SôngPhó Ðáy

Ðịa hình: Tuyên Quang bao gồm vùng núi cao chiếm trên 50% diện tích toàntỉnh gồm toàn bộ huyện Na Hang, Lâm Bình, các xã vùng cao của huyện Chiêmhoá và 02 xã của huyện vùng cao Hàm Yên; vùng núi thấp và trung du chiếmkhoảng 50% diện tích của tỉnh, bao gồm các xã còn lại của 02 huyện ChiêmHoá, Hàm Yên và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương Ðiểm cao nhất là đỉnh núiChạm Chu (Hàm Yên) có độ cao 1.587 m so với mực nước biển

Khí hậu: Mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khíhậu lục địa Bắc Á Trung Hoa có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh - khô hạn và mùa

hè nóng ẩm mưa nhiều; mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 và thường gây

ra lũ lụt, lũ quét Các hiện tượng như mưa đá, gió lốc thường xảy ra trong mùamưa bão với lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.500 - 1.700 mm Nhiệt độtrung bình hàng năm đạt 220 - 240 C Cao nhất trung bình 330 - 350 C, thấp nhất

1http://www.tuyenquang.gov.vn/web

Trang 2

trung bình từ 120 - 130 C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch), hay cósương muối

Với tổng diện tích tự nhiên 586.800 ha, tỉnh Tuyên Quang có quy mô diệntích ở mức trung bình so với cả nước, bình quân diện tích tự nhiên theo đầungười là 0,87 ha/người (năm 2004) Đất đai Tuyên Quang tương đối tốt, có thểtạo ra vùng chuyên canh chè, mía, lạc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chếbiến Diện tích đất nông nghiệp: 70.195 ha, chiếm 11,96%, đất lâm nghiệp córừng 445.848 ha, chiếm 76,16%, đất ở 5.156 ha và đất chưa sử dụng 26.765 ha

Đất đai Tuyên Quang được phân chia làm các khu vực sau:

- Khu vực núi cao phía Bắc: Gồm toàn bộ huyện Na Hang, Lâm Bình và các

xã vùng cao của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn Diện tích toàn khuvực này chiếm khoảng trên 50% diện tích tự nhiên của tỉnh, phù hợp với việc khoanhnuôi rừng tự nhiên và trồng rừng, phát triển kinh tế lâm - nông nghiệp

- Khu vực núi thấp: Gồm các xã phía Nam của các huyện Chiêm Hoá, HàmYên, Yên Sơn và Sơn Dương Diện tích khu vực này chiếm 40% diện tích tựnhiên của tỉnh Đồi núi ở đây có độ dốc phổ biến 100 đến 250, thích hợp cho trồngcây công nghiệp dài ngày, cây lương thực và cây ngắn ngày khác

- Khu vực đồi và thung lũng dọc sông Lô, sông Phó Đáy gồm Thành phốTuyên Quang và phần còn lại của các huyện Yên Sơn, Sơn Dương với diện tíchkhoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh Khu vực này đang và sẽ là địa bàn trọngđiểm sản xuất công nghiệp, phát triển các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của tỉnh.Lâm nghiệp là tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế của tỉnh Độ chephủ của rừng đạt 63 % Đặc biệt rừng Tuyên Quang có một hệ thực vật rấtphong phú với 760 loài của 349 chi, 126 họ thuộc 8 ngành thực vật bậc cao cómạch, đó là: hạt kín, thông, tuế, thông đất, khuyết lá thông, cỏ tháp bát, dương

xỉ, dây gắm Ngoài ra, còn có 207 loài cây gỗ cao từ 10 mét trở lên thuộc 60 họ,các loài dây leo thuộc 17 họ và có trên 20 loài thực vật bậc cao, thuỷ sinh thuộccác họ hoà thảo, cói, rong, tóc tiên, rong mái chèo,… Theo danh mục trong sách

Trang 3

đỏ Việt Nam, tỉnh Tuyên Quang có 18 loài thực vật quý hiếm như: Trầm hương,nghiến, lát hoa, tuế đá vôi, hoàng đàn, pơ mu…

Kết quả kiểm kê rừng (theo Chỉ thị 286/CT - TTg của Thủ tướng Chínhphủ), rừng gỗ chiếm 2/3 diện tích rừng toàn tỉnh, trữ lượng 16.116.000 m3 gồmcác loại như keo, lát, mỡ, bạch đàn, thông, xoan, tếch, bồ đề…Trong đó, cây keo

và bồ đề có trữ lượng lớn nhất (từ 550.000 -650.000 m3 mỗi loại), tiếp đến là

mỡ và thông mỗi loại từ 120.000 - 300.000 m3; cây gỗ lát khoảng 66,5 tỷ cây.Ngoài ra, có rừng đặc sản là quế, diện tích xấp xỉ 4.000 ha nhưng có giá trị kinh

tế rất cao

Tài nguyên khoáng sản: Theo sổ mỏ và điểm quặng tỉnh Tuyên Quang doCục Địa chất Việt Nam – Bộ Công nghiệp biên soạn năm 1994 và tài liệu củacác ngành hữu quan, tỉnh Tuyên Quang có 163 điểm mỏ với 27 loại khoáng sảnkhác nhau được phân bố ở các huyện trong tỉnh Trong đó đứng hàng đàu về trữlượng và chất lượng là quặng sắt, barit, cao lanh, thiếc, mangan, chì-kẽm,angtimon là yếu tố hết sức thuận lợi cho phát triển công nghiệp khai thác , chếbiến khoáng sản và công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng.Trữ lượng, chấtlượng của từng loại khoáng sản được đánh giá như sau:

Mỏ kim loại:

