1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM

10 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 249,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu DTSQ Lang Bang mới được công nhận 2015 đã thể hiện được đầy đủ cách tiếp cận SLIQ, đặc biệt là tạo cơ sở phát triển một ngành kinh tế dựa trên bảo tồn văó các hoạt động đặc trưng n[r]

Trang 1

1

ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM

Nguyễn Hoàng Trí, President and Secretary of Vietnam Man and Biosphere Program (MAB Việt Nam)

TÓM TẮT

Báo cáo trình bày những nguyên lý cơ bản và những kết quả bước đầu trong việc áp dụng cách tiếp cận ‘Tư duy hệ thống, qui hoạch cảnh quan, điều phối liên ngành, kinh tế chất lượng’ gọi tắt

là SLIQ Cách tiếp cận này được UBQG MAB Việt Nam đưa ra và áp dụng trong việc xây dựng

và quản lý các khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) do tổ chức UNESCO công nhận tại Việt Nam Hai

ví dụ điển hình về áp dụng SLIQ đã được phân tích là khu DTSQ Cát Bà và khu DTSQ đất ngập nước ven biển châu thổ Sông Hồng (gọi tắt là khu DTSQ sông Hồng) Thực tế cho thấy việc phân vùng của khu DTSQ bao gồm vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp đã tạo điều kiện cho việc qui hoạch không gian biển và đất liền nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với phương châm của Chương trình ‘Con người và Sinh quyển’ là ‘bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn’ Những kinh nghiệm áp dụng SLIQ tại khu DTSQ Cát Bà và kinh nghiệm phát triển cơ chế đồng quản lý tại khu DTSQ sông Hồng đã được tập trung phân tích cùng với những bài học kinh nghiệm của các địa phương khác góp phần xây dựng những cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương trong sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước

Từ khóa: Khu dự trữ sinh quyển, SLIQ, Con người và sinh quyển, cơ chế đồng quản lý, phân vùng, qui hoạch.

GIỚI THIỆU

Hiện nay trên thế giới có 651 khu DTSQ thuộc 120 quốc gia Cách tiếp cận SLIQ của VIệt Nam lần đầu tiên được đưa ra bởi UBQG Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam) áp dụng trong việc thiết kế, thành lập và quản lý bền vững các khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) tại Việt Nam Cách tiếp cận SLIQ xuất phát từ thực tế sinh động, đặc biệt trong thời gian gần đây vấn đề bảo tồn thiên nhiên mặc dù đã đạt được một số thành tích song ngày càng bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa bảo tồn và phát triển, nhiều nơi càng có nhiều thành tích bảo tồn, đa dạng sinh học cao thì số hộ nghèo đói cũng còn cao, nhiều khi bảo tồn trở thành gánh nặng mà người dân không thấy được lợi ích của chúng Phương châm phát triển khu DTSQ là tạo ra sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, mỗi khu DTSQ đều có phân vùng chức năng thực hiện 3 chức năng bảo tồn, phát triển và hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục, giám sát và đào tạo với sự tham gia của các bên tham gia: các ban ngành, hiệp hội, kinh tế

tư nhân, xã hội dân sự, người dân địa phương Cách tiếp cận SLIQ cũng xuất phát từ cơ sở lý luận về tư duy hệ thống, bởi vì mỗi khu DTSQ là một hệ thống toàn cảnh với tất cả các thành phần tự nhiên và nhân văn tác động qua lại lẫn nhau, nếu chỉ giải quyết những bất cập trước mắt

Trang 2

2

thì sẽ thất bại trong điều hành toàn bộ hệ thống (John et al 1994; UNESCO 1996, 2005) Sự ra đời cách tiếp cận SLIQ vừa đáp ứng nhu cầu thực tế vừa đảm bảo tính lý luận, phương pháp luận khoa học Toàn bộ cách tiếp cận SLIQ dựa trên nguyên lý cơ bản là ‘bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn’ góp phần thực hiện Chiến lược phát triển bền vững mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương đang tiến hành (SRV, 2004) Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ (2000-2015), Việt Nam đã đóng góp vào mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển toàn cầu 8 khu DTSQ từ Bắc tới Nam trên hầu hết các hệ sinh thái đặc trưng, tiêu biểu của đất nước góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như của cả nước Việc sử dụng cách tiếp cận SLIQ đã tạo cơ sở khoa học và phương pháp luận cho quá trình hình thành và phát triển các khu DTSQ ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện cách tiếp cận này đã mang lại một số kết quả bước đầu Những bài học thành công cũng như chưa thành công cần được trao đổi, chia sẻ để đi tiếp trên con đường đầy khó khăn và thách thức trước mắt cũng như lâu dài

CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ)

Tư duy hệ thống là một cách nhìn, cách suy nghĩ tổng thể theo quan điểm hệ thống Mỗi hệ

thống bao gồm rất nhiều các thành phần và các mối tác động qua lại giữa chúng với nhau và với môi trường xunh quanh, hay còn gọi là các quá trình động thái Bản thân mỗi khu DTSQ là một

hệ thống với nhiều thành phần, nhiều mối quan hệ của các quá trình vận động của tự nhiên và con người Đây là cơ sở để hiểu và thực hiện qui hoạch cảnh quan, điều phối liên ngành và kinh

tế chất lượng trong khu DTSQ

Hình 1: SLIQ như một ngôi nhà mà nền móng là tư duy hệ thống (S), các trụ cột chính là qui hoạch cảnh quan(L) và điều phối liên ngành (I) duy trì nóc nhà là nền kinh tế chất lượng (Q) cơ

sở cho phát triển bền vững

Qui hoạch cảnh quan được thực hiện dựa trên các nguyên lý cơ bản của sinh thái học cảnh quan

và sinh thái học hệ thống với sự phân vùng, quản lý sử dụng đất, nước và các nguồn tài nguyên khác một cách hợp lý trong một địa phương cụ thể Thực chất của qui hoạch cảnh quan chính là phân vùng không gian quản lý sử dụng đất trên đất liền và quản lý sử dụng biển ở các khu DTSQ ven biển, biển và hải đảo Quá trình qui hoạch phải dựa trên những điều kiện cụ thể về địa chất, địa mạo, đất đai, thổ nhưỡng, các yếu tố sinh học, và các yếu tố nhân văn, truyền thống sử dụng,

TƯ DUY HỆ THỐNG (S)

KINH TẾ CHẤT LLƯỢNG

(Q)

Trang 3

3

tri thức bản địa và văn hóa sinh học Sự tham gia của người dân địa phương trong công tác qui hoạch là điều kiện sống còn để đảm bảo tính khả thi cho một bản qui hoạch cụ thể Qui hoạch cảnh quan thông qua cấu trúc 03 vùng bắt buộc (lõi, đệm, chuyển tiếp) là đặc trưng riêng của các Khu DTSQ do UNESCO công nhận

Điều phối liên ngành là sự thể hiện thực tiễn của sự kết nối các bên tham gia trong công tác

quản lý dựa trên các hệ thống chính sách hiện có Đó là cách tiếp cận hài hòa giữa chính sách từ trên xuống mang tính chỉ đạo, định hướng và sự tham gia của người dân địa phương từ dưới lên với những bất cập, bức xúc và truyền thống lâu đời của người dân Vai trò của các tổ chức dân

sự, phi chính phủ cực kỳ quan trọng trong quá trình này Đây chính là cầu nối giữa các bên tham gia, giữa chính phủ và người dân

Kinh tế chất lượng là sự tạo ra một nền kinh tế dựa trên bảo tồn (conservation-based economy),

phù hợp với xu thế kinh tế xanh và nền kinh tế cácbon thấp (Low-carbon economy), tăng trưởng xanh đương đại, với các hoạt động đăng ký nhãn hiệu, tiếp thị và thúc đẩy sản phẩm chất lượng của địa phương dựa trên sự nổi tiếng về bảo tồn, những giá trị toàn cầu mà công tác bảo tồn

mang lại Đây chính là cơ sở nâng cao giá trị hàng hóa với các giá trị gia tăng trong chuỗi và tạo tiền đề sáng tạo những chuỗi hàng hóa mới mang hàm lượng trí tuệ cao hơn

Áp dụng tiếp cận SLIQ trong quá trình thực hiện các chức năng của khu DTSQ

Trong quản lý bền vững khu DTSQ, việc xây dựng các kế hoạch hành động cho từng đối tác, từng địa điểm, từng thời gian, giai đoạn cụ thể hết sức quan trọng để thực hiện thành công các nhiệm vụ, chức năng của khu DTSQ Tiếp cận SLIQ như một công cụ hữu hiệu để định hướng các hành động cụ thể theo 3 chức năng của khu DTSQ Các định hướng cụ thể được trình bày chi tiết trong bảng 2 dưới đây:

Bảng 2 : Nội dung SLIQ được thể hiện trong các vùng chức năng của khu DTSQ

Nội dung

SLIQ

Tư duy hệ

thống

Hạn chế mức tối đa hoạt

động của con người

Hỗ trợ vùng lõi bằng cách tạo ra các khu nông lâm kết hợp, trồng cây bản địa để tạo hành lang sinh học kết nối cảnh quan và dòng chảy sinh học

Duy trì các hoạt động kinh tế-xã hội thân thiện với môi trường

Qui hoạch

cảnh quan

Tôn trọng phân vùng tự

nhiên, duy trì rừng tái

Trồng cây bản địa, khoanh nuôi rừng tự nhiên,

nông-Qui hoạch khu sản xuất, khu dân cư, hạ tầng cơ sở dựa

Trang 4

4

sinh tự nhiên, không làm

biến dạng, thay đổi cảnh

quan

lâm kết hợp, sử dụng đất theo truyền thống, tôn trọng tri thức bản địa trong

sử dụng đất

trên cảnh quan tự nhiên

Điều phối,

hợp tác

liên ngành

Người dân bản địa có thể

được chọn lọc tham gia

lực lượng kiểm lâm, bảo

vệ rừng, phục hồi các

loài bản địa, đặc hữu

Triển khai NĐ 99 ‘chi trả dịch vụ rừng’, cho thuê rừng, NQ15 ’Hợp tác công tư’ với sự tham gia của các doanh nghiệp, các hiệp hội,

xã hội dân sự và tư nhân

Triển khai NQ15 ’Hợp tác công tư’ với sự tham gia của các doanh nghiệp, các hiệp hội, xã hội dân sự và tư nhân

Kinh tế

chất lượng

Triển khai NĐ99 ‘chi trả

dịch vụ rừng’, ‘Bồi hoàn

ĐDSH’ và ‘Thị trường

Cácbon’

Phát triển và đăng ký thương hiệu cho sản phẩm địa phương cùng với phát triển các hình thức du lịch các loại

Phát triển và đăng ký thương hiệu cho sản phẩm địa phương cùng với phát triển các hình thức du lịch các loại

KINH NGHIỆM ÁP DỤNG SLIQ TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM

Trong hầu hết các khu DTSQ của Việt Nam, cách tiếp cận SLIQ đã được áp dụng trong quá trình thiết kế, xây dựng và quản lý Khác với cách làm hiện thời, các hoạt động quản lý đều được giao cho các bộ, ban ngành chỉ đạo theo chiều dọc từ trên xuống dưới, các hoạt động phân ra theo địa giới hành chính, các hệ thống tự nhiên và nhân văn đều bị chia cắt, phân khúc mỗi ngành một lĩnh vực, mỗi địa phương một khoảnh, tính toàn vẹn tổng thể hệ sinh thái bị phân mảnh, tạo ra nhiều ranh giới trong không gian tự nhiên và nhân văn Hậu quả là vừa tạo ra sự chồng chéo

trong một lĩnh vực này thì lại thiếu hụt trong lĩnh vực khác, nhiều vấn đề cần sự nỗ lực của nhiều ban ngành, nhiều lực lượng xã hội, sự tham gia của người dân thì chỉ được thực hiện một cách hình thức

Số liệu trong bảng 1 dưới đây thể hiện bức tranh hiện trạng áp dụng SLIQ trong các khu DTSQ của Việt Nam Mặc dù việc áp dụng đã đạt được một số kết quả bước đầu, rất còn nhiều khó

khăn, thách thức trước mắt cũng như lâu dài Đặc biệt là sự thay đổi về mặt tư duy, cách tiến hành trên thực địa Kết quả đánh giá cũng cho thấy Cần Giờ là khu DTSQ đầu tiên những cũng

là nơi chưa thể hiện rõ tính liên ngành, đa lĩnh vực trong cả vấn đề về bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện Có thể thấy mức độ áp dụng tiếp cận SLIQ tăng dần theo thời gian, việc kết nối 3

vùng lõi VQG Pù Mát, khu BTTN Pù Hướng và Pù Hoạt thể hiện mức độ cao về tính kết nối hệ sinh thái bằng chính các vùng đệm là các mô hình nông lâm kết hợp và khôi phục các loài cây

