Có thể nói trong 4 kĩ năng thì kĩ năng nói chính là sản phẩm đầu ra của việc học một ngoại ngữ nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng được ngôn ngữ đó trong đời thực chứ không chỉ là một môn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO
ẠT
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
MỘT SỐ KĨ THUẬT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ DẠY NÓI CHO HỌC SINH LỚP 11-HỆ 10 NĂM (THÍ ĐIỂM)
( SPEAKING SKILLS)
Tác giả: Vũ Thanh Nga Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Ngôn Ngữ Anh Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THPT Trần Hưng Đạo
Nam Định ngày 3 tháng 4 năm 2019
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến
MỘT SỐ KĨ THUẬT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ DẠY NÓI CHO HỌC SINH LỚP 11-HỆ 10 NĂM (THÍ ĐIỂM)
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Các giờ dạy kĩ năng nói của học sinh lớp 11 theo chương trình tiếng Anh hệ 10 năm
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Năm học 2018 – 2019
4 Tác giả:
Họ và tên: VŨ THANH NGA
Năm sinh: 1986
Nơi thường trú: 124 Bắc Ninh, thành phố Nam Định
Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Ngôn Ngữ Anh
Chức vụ công tác: Giáo viên Tiếng Anh
Nơi làm việc: Trường THPT Trần Hưng Đạo
Địa chỉ liên hệ: Vũ Thanh Nga, Giáo viên Tiếng Anh
Trường THPT Trần Hưng Đạo, Thành phố Nam Định
Điện thoại: 0904492996
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT Trần Hưng Đạo
6 Mã sáng kiến:
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
1 Nhận thức được vai trò của dạy kĩ năng nói trong môn Tiếng Anh
Trong 4 kĩ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết, kĩ năng nói trong tiếng Anh được coi là
kĩ năng “sản sinh”-“productive” Trong đó học sinh phải tạo ra ngôn ngữ theo những yêu cầu sẵn có trên cơ sở sử dụng vốn từ vựng, cấu trúc câu, cũng như vốn kiến thức nền của mình Từ đó có thể sử dụng tiếng Anh trong đời thường để giao tiếp, thuyết trình, hay thảo luận Có thể nói trong 4 kĩ năng thì kĩ năng nói chính là sản phẩm đầu
ra của việc học một ngoại ngữ nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng được ngôn ngữ đó trong đời thực chứ không chỉ là một môn học đơn thuần lấy kiến thức trong lớp học
2 Tình trạng chung của việc dạy kĩ năng nói trong trường THPT
Tiếng Anh đã được đưa vào chương trình giáo dục từ cấp 1,2,3 từ rất lâu nhưng
kĩ năng nói mới thực sự đưa vào chương trình sách giáo khoa hệ 7 năm từ năm 2007
và sau đó là chương trình sách tiếng Anh thí điểm từ năm 2014 tới nay
Đối với sách giáo khoa hệ 7 năm được thiết kế theo định hướng task-based
leảning thì trong các tiết dạy kĩ năng nói tôi nhận thấy các task được thiết kế rất sơ sài-thực tế chưa được coi là “task” mà nặng về “exercise”, chưa đáp ứng được yêu cầu của định hướng task-based Quan trong nhất là ít cung cấp được ngôn ngữ đầu vào (language input) cho học sinh, gây khó khăn cho việc dạy của giáo viên
Đối với sách giáo khoa hệ 10 năm, các hoạt động nói đã được cải biến đáng kể
Cụ thể ngôn ngữ đầu vào “ language input” và ngôn ngữ hữu ích “useful language” được cung cấp ngay từ đầu, giúp cho giáo viên dễ dàng hơn trong việc hướng dẫn học sinh nói Đặc biệt có hội thoại mẫu giúp học sinh đi từ tiến trình bắt chước
“immitating” đến tự tạo và biến thành ngôn ngữ của mình “productive language”
Từ thực tế dạy học của mình tôi nhận thấy cả 2 bộ sách trên đều có những nhược điểm chính như sau:
➢ Một là không hề có file audio của các hội thoại mẫu Điều này gây khá nhiều
Trang 4khó khăn cho giáo viên dạy vì thực tế học sinh phải có ngữ điệu, ngôn ngữ, cũng như cấu trúc câu từ hội thoại mẫu rôi mới có thể tự tạo ra sản phẩm ngôn ngữ của mình Trong khi đó nếu giáo viên đọc mẫu thì khó khăn nhất chính là khó
mà chuẩn âm và ngữ điệu bản ngữ được Nếu cứ để học sinh tự đọc và thực
hành hội thoại thì các em thường có tâm lý lười đọc, lười thực hành, có bị yêu cầu đọc cũng rất miễn cưỡng, đọc cho xong với giọng tiếng Anh như phát âm tiếng Việt hay giọng đều đều kiểu robot Là một người đã từng dạy bằng giáo trình New Headway, New Cutting Edge, tôi nhận thấy các bộ giáo trình này
thường lồng ghép các hoạt động nghe bổ trợ trước hoạt động nói nhằm cho học sinh tiếp xúc với ngôn ngữ đích trước khi tự mình sản sinh ngôn ngữ đầu ra
➢ Hai là đối với mục đích cuốn sách là “integrate” cần lồng ghép nhiều kĩ
năng với nhau Nghe và nói luôn song hành với nhau Việc không có file audio của hội thoại khiến cho việc đánh giá hoạt động nói của học sinh cũng trở nên “cảm tính” Giáo viên biết lấy chuẩn nào để đánh giá việc phát âm hay ngữ điệu của học sinh nếu không
có file nghe trong sách để so sánh
➢ Ba là ngôn ngữ đầu vào thường được thiết kế dưới dạng hoàn thiện bảng
biểu, hay hoàn thiện một list Điều này gây nhàm chán cho học sinh vì ít có sự tương tác với ngôn ngữ đích “target language” Thực tế dạy học cho thấy, các hoạt động này học sinh cũng chỉ là miễn cưỡng làm mà ít có sự hứng thú gì, giống như một dạng bài tập giáo viên giao thì làm chứ ít em nào dùng nó đúng mục đích là ngôn ngữ đầu vào
để phục vụ cho hoạt động nói phía sau
3 Đối tượng học sinh ( áp dụng trên diện rộng) : Tất cả các học sinh đại trà, trình độ trung bình và khá
Trong tất cả các giờ dạy nói, tôi nhận thấy một thực tế là học sinh hầu như rất ít hứng thú tham gia và cá nhân tôi thấy việc dạy nói cũng ít hiệu quả vì các lí do như sau:
- Nhiều em không nhận ra tầm quan trọng của kĩ năng nói trong việc học ngoại ngữ vì
ở cả 3 cấp học thì kĩ năng nói chưa được đưa vào các bài kiểm tra hay thi chính thống
Trang 5tại trường Thậm chí nhiều học sinh còn có suy nghĩ học theo kiểu thực dụng, có