- Sắt: Đã phát hiện 17 điểm mỏ quặng với tổng trữ lượng dự báo khoảng 7triệu tấn Một vài điểm quặng có trữ lượng đáng kể như điểm Phúc Ninh, điểmTân Tiến, điểm Cây Nhãn (huyện Yên Sơn), trữ lượng lần lượt khoảng 2,4 triệutấn, 2,2 triệu tấn và 0,5 triệu tấn; điểm Cây Vầu (huyện Hàm Yên) trữ lượnglkhoảng 1,5 triệu tấn

- Thiếc: Đã phát hiện 12 điểm có quặng, tập trung ở huyện Sơn Dương.Tổng trữ lượng cả quặng gốc và quặng sa khoáng đạt xấp xỉ 28.239 tấn SnO2

- Mangan: Có 8 điểm mỏ tập trung chủ yếu ở huyện Chiêm Hoá (7 điểm) vàhuyện Na Hang (1 điểm) Đã có 2 điểm được thăm dò là Nà Pết, Phiêng Lăng(huyện Chiêm Hoá) với trữ lượng dự báo khoảng trên 2,416 triệu tấn

Trang 4

- Chì - kẽm: Có 24 điểm mỏ, tập trung ở thành phố Tuyên Quang, huyện YênSơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá và Na Hang Mới có 6 điểm mỏ được đánh giá trữlượng ở cấp C2 = 195.927 tấn Pb Zn Hàm lượng Pb<10%; Zn<30% Tổng trữlượng cả cấp dự báo là 1.590.000 tấn chì - kẽm kim loại Quặng kẽm dùng đểluyện ô xít kẽm ZnO phục vụ công nghệ hoá chất, công nghệ nhẹ và y tế vàluyện kẽm kim loại

- Angtimoan: Đã phát hiện 15 điểm, trong đó Chiêm Hoá có 10 điểm, NaHang 4 điểm, Yên Sơn 1 điểm Có 4 điểm là Khuôn Phục, Hoà Phú, Làng Vài, CốcTáy (Chiêm Hoá) đã được thăm dò với trữ lượng khoảng 1,2 triệu tấn

Mỏ không kim loại:

- Barit : Đã phát hiện 24 điểm quặng thuộc các huyện Sơn Dương, Yên Sơn

và Chiêm Hoá Các điểm thăm dò gồm: Ao Sen, Hang Lương, Thiện Kế, NgòiThia, Đùng Bùng (Sơn Dương); Làng Chanh, Xóm Hoắc, Xóm Húc (Yên Sơn)

và Hạ Vị (Chiêm Hoá), có trữ lượng trên 2 triệu tấn và hầu hết là mỏ lộ thiên,điều kiện khai thác khá thuận lợi Đây là loại khoáng sản có tiềm năng và ýnghĩa xuất khẩu lớn đối với nền kinh tế của Tuyên Quang

- Đá vôi xây dựng: Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có rất nhiều điểm mỏ đávôi đạt chất lượng tốt trong xây dựng Theo tài liệu địa chất đánh giá tại 9 điểm

mỏ đá vôi (Tràng Đà - thành phố Tuyên Quang; ) có tổng trữ lượng cấp P2:

783 triệu m 3, chất lượng tốt, trữ lượng tập trung, cho khả năng sản xuất ximăng, vật liệu xây dựng quy mô lớn và tại chỗ

- Cao lanh - fenspat: Có nhiều điểm rải rác như Hào Phú, Vân Sơn (SơnDương), Nghiêm Sơn (Yên Sơn) Lớn nhất là điểm mỏ Đồng Gianh (SơnDương) có 11 thân quặng với trữ lượng dự báo khoảng 5 triệu tấn Điểm mỏ caolanh Hào Phú (Sơn Dương) trữ lượng dự báo 1,411 triệu tấn Điểm mỏ cao lanhThái Sơn (Hàm Yên) trữ lượng dự báo 1,075 triệu tấn

- Nước khoáng - nước nóng: Có 2 điểm đáng chú ý là Bình Ca và Mỹ Lâm.Trong đó mỏ nước khoáng Mỹ Lâm có trữ lượng nước khoáng là là 1.474m3/ngày cấp B C1 C2, trong đó cấp B: 492 m 3/ngày; cấp C 2: 248 m 3/ngày

Trang 5

Ngoài các loại khoáng sản trên, Tuyên Quang còn có nhiều loại khoáng sảnkhác như vônfram, pirit, kẽm, chì, đất sét, vàng, cát sỏi,… nằm rải rác cũng là tiềmnăng để phát triển các điểm công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu

1.2 Dân tộc và địa bàn cư trú

Tỉnh Tuyên Quang có nhiều dân tộc cư trú, theo kết quả điều tra ngày 1- 4-2009, dân số toàn tỉnh có 727.505 người Trong đó dân số trong độ tuổi laođộng là 377.314 người, chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh Trên địa bàn tỉnh có 23dân tộc cùng sinh sống Ðông nhất là dân tộc Kinh có 326.033 người, chiếm48,21%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 172.136 người, chiếm 25,45%;dân tộc Dao có 77.015 người, chiếm 11,38%; dân tộc Sán Chay có 54.095người, chiếm 8,0%; dân tộc Hmông có 14.658 người, chiếm 2,16%; dân tộcNùng có 12.891 người, chiếm 1,90%; dân tộc Sán Dìu có 11.007 người, chiếm1,62%; các dân tộc khác chiếm 1,28% Các dân tộc trên thuộc hai ngữ hệ Nam Á

và Hán - Tạng Cụ thể như sau:

o Các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á

- Nhóm Việt - Mường có hai dân tộc là Việt (Kinh) và Mường, đây là những

cư dân bản địa có mặt lâu đời trên đất nước ta và có quan hệ mật thiết với nhau

về nguồn gốc, lịch sử và văn hóa Dân tộc Kinh cư trú ở Tuyên Quang từ lâuđời, họ có mặt ở hầu hết các huyện, thị trấn Dân tộc Mường mới đến, chủ yếu

do hôn nhân1

- Nhóm Tày - Thái có các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay Trong đó dân tộcTày có nguồn gốc bản địa (Tày), số còn lại vốn từ nam Trung Quốc di cư vàoViệt Nam từ khoảng 300 - 400 năm Dân số của các dân tộc này ở các huyệnnhư sau:

Bảng 1: Dân số, dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay 2

1 Ở đây chúng tôi chỉ nó đến các dân tộc sống cư trú tập trung thành bản làng Dân tộc Kinh

và các dân tộc đến Tuyên Quang do quan hệ hôn nhân dân số ít không trình bày trong báo cáo này

2 Cục Thống kê Tuyên Quang, Kết quả chủ yếu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 tỉnh

Tuyên Quang, Nxb Thống kê, 2009.

Trang 6

- Nhóm Tạng - Miến có 6 dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Cống, Lô Lô và Si

La Ở Tuyên Quang chỉ có 2 dân tộc: Hà Nhì, Lô Lô do quan hệ hôn nhân, dân

1 Cục Thống kê Tuyên Quang, Kết quả chủ yếu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 tỉnh

Tuyên Quang, Nxb Thống kê, 2009.

Trang 7

số rất ít, hai dân tộc này di cư từ nam Trung Quốc sang Việt Nam cách đâykhoảng 300 năm.

- Nhóm Hán có 3 dân tộc Hoa, Sán Dìu và Ngái Dân tộc Hoa di cư vào ViệtNam từ thời Bắc thuộc nhưng chủ yếu từ thế kỷ XVII - XVIII Dân tộc Sán Dìu,Ngái di cư vào miền núi Đông Bắc khoảng hơn 3 thế kỷ

Bảng 3: Dân số, dân tộc Hoa, Sán Dìu 1

2.1.1.Canh tác lúa nước

Tày, Nùng, Sán Chay là những cư dân có kỹ thuật canh tác lúa nước khácao Theo quan niệm của các dân tộc này thì ruộng nước là nhưng khoảnh đất cómặt bằng, xung quanh đắp bờ giữ nước, thâm canh sử dụng từ năm này qua nămkhác và đều gọi chung bằng từ nà (ruộng)

Trong canh tác lúa nước thủy lợi giữ vị trí đặc biệt quan trọng Nước là yếu

tố hàng đầu Nguồn nước chính thường là nước mưa và nước của các sông, suốichảy xuôi giữa lòng thung lũng, các khe mạch chảy thường xuyên hay định kỳ.Muốn sử dụng nguồn nước, người ta phải tìm cách giữ nước và tiêu nước, trên

1 Cục Thống kê Tuyên Quang, Kết quả chủ yếu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 tỉnh

Tuyên Quang, Nxb Thống kê, 2009.

Trang 8

cơ sở địa hình của từng vùng cảnh quan mà hình thành nên các hệ thống thủy lợi

khác nhau Hệ thống thủy lợi theo hai dạng cơ bản: phai và mương Phai là các

con đập chắn ngang dòng nước được làm từ những nguyên liệu sắn có như đất,

đá, gỗ, tre Người ta thương chọn chỗ thuận tiện nhất để đắp phai, tạo thànhnhững “bức tường” có ác dụng ngăn dòng chảy làm nước suối dâng cao hơnmức bình thường từ 1 m đến 3 m, nước dâng lên được dẫn về từng cánh đồngtheo hệ thống mương

Mương: là những đường dẫn nước vào ruộng, nó có thể chạy men theo sườn

đồi, sườn núi hoặc dọc các khu đồng, vừa cung cấp nước phục vụ cho trồng trọtvừa tiêu nước khi có mưa lũ Mương có thể đào chìm hoặc đắp nổi Nguồn nước

từ mương thường lấy từ phai.

Ngày nay bên cạnh việc duy trì các biện pháp thuỷ lợi truyền thống, nhờ sựgiúp đỡ về vốn, vật tư và kỹ thuật của Nhà nước, nhiều phai đập, kè, cống đãđược xây dựng Việc kết hợp giữa hai hình thức: xây dựng công trình thuỷ lợimới và thuỷ lợi truyền thống theo kiểu mương, phai là hướng giải quyết hợp lýnhằm tận dụng các nguồn nước trong việc khai thác các tiềm năng của đất Cùng với thuỷ lợi, các dân tộc vùng thung lũng chân núi đã xây dựng mộttập quán canh tác nông nghiệp khá ổn định và thành thạo phù hợp với từng loạiruộng: ruộng lầy thụt và ruộng bậc thang, đúc kết thành những kinh nghiệmtrong sản xuất Nhìn chung làm ruộng nước với những khâu kỹ thuật liên hoàngồm bốn công đoạn kế tiếp nhau: làm đất, gieo trồng, chăm bón và thu hoạch về

kỹ thuật vẫn tuân thủ theo phương pháp cổ truyền, bên cạnh đó một số tiến bộkhoa học kỹ thuật nông nghiệp cũng đã được các dân tộc áp dụng như: thuốc trừsâu, bón phân hoá học

2.1.2 Canh tác nương rẫy

Trong hoạt động trồng trọt, những cư dân vùng cao, vùng rẻo giữa chủ yếusinh sống bằng nương rẫy

Đồng bào có nhiều cách phân loại nương rẫy:

Trang 9

Căn cứ vào thời gian canh tác: có nương định canh Nương định canh

thường ở gần nhà; đất tương đối bằng phẳng, nhiều màu, dễ có điều kiện chămsóc cây trồng và sử dụng trong nhiều năm, có thể coi loại này chính là hình thứcnương-vườn

Căn cứ vào giống cây trồng: Nương trồng cây lương thực, thực phẩm và

nương trồng cây công nghiệp Loại nương trồng cây công nghiệp gồm nươngbông, nương chàm, nương lanh v.v… Nương trồng cây lương thực gồm: nươnglúa, nương ngô…

Căn cứ vào địa hình, còn có nương bằng, nương dốc, nương hốc đá… Tuỳ

theo từng địa hình của nương mà mỗi tộc người có những ứng xử khác nhau

Để tận dụng hợp lý độ phì của đất hầu hết các tộc người làm nương rẫy đều

có cách thức luân canh Với một đám nương mới thường hai năm đầu trồng lúa,

năm thứ ba thứ tư trông ngô, sắn

Nhìn chung cây trồng chính trên nương là lúa, ngô, song nhằm tận dụng triệt

để nguồn đất và để có sản phẩm phong phú đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống

nên trên từng đám nương đồng bào cón có tập quán trồng xen

Việc trồng xen các loại cây trồng khác nhau trên một mảnh nương như vậy

về mặt kinh tế đảm bảo cho mùa màng không bị thất thu vì tổng sản lượng thuđược trên một diện tích nhất định cao hơn hẳn so với trồng đơn nhất một loạicây nào đó; nhưng mặt khác có ý nghĩa quan trọng hơn đó là sự tích luỹ vốn trithức của con người nhằm duy trì sự bền vững của nền nông nghiệp

Điểm qua vài nét về một công đoạn trong sản xuất nông nghiệp nương rẫycho thấy, làm kinh tế nương rẫy người dân chủ yếu dùng kỹ thuật thô sơ, hoàntoàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Sự tác động của con ngưòi đến cây trồngthông qua các khâu phát, đốt, chăm sóc (làm cỏ) nên việc thu hoạch mùa màngthưòng không ổn định

2.1.3 Chăn nuôi

Chăn nuôi ở các tộc thiểu số Tuyên Quang khá phát triển nhưng không phải

là ngành chính, nó chỉ là nghề phụ của những gia đình nông dân Mỗi nhà nuôi

Trang 10

vài con trâu, bò.v.v và một số gà vịt theo phương pháp truyền thống của dântộc mình Những con vật nuôi này nhằm phục vụ trồng trọt, làm phương tiện vậnchuyển, là lễ vật cho ma chay cưới xin, ngày lễ trong năm Ngoài ra còn đượcmang ra chợ bán lấy tiền mua sắm đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày.

- Nguồn nguyên liệu dồi dào đủ cung cấp cho các nghề thủ công ở đồng bằng

và sản xuất tại địa phương như gỗ, tre, nứa, lá mây Trong đó đặc biệt phong phú

là các nguyên liệu thực vật tạo điều kiện cho phát triển các nghề đan lát Điềukiện địa hình ở Tuyên Quang khá đa dạng, vừa có nguyên liệu của rừng nhiệtđới, cận nhiệt đới và thậm chí cả ôn đới nữa Chính sự đa dạng của tự nhiên vànguồn nguyên liệu đã quyết định một phần tính đa dạng của các ngành nghể tiểuthủ công nghiệp

Nhìn chung, qui mô sản xuất của các ngành nghề thủ công của các dân tộcthiểu số chưa đạt đến trình độ chuyên môn hóa

Nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp chỉ là đáp ứng chosản xuất và sinh hoạt đời sống hằng ngày nhằm đảm bảo tự cấp, tự túc trongphạm vi gia đình, làng bản và địa phương

Hoạt động của ngành nghề thủ công nghiệp chỉ đóng vai trò phụ và phụthuộc vào kinh tế nông nghiệp Vì vậy thời gian cho nghề thủ công là những lúcnông nhàn, sau mùa gặt hái, hoặc nếu làm thường xuyên như nghề dệt thì cũngtranh thủ lúc rỗi rãi trong ngày

Chưa xuất hiện đội ngũ những người thợ thủ công lành nghề Những sảnphẩm thủ công đều do những người có năng lực (nhiều khi là sự cần cù chịu khócũng có khi đòi hỏi một bàn tay kheo léo có kỹ thuật) làm ra

Sự phân công lao động chủ yếu tự nhiên theo giới, độ tuổi trong phạm vi gia đình

Trang 11

- Cơ sở vật chất và kỹ thuật sản xuất còn thấp, thô sơ và nghèo nàn.

2.1.5 Săn bắt và khai thác các sản phẩm tự nhiên

Để phục vụ cho ăn và ở, các dân tộc ở miền núi miền Bắc còn triệt để khaithác các nguồn lợi của môi trường xung quanh mà thiên nhiên “hào phóng” đãban tặng cho

Săn bắn

Săn bắn thú rừng chỉ diễn ra vào những năm 1960 trở về trước lúc đó rừngcòn rất nhiều Việc săn bắn ngày nay nhiều khi chỉ còn là hoạt động có ý nghĩatập quán Có nhiều kiểu săn như: Bằng súng, bằng lưới, bằng bẫy

Săn bắn được tiến hành dưới hai hình thức săn cá nhân và săn tập thể Đếnnay những loại thú lớn như hổ, gấu, hươu, nai,…hầu như đã vắng bóng, vì thếhình thức săn tập thể không còn duy trì như xưa nữa Săn cá nhân thường kếthợp với bảo vệ nương rẫy, đối tượng săn là gà rừng, chồn, cáo…