Trang 5

5

bản địa Chính các vùng đệm này tạo diệu kiện cho sự phát tán, lan tỏa các loài thực vật và sâu

bọ, sau đó là lưỡng cư, bò sát và các loài động vật ở các bậc dinh dưỡng cao hơn Đa dạng sinh học được phục hồi và nâng cao chính là nhờ các chuỗi và lưới thức ăn được khôi phục Tính kết nối cũng được thể hiện khá cao khu DTSQ Kiên Giang với sự đa dạng các hệ sinh thái kể cả đất liền, biển đảo và ven biển nhờ có diện tích lớn nhất trong mạng lưới các khu DTSQ của Việt Nam Sự kết nối không chỉ thể hiện trong các quá trình tẹ nhiên mà còn thể hiện giữa thiên nhiên

và văn hóa như ở khu DTSQ Cù Lao Chàm, sự kết nối giữa khu bảo tồn biển Cù Lao CHàm với

di dản văn hóa phố cổ Hội An đã tạo nên một thế liên hoàn giữa các vùng cửa sông, ven biển với vùng hải đảo duy trì một phức hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái Việc kết nối thiên nhiên với văn hóa còn tạo ra cơ hội phát triển du lịch với các loại hình phong phú, đa dạng

Bảng 1: Hiện trạng áp dụng tiếp cận SLIQ của các khu DTSQ của Việt Nam

khu dự trữ sinh

quyển và năm được

UNESCO công

nhận

tư duy hệ thống kế hoạch hóa

cảnh quan

điếu phối, hợp tác liên ngành

kinh tế chất lượng

CẦN GIỜ

(năm 2000)

Sở NN&PTNT, Huyện Cần Giờ

1 vùng lõi Đơn ngành,

hành chính

Du lịch, dịch vụ, nuôi yến, tôm sinh thái, giáo dục vì PTBV (ESD) ĐỒNG NAI

(năm 2001& 2010)

UBND Tỉnh 3 vùng lõi kết

nối

Liên ngành, đa lĩnh vực

Du lịch, dịch vụ, SP phi

gỗ, lịch sử CÁT BÀ

(năm 2004)

UBND Thành Phố

2 vùng lõi kết nối

Liên ngành, đa lĩnh vực

Du lịch, dịch vụ, nhãn hiệu SP, bảo vệ Voọc = người địa phương, giáo dục vì PTBV

SÔNG HỒNG

(năm 2004)

UBND Tỉnh NĐ,

TB, NB

2 vùng lõi kết nối

Liên ngành, đa lĩnh vực

Du lịch, dịch vụ, nhãn hiệu SP, giáo dục ESD KIÊN GIANG

(năm 2005)

UBND Tỉnh 3 vùng lõi Liên ngành, đa

lĩnh vực

Du lịch, dịch vụ, nhãn hiệu SP, trồng rừng NM, giáo dục ESD

TÂY NGHỆ AN

(năm 2006)

UBND Tỉnh 3 vùng lõi kết

nối

Đơn ngành, hành chính

Du lịch, giáo dục ESD

CÙ LAO

CHÀM-HỘI AN

(năm 2009)

UBND Thành Phố

1 vùng lõi Liên ngành, đa

lĩnh vực

Du lịch, dịch vụ, gây trồng san hô, rừng NM

CÀ MAU

(năm 2009)

UBND Tỉnh 3 vùng lõi kết

nối

Hành chính Du lịch, dịch vụ, trồng

rừng NM, dịch vụ RNM

Trang 6

6

LANG BIANG

(năm 2015)

UBND Tỉnh 1 vùng lõi Liên ngành, đa

lĩnh vực

Du lịch, dịch vụ, chi trả DVR, thuê rừng, Kiểm lâm=người địa phương Nguồn: Số liệu khảo sát 2013-2014 (MAB VN, 2014)