2.1.6.Thu hái lâm thổ sản

Hái lượm rau rừng

Nhìn chung các tộc người ở Tuyên Quang có rất nhiều kinh nghiệm háilượm Họ nắm vững chu kỳ sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trongrừng nên hiểu rõ thời vụ hái của từng loài Hái lượm có thể tiến hành bất cứ lúcnào, đi nương, đi chơi hoặc đi săn bắn đánh cá…Tùy theo điều kiện và sức khỏecủa từng lứa tuổi mà làm những phần việc khác nhau; hái rau rừng thường dophụ nữ, trẻ em, người già, đào củ mài, lấy cây có bột phần lớn do nam giới

Khai thác lâm sản

- Khai thác gỗ, để sử dụng và để bán Gỗ sử dụng bao gồm gỗ làm nhà vàlàm các loại công cụ lao động (cối giã gạo, cày, bừa, khung dệt thuyền,…), xưakia rừng còn nhiều, khai thác gỗ, tre, nứa ở ngay các núi cạnh bản Gỗ được khaithác vào mùa khô Hiện nay rừng ngày càng bị đẩy lùi xa nhà do khai thác bừabãi nên gỗ, tre trở nên khan hiếm Nhiều nơi, nhiều dân tộc có tập quán ở nhàsàn nay đang phải làm nhà đất để ở

Trang 12

Ngoài khai thác gỗ, tre, đồng bào còn khai thác song, mây và những lâm sản khác.

2.1.7.Kinh tế truyền thống ảnh hưởng của nó đến đời sống nhân dân các dân tộc

- Bức tranh chung về kinh tế truyền thống của các tộc người ở Tuyên Quang

đã được chúng tôi phác họa tương đối đầy đủ Với một cơ cấu kinh tế bao cấpgồm: Trồng trọt + chăn nuôi + tiểu thủ công nghiệp + khai thác nguồn lợi tựnhiên Đặc điểm của cơ cấu kinh tế đó cho thấy bản chất tự cung, tự cấp vẫn cònđậm nét

- Trong vận hành kinh tế, phân công lao động vẫn tuân thủ theo các nguyêntắc truyền thống phân công theo lao động tự nhiên theo giới tính và theo lứatuổi

Trong canh tác nông nghiệp cũng như khai thác nguồn lợi tự nhiên, dấu ấncủa sự phân công lao động theo giới tính vẫn còn đậm nét

Sự phân công lao động theo giới và lứa tuổi gắn với thời gian trong ngày.Phần lớn trong mỗi gia đình sáng sớm phụ nữ lo nấu cơm, cho lơn, gà ăn, namgiới tranh thủ làm các công việc khác như kiếm cá, chẻ củi Ban ngày, người lớn

đi làm đồng, làm nương hoặc khai thác lâm thủy sản, trẻ em đi chăn trâu hoặctheo bố mẹ đỡ đần những việc nhẹ Chiều về phụ nữ nấu cơm, ăn xong nữ dệtvải, nam đi kiếm cá, đặt bẫy săn muông thú

Sự phân công ấy còn gắn liền với công việc Thông thường nam giới vàngười lớn đảm nhiệm việc nặng, nữ giới, người già, trẻ em làm việc nhẹ hơn.Như vậy chưa có sự chuyên môn hóa trong sản xuất, người đàn ông hay ngườiphụ nữ nào cũng làm những công việc lao động cùng giới, cùng lứa tuổi Về mộtphương diện nào đó, họ là những người lao động tháo vát, cần cù Nhưng xét vềmặt khác tình trạng thiếu chuyên môn hóa trong lao động dẫn đến sự lãng phísản xuất, nguyên vật liệu và không tạo điều kiện kỹ thuật cho ngành nghề pháttriển Hậu quả dẫn đến trình độ sản xuất không được nâng cao, thường trì trệ bởinhững tập quán, vì thế kinh tế chậm phát triển

2.2 Đặc điểm xã hội

Trang 13

Nhìn chung, đã có sự phân hóa về trình độ phát triển xã hội giữa các dân tộc thiểu số:Bản làng được coi là đơn vị nhỏ nhất của xã hội, bao gồm những gia đìnhthuộc những dòng họ của một hay hai, ba dân tộc cùng cư trú Mỗi bản đều có mộtranh giới rõ rệt được quy định cụ thể bằng văn bản Ngay cả ở những vùng thưa dân

cư, rừng rậm, núi cao cũng không còn tình trạng đất vô chủ

Mỗi thành viên trong một bản, một làng đều có trách nhiệm gánh vácchung các công việc công ích và có trách nhiệm đoàn kết tương trợ nhau Tất cảtrách nhiệm và quyền lợi được quy định bởi quy ước Quy ước, hương ước đótùy từng địa phương, từng dân tộc có khác nhau, thể hiện ở cung cách sinh hoạt,những phong tục tập quán, những nghi thức của từng cư dân

Mối quan hệ giữa các bản làng với nhau tùy từng vùng cũng khác nhau ítnhiều

Phần lớn, trưởng họ ở các dân tộc thiểu số có vai trò rất quan trọng Chẳng hạn,

ở người Hmông trưởng họ (hâux pâuz - cái gốc) thường là người am hiểu các quy

định, các bài cúng của dòng họ mình, hiểu biết thành thạo phong tục tập quán dântộc mình, ứng xử, lý lẽ giỏi, có tài tổ chức và có kinh nghiệm trong các hoạt độngsản xuất, có phẩm chất trung thực, biết quan tâm chăm sóc đến đời sống và bảo vệlợi ích của các thành viên trong dòng họ, đồng thời được người dòng họ khác kínhtrọng Nhờ có uy tín và sự hiểu biết nên ý kiến của trưởng họ được mọi người trongdòng họ noi theo và thực hiện