Khu DTSQ Lang Bang mới được công nhận 2015 đã thể hiện được đầy đủ cách tiếp cận SLIQ, đặc biệt là tạo cơ sở phát triển một ngành kinh tế dựa trên bảo tồn văó các hoạt động đặc trưng như du lịch sinh thái, chi trả dịch vụ môi trường rừng, cho thuế rừng, phát triển thương hiệu, kết nối giữa đa dnagj cảnh quan đa dạng sinh học với không gian văn hóa và khôi phục các loài cây bản địa Đây thực sự là mô hình ‘bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn’ Công tác bảo tồn càng hiệu quả thì nền kinh tế dựa vào bảo tồn càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn

Sự áp dụng SLIQ như một công cụ thay đổi tư duy, đầu tiên là tạo ra được bộ máy quản lý, điều hành thực tế giải quyết những vấn đề bức xúc trên Việc lựa chọn cấp tỉnh điều phối tất cả các hoạt động của khu DTSQ, trưởng ban quản lý khu DTSQ là đồng chí phó chủ tịch tỉnh hoặc thành phố đã tạo điều kiện cho việc áp dụng thành công SLIQ trong phân vùng chức năng, điều phối các chính sách hiện hành, phát triển kinh tế chất lượng, qui hoạch cảnh quan trong qui hoạch tổng thể kinh tế xã hội của địa phương, duy trì và tạo điều kiện cho nhiều bên tham gia, các tổ chức xã hội dân sự, tổ chức phi chính phủ và người dân địa phương, đặc biệt là các doanh nghiệp, khu vực tư nhân

Qui hoạch cảnh quan đã được áp dụng trong phân vùng của các khu DTSQ, mỗi khu DTSQ có thể có từ 2 vùng lõi trở lên, các vùng lõi này được kết nối đảm bảo tính liên tục, liên kết

(connection) và tổng thể hệ sinh thái thông qua các vùng đệm và vùng chuyển tiếp rộng lớn Sự nối kết 2 vùng lõi ở khu DTSQ Cát Bà tạo điều kiện cho việc duy trì nơi sống, kiếm ăn, sinh sản cho loài voọc quí hiếm mang tên địa phương voọc Cát Bà Sự kết nối giữa vùng lõi là khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm với phố cổ Hội An – di sản văn hóa thế giới là sự nối kết giữa thiên nhiên và văn hóa Sự kết nối 3 vùng lõi cùng với các vùng đệm, chuyển tiếp của khu DTSQ Kiên Giang tạo nên một tổng thể hài hòa giữa các hệ sinh thái đặc trưng của vùng nhiệt đới có mặt ở Kiên Giang Sự kết nối của khu DTSQ liên tỉnh các vùng đất ngập nước ven biển Châu thổ sông Hồng tạo nên một hành lang sinh học duy trì sự kết nối sinh thái đảm báo tính hiệu quả bảo tồn các loài chim di cư tại khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam

Nền kinh tế chất lượng hay được gọi là nền kinh tế dựa trên bảo tồn đã bước đầu hình thành và phát huy tại các khu DTSQ Cát Bà với các sản phẩm mật ong, nhà hàng, khách sạn nhãn hiệu hàng hóa với biểu tượng voọc Cát Bà trên các sản phẩm địa phương đã theo chân du khách đi tới các vùng, miền trong nước và quốc tế, hình ảnh voọc Cát Bà nổi tiếng đã đi vào tâm trí người dân như một thông điệp hình ảnh Việt Nam thân thiện với môi trường, mang tính nhân văn sâu sắc Kinh tế chất lượng cũng bắt đầu thể hiện tại các khu DTSQ sông Hồng, khu DTSQ Kiên Giang, và một số khu DTSQ khác

Trang 7

7

Bài học thành công chính là sự sáng tạo của mỗi địa phương trong việc xây dựng bộ máy tổ chức quản lý, sử dụng công cụ SLIQ tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương Tuy nhiên,

do cách tư duy cũ và cách làm hiện nay, công cụ SLIQ đã gặp không ít khó khăn trong quá trình

sử dụng, nhất là đối với các khu DTSQ liên tỉnh, nhiều thành phần, ít kinh phí Nếu năng động của cán bộ là nhân tố cơ bản bảo đảm cho sự thành công thì sự trì trệ trong tư duy, ít hành động

là lực kéo gây khó khăn trong điều hành các khu DTSQ

KINH NGHIỆM ÁP DỤNG SLIQ TẠI KHU DTSQ CÁT BÀ

Các nguyên lý của quy hoạch cảnh quan được áp dụng ngay trong cơ cấu 03 vùng Lõi,Đệm và Chuyển tiếp của Khu DTSQ Cát Bà Vùng Lõi (02 vùng lõi với diện tích 8.500 ha, bao gồm cả phần biển và rừng nguyên sinh trên đảo đá vôi) là khu vực dành riêng cho bảo tồn, được bảo về nghiêm ngặt được kết nối, bao bọc và bảo vệ bởi một vùng Đệm tiếp giáp và bao quanh (diện tích 7.741 ha) để hạn chế tác động của các hoạt động phát triển từ vùng Chuyển tiếp (10.000 ha), nơi tập trung dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội

Thành lập Quĩ Sinh quyển Cát Bà và nhãn hiệu chứng nhận Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát

Bà được khởi xướng và triển khai từ năm 2007 đến nay đã được áp dụng để gia tăng sức tiếp thị cho 17 đơn vị có các sản phẩm, dịch vụ đặc sản địa phương, chất lượng cao thuộc 05 nhóm sản phẩm như mật ong, nước mắm, dịch vụ tàu thuyền du lịch, khách sạn, nhà hàng

Công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế rất được chú trọng đặc biệt trong việc ứng dụng Tư duy hệ thống cho phát triển bền vững Khu DTSQ Cát Bà được thiết lập là Phòng thí nghiệm học tập về phát triển bền vững (Learning Laboratory for Sustainable Development) đầu tiên trên thế giới

(Website Cat Ba biosphere reserve)

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN ĐỒNG QUẢN LÝ TẠI KHU DTSQ CHÂU THỔ SÔNG HỒNG

Một cơ chế Đồng quản lý đã được triển khai tại khu DTSQ sông Hồng với sự giúp đỡ về mặt tài chính và kỹ thuật từ tổ chức MCD -Tổ chức Phi chính phủ về bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng Đồng quản lý được thể hiện thông qua sự chia sẻ về trí tuệ kinh nghiệm và trách nhiệm giữa 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình với các hoạt động củng cố tổ chức, xây dựng kế hoạch quản lý và triển khai du lịch sinh thái,tạo sinh kế thay thế cho người dân địa phương Đồng quản lý cũng được thể hiện ở mức độ quản lý tài nguyên cấp cộng đồng với sự tham gia của vườn quốc gia, người bảo vệ rừng, người đánh bắt thủy sản, nuôi trồng thủy

sản Cơ chế đồng quản lý không chỉ thể hiện qua việc chia sẻ lợi ích mà cả trí tuệ, trách nhiệm bảo tồn nguồn lợi và trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau giữa các thôn, xóm, làng xã, đặc biệt trong phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Hai mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở xã Giao Xuân (Nam Định) và một xã ở huyện Tiền Hải (THái Bình) là những ví dụ sinh động về chia sẻ kinh nghiệm và phát triển đối tác trong phát triển kinh tế cho bảo tồn và bảo tồn cho phát triển kinh tế xã hội Bài học kinh nghiệm về đồng quản lý cũng được thể hiện qua sự

Trang 8

8

hợp tác hài hòa giữa các cơ quan chính quyền địa phương, ủy ban MAB quốc gia và tổ chức phi chính phủ MCD năng động và hiệu quả

(Website MCD)

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế, trách nhiệm toàn cầu về bảo tồn thiên nhiên, văn hóa và môi trường, chúng ta là nước đi sau có điều kiện học hỏi kinh nghiệm các quốc gia khác đi trước trong lĩnh vực xây dựng và quản lý các khu DTSQ, việc đề xuất và áp dụng cách tiếp cận SLIQ

đã nói lên tính sáng tạo và nỗ lực vươn lên của Việt Nam Với những kết quả bước đầu với nhiều khó khăn thách thức phía trước, đôi khi chúng ta đắn đo suy nghĩ có nên tiếp tục con đường mới đầy công gai hay quay lại con đường cũ ít vất vả, kém hiệu quả Đây chính là giai đoạn quan trọng nhất trong sự nghiệp của Chương trình ‘Con người và Sinh quyển’ và các khu DTSQ của Việt Nam Chúng ta cần rút kinh nghiệm, chia sẻ và trao đổi các bài học kinh nghiệm để tiếp tục

đi lên trong sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 John, N 1994, Knowledge, power and agriculture - towards a theoretical understanding,