Trưởng họ có nhiệm vụ duy trì mọi sinh hoạt trong dòng họ mình như thờ cúng tổtiên Tổ chức các nghi lễ chung để cầu yên cầu phúc cho dòng họ Quyết định việc dichuyển cư… của các hộ trong dòng họ Đứng ra giải quyết những bất hòa, mâu thuẫn vềđất đai, tài sản… giữa các gia đình trong dòng họ và giữa dòng họ với các dòng họ khác.Ngày nay, trưởng họ còn là người đóng vai trò tích cực trong việc giúp đỡ các thànhviên trong dòng họ tìm hướng đi mới để phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường, giúpnâng cao đời sống của cả dòng họ và bảo vệ nguồn tài nguyên cộng đồng một cách bềnvững

2.3 Đặc điểm về văn hóa

Trang 14

Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang đều có chung một nền văn hóa mà cơtầng là văn hóa Nam Á, thể hiện trên các lĩnh vực văn hóa vật chất, văn hóa xãhội và văn hóa tinh thần Đó là văn hóa của cư dân trồng trọt lúa nước và lúa cạnvùng nhiệt đới gió mùa Tính thống nhất trong văn hóa của các dân tộc thể hiệntrên nhiều lĩnh vực, từ sản xuất, nhà cửa trang phục, đồ ăn thức uống, phương tiệnvận chuyển và đi lại đến tổ chức xã hội, phong tục tập quán Bên cạnh tính thốngnhất, vẫn tồn tại sự đa dạng của văn hóa tộc người là những yếu tố cơ bản chi phốidiện mạo văn hoá nói chung ở vùng này

Nhìn toàn bộ không gian văn hoá, sẽ thấy 3 thành tố cơ bản sau đây:

- Văn hoá thung lũng của cư dân làm ruộng lúa nước với kỹ thuật thuỷ lợiđiển hình Văn minh thung lũng là cái cầu nối giữa đồng bằng châu thổ và miềnnúi, trong đó văn hóa Tày, Nùng, Sán Chay khá nổi trội trong vùng

- Văn hoá của cư dân Hmông - Dao gắn với nông nghiệp vùng cao

Mỗi hiện tượng văn hóa tuy đều có những điểm chung nhất, nhưng cách thểhiện ở từng dân tộc, từng nơi lại rất độc đáo, thích hợp với điều kiện sinh sống, vớitrình độ văn hóa, với tính cách tâm lý riêng của mình và với cảnh quan địa lý từngđịa phương, được phản ánh trong kho tàng văn hoá dân gian, trong y phục, trangsức và hoa văn, trong luật tục, trong kiến trúc nhà ở, trong cách ứng xử giữa conngười với con người, giữa con người với cộng đồng, giữa con người với môitrường thiên nhiên

3 Các chủ trương của Đảng, Chính sách của Nhà Nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, nhiều dân tộc Hiện có 54 dân tộc anh

em, trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn 80% dân cư cả nước, các dân tộc thiểu sốsống chủ yếu ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa Trải qua mấy ngàn nămlịch sử, nhất là từ khi có sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết của dân tộcđược củng cố ngày càng vững chắc hơn, 54 dân tộc anh em gắn bó mật thiết vớinhau, cùng tạo điều kiện và thúc đẩy nhau phát triển, đồng bào các dân tộc nước

ta thực sự bình đẳng về mọi mặt Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Trang 15

thể hiện rõ tinh thần quán triệt lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,đáp ứng được cả tính đặc thù của từng tộc người lẫn tính chỉnh thể của một quốcgia dân tộc, đáp ứng kịp thời từng nhiệm vụ, yêu cầu cách mạng trong mỗi giaiđoạn lịch sử, song cũng đảm bảo được tính nhất quát trong suốt quá trình đi lênchủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, thực hiện chínhsách dân tộc Tại Đại hội lần thứ VII (1991), Đảng ta khẳng định quan điểm

“thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi

điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bómật thiết với sự phát triển chung của cộng động các dân tộc Việt Nam Tôntrọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của cácdân tộc Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kì thị và chia rẽ dântộc Các chính sách kinh tế xã hội phải phù hợp với đặc điểm của các vùng vàcác dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”1 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng quy định: “Nhà nước thực hiện chính sáchbình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳthị, chia rẽ dân tộc

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt

Nam (1996) nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện

"bình đẳng, đoàn kết, tương trợ" giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới,công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam

tiếp tục nêu rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí

chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách các dân tộc

bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất vàtinh thần, xoá đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huybản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; thực hiện công bằng xã

1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", ngày 27-6-1991, http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/ Xem thêm: Quan điểm, chính sách dân tộc và tôn giáo Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994, tr 8-10.

Trang 16

hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặpnhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến Tích cựcthực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số.Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và

ở địa phương Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộchẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc.”