Beyond Farmer First: Rural peoples knowledge, agricultural research and extension practice, Intermediate Technology Publications: P 16-32

2 Socialist Republic of Vietnam, 2004: Decision of PM on issuing the Vietnam’s Strategy

for Sustainable Development (Vietnam Agenda 21) No 153/2004/QD-TTg, on17/8/2004

3 UNESCO, 1996 The Seville Strategy and the Statutory

4 UNESCO, 2005 Promotion of a global partnership for the UN Decade of Education for

Sustainable Development (2005-2014)

5 Website Ban quản lý Khu DTSQ quần đảo Cát Bà, www.catba.org.vn

6 Website Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD),

www.mcdvietnam.org

7 Website ủy ban quốc gia MAB Việt Nam, www.mabvietnam.net

Trang 9

9

Trang 10

10

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1 Môi rường ự nhiên

2 Kinh ế ăng rưởng

3 Xã hội ổn định

Đa lĩnh vực, l ên

ngành

gia – Điều phối,

qua lại

Kế hoạch hóa cảnh quan đất

biển

Điều phối, hợp ác

THINKING

LAND/SEASCAPE PLANNING

INTER-SECTORAL COORDINATION/COOP

ERATION

QUALITY ECONOMY

Hình 1: Sơ đồ thể hiện việc sử dụng cách tiếp cận SLIQ cho mục tiêu phát triển bền vững ở cấp địa

phương và quốc gia

Ngày đăng: 17/01/2021, 13:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: SLIQ như một ngôi nhà mà nền móng là tư duy hệ thống (S), các trụ cột chính là qui hoạch cảnh quan(L) và điều phối liên ngành (I) duy trì nóc nhà là nền kinh tế chất lượng (Q) cơ  sở cho phát triển bền vững  - ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM
Hình 1 SLIQ như một ngôi nhà mà nền móng là tư duy hệ thống (S), các trụ cột chính là qui hoạch cảnh quan(L) và điều phối liên ngành (I) duy trì nóc nhà là nền kinh tế chất lượng (Q) cơ sở cho phát triển bền vững (Trang 2)
Bảng 2: Nội dung SLIQ được thể hiện trong các vùng chức năng của khu DTSQ - ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM
Bảng 2 Nội dung SLIQ được thể hiện trong các vùng chức năng của khu DTSQ (Trang 3)
Số liệu trong bảng 1 dưới đây thể hiện bức tranh hiện trạng áp dụng SLIQ trong các khu DTSQ của Việt Nam - ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM
li ệu trong bảng 1 dưới đây thể hiện bức tranh hiện trạng áp dụng SLIQ trong các khu DTSQ của Việt Nam (Trang 4)
Bảng 1: Hiện trạng áp dụng tiếp cận SLIQ của các khu DTSQ của Việt Nam khu dự trữ sinh  - ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM
Bảng 1 Hiện trạng áp dụng tiếp cận SLIQ của các khu DTSQ của Việt Nam khu dự trữ sinh (Trang 5)
Nền kinh tế chất lượng hay được gọi là nền kinh tế dựa trên bảo tồn đã bước đầu hình thành và phát huy tại các khu DTSQ Cát Bà với các sản phẩm mật ong, nhà hàng, khách sạn...nhãn hiệu  hàng hóa với biểu tượng voọc Cát Bà trên các sản phẩm địa phương đã t - ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM
n kinh tế chất lượng hay được gọi là nền kinh tế dựa trên bảo tồn đã bước đầu hình thành và phát huy tại các khu DTSQ Cát Bà với các sản phẩm mật ong, nhà hàng, khách sạn...nhãn hiệu hàng hóa với biểu tượng voọc Cát Bà trên các sản phẩm địa phương đã t (Trang 6)
Hình 1: Sơ đồ thể hiện việc sử dụng cách tiếp cận SLIQ cho mục tiêu phát triển bền vững ở cấp địa  - ÁP DỤNG CÁCH TIẾP CẬN ‘TƯ DUY HỆ THỐNG, QUI HOẠCH CẢNH QUAN, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH, KINH TẾ CHẤT LƯỢNG’ (GỌI TẮT LÀ SLIQ) TRONG THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM
Hình 1 Sơ đồ thể hiện việc sử dụng cách tiếp cận SLIQ cho mục tiêu phát triển bền vững ở cấp địa (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w