Như thế, vấn đề chính sách dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cáchmạng, phát triển chung của đất nước; chính sách dân tộc nhất quán của Đảng vàNhà nước ta đặc biệt chú ý đến bản sắc tộc người, đến tính đặc thù của các vùngdân tộc thiểu số, đảm bảo phát huy sức mạnh của cả dân tộc Đó là những địnhhướng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với tình hình đất nước ta, góp phần làm thấtbại âm mưu chia rẽ khối đoạn kết dân tộc của các thế lực thù địch

3.1 Những nguyên tắc của chính sách dân tộc

Chính sách dân tộc của nước ta do Quốc hội quyết định Hiến pháp năm

1992 khẳng định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền “quyết định chính sách dântộc của Nhà nước… Quốc hội bầu Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủtịch và các ủy viên Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hộinhững vấn đề về dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dântộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng cóđồng bào dân tộc thiểu số Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dântộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc”

Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tađược nêu trong Hiến pháp, các văn bản luật và nhiều văn kiện, chỉ thị, quyếtđịnh, nghị định, thông tư… Có thể khái quát nguyên tắc của chính sách dân tộcthành mấy điểm cơ bản sau: các dân tộc ở Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi

và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau, cùng tương trợ và phát huy những khả năng

to lớn của nhau để cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng nước Việt Nam dânchủ, giàu mạnh, công bằng, văn minh; đề ra các biện pháp giúp các dân tộc thiểu

số, chậm phát triển tiến kịp với trình độ chung của đất nước; rút ngắn khoảngcách chênh lệch phát triển giữa các tộc người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi

Trang 17

Chính sách dân tộc của Việt Nam vừa coi trọng sắc thái, lợi ích riêng của cộngđồng các dân tộc, vừa tập trung phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dântộc: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triểncủa cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Sự tăng cường tính cộng đồng, tínhthống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bảnsắc của mỗi dân tộc” Trong các nguyên tắc đã nêu, nguyên tắc đại đoàn kết vàbình đẳng dân tộc có ý nghĩa quan trọng nhất, đó cũng là một vấn đề chiến lược,cấp bách trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

3.2 Nội dung cơ bản của chính sách dân tộc

Chính sách dân tộc của Việt Nam từ 1986 đến nay thể hiện rõ sự kế thừa vànhất quán với các chủ trương chính sách dân tộc đã ban hành, quy định trước đó,đồng thời cũng cho thấy sự đổi mới căn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước

ta trong hoạch định các giải pháp thực hiện

3.2.1.Về kinh tế - xã hội

Nhờ đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp được các dântộc trong nước thành một khối thống nhất Đảng ta thường xuyên quan tâm pháttriển kinh tế- xã hội miền núi, hỗ trợ mọi mặt nhằm cải thiện đời sống của đồngbào các dân tộc Ngày 25 - 3 -1986 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định

số 72 - CT, quy định chế độ trợ cấp tiền thuốc và tiền ăn cho người bệnh tại các

cơ sở y tế của Nhà nước Sau đó, ngày 15 -7- 1986, liên bộ Y tế- Tài chính banhành Thông tư số 13- TT/LB nhằm thi hành quyết định trên Theo nội dungThông tư này thì đồng bào dân tộc vùng cao miền núi, những người đi khaihoang xây dựng vùng kinh tế mới trong ba năm đầu được chi tiền cấp phátthuốc, miễn một số dịch vụ khám chữa bệnh, được hỗ trợ tiền ăn theo Quyếtđịnh số 156 - CP ngày 7 -10 -1968 của Hội đồng chính phủ1

Ngày 29-12-1987, Quốc hội khóa VIII ban hành Nghị quyết về kế hoạchphát triển kinh tế xã hội 5 năm 1986 -1990 và năm 1988, giao trách nhiệm cho

1 Các văn bản pháp luật được trích dẫn ở đây (ban hành trong thời gian 1986 - 2009) chủ yếu từ các website: http://dangcongsan.vn;http://www.chinhphu.vn;ttp://vietlaw.gov.vn;http://cema.gov.vn;http://www.ubvk.hochimi

nhcity.gov.vn… và từ cuốn Hệ thống các văn bản chính sách dân tộc và miền núi, tập III, về kinh tế - xã hội,

Nxb Nông nghiệp, H,2000;

Trang 18

Hội đồng Bộ trưởng nghiên cứu và xử lý những vấn đề do Uỷ ban kinh tế, kếhoạch và ngân sách, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban thường trực khác của Quốchội đã nêu ra và những ý kiến, kiến nghị của các đại biểu Quốc hội nhằm bổsung các biện pháp, chính sách nhằm thực hiện bằng được mục tiêu ổn định mộtbước tình hình kinh tế - xã hội, giảm bớt khó khăn cho đời sống những ngườilao động, nhất là cán bộ, công nhân viên chức và lực lượng vũ trang

Để xác định những chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hộimiền núi theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và các nghị quyếtTrung ương tiếp theo, đồng thời thể hiện nét sự đổi mới trong hoạch định chínhsách, ngày 27 tháng 11 năm 1989, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miềnnúi Những chủ trương, chính sách thể hiện trong Nghị quyết 22 bao gồm: xâydựng cơ cấu kinh tế miền núi theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa, liên kếtchặt chẽ với các tỉnh đồng bằng, ra sức phát huy thế mạnh của từng vùng; thựchiện tốt chính sách kinh tế nhiều thành phần, điều chỉnh quan hệ sản xuất và đổimới quản lí, giải phóng triệt để năng lực sản xuất ở miền núi; điều chỉnh chínhsách thuế nông nghiệp, thuế tiểu, thủ công nghiệp, thuế lưu thông hàng hóa,nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa ở miền núi, chuyển từ phươngthức trợ giá bán vật tư sản xuất sang trợ giá mua sản phẩm hàng hóa; khuyếnkhích việc hình thành các trung tâm công nghiệp - thương mại - dịch vụ tại cácthị trấn, thị tứ, các trục giao thông ở miền núi; trợ cấp điều trị tại các bệnh việntrực tiếp cho những cán bộ và nhân dân sinh sống ở vùng cao, vùng thượng,vùng căn cứ cách mạng đang có nhiều khó khăn; tranh thủ và dành phần thíchđáng viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế để đầu tư phát triển y tế, giáodục và cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao, biên giới, vùng sâu,vùng căn cứ; ưu đãi trong việc cung ứng một số mặt hàng thiết yếu đối với đờisống của nhân dân các dân tộc như muối ăn, dầu thắp sáng, thuốc chữa bệnh,giấy học sinh, dịch vụ văn hóa, văn nghệ; tăng thêm vốn đầu tư cho việc xâydựng các trường, lớp, đào tạo giáo viên phổ thông, bảo đảm đủ giáo viên và chỗhọc cho con em các dân tộc, giải quyết tốt nhu cầu của một số dân tộc về học

Trang 19

chữ dân tộc mình xen kẽ với học chữ phổ thông… Đây là Nghị quyết thể hiện

rõ quan điểm của Đảng về chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới

Ngày 13- 01-1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 72 – HĐBTquy định một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi Ngày 15-9-1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 327-

CT Quyết định 327 thực hiện chủ trương: “trong 10 - 15 năm tới, cơ bản phủxanh đồi núi trọc, bảo vệ được rừng, và môi trường sinh thái, sử dụng tiềm năngđất trống ở miền núi trung du, bãi bồi ven biển và mặt nước nhằm tăng thêm sảnphẩm hàng hoá và nguyên liệu cho công nghiệp; hoàn thành cơ bản công tácđịnh canh, định cư, gắn kinh tế với xã hội, từng bước ổn định cải thiện và nângcao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào vùng kinh tế mới, đồng bào cácdân tộc, góp phần tích luỹ cho Nhà nước và củng cố quốc phòng, an ninh” Nghị định số 14- CP ngày 2-3-1993 của Chính phủ thể hiện chính sách cho

hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông-lâm-ngư- diêm nghiệp và kinh tế nôngthôn “chú trọng cho vay đối với hộ nghèo, các hộ ở vùng núi cao, hải đảo, vùng

xa, vùng sâu, vùng kinh tế mới, vùng đồng bào dân tộc Khơ me tập trung”,

“được giảm 15% mức lãi suất bình thường cùng loại vay”

Quyết định số 661, ngày 29 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ xácđịnh mục tiêu của dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là nhằm đảo bảo an ninh môitrường, giảm nhẹ thiên tai; tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, gópphần xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ởnông thôn miền núi; ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ởvùng biên giới

Ngày 3 tháng 2 năm 1999, liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ

Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài chính ra Thông tư liên tịch số 28 hướng dẫn thựchiện bổ sung một số chính sách ngoài những quy định trong Quyết định661/QĐ-TTg

Quyết định số 60 - TTG, ngày 8-2-1994 của Chính phủ quy định một số chủtrương và biện pháp điều hành kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 1994 Cụ

Trang 20

thể như sau: tập trung nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước vào công tácphòng bệnh, chữa bệnh cho các đội tượng thuộc diện chính sách, người dân tộc,người quá nghèo, thực hiện các chương trình quốc gia quan trọng; ngân sáchNhà nước cũng đảm bảo kinh phí cho việc phổ cập giáo dục tiểu học, đặc biệt

ưu tiên cho các tỉnh miền núi, vùn cao, vùng sâu, các trường phổ thông dân tộcnội trú

Mở đầu cho kế hoạch 5 năm 1996 - 2000, Nhà nước tập trung cho nhiệm vụtăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao hơn năm trước, đi đôi với củng cố sự ổnđịnh về chính trị và kinh tế, xã hội, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tậndụng những cơ hội thuận lợi và những lợi thế nhằm khai thác và sử dụng tốt cácnguồn lực trong và ngoài nước; kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với việcgiải quyết những vấn đề cấp bách về phát triển văn hoá, xã hội và củng cố quốcphòng, an ninh

Bên cạnh những chủ trương - chính sách phát triển kinh tế - xã hội chung,đồng bộ của quốc gia, Đảng ta còn ban hành các chính sách thích hợp, có trọngđiểm, có ưu tiên riêng đối với từng vùng, từng tỉnh thành và một số cụm xã.Ngày 13-1-1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 35/TTg phê duyệtChương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao nhằm mục đíchtạo động lực phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc và miền núi, góp phần bảođảm an ninh quốc phòng; thúc đầy các hoạt động văn hóa xã hội trong tiểu vùng,

và giữa các bản làng, cụm xã, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng dân tộc

và miền núi Để thực hiện mục đích trên, Ủy ban Dân tộc và miền núi có tráchnhiệm lựa chọn các trung tâm cụm xã, đôn đốc, kiểm tra các địa phương thựchiện

Ngày 24 tháng 12 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

số 960/TTg Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm (1996-2000) phát triển kinh

tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc Sau Quyết định này, Thủ tướng Chínhphủ ban hành Quyết định số 712/TTg ngày 30 tháng 8 năm 1997, Phê duyệt Quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc thời kì 1996 – 2010, vớinhững định hướng nội dung chủ yếu sau: phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây

Ngày đăng: 17/01/2021, 14:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Dân số, dân tộc Hmông, Dao, Pà Thẻn1 - NGHIÊN cứu TỔNG QUAN về dân tộc THIỂU số ở TUYÊN QUANG 22
Bảng 2 Dân số, dân tộc Hmông, Dao, Pà Thẻn1 (Trang 6)
o Các dân tộc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng - NGHIÊN cứu TỔNG QUAN về dân tộc THIỂU số ở TUYÊN QUANG 22
o Các dân tộc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng (Trang 6)
Bảng 3: Dân số, dân tộc Hoa, Sán Dìu1 - NGHIÊN cứu TỔNG QUAN về dân tộc THIỂU số ở TUYÊN QUANG 22
Bảng 3 Dân số, dân tộc Hoa, Sán Dìu1 (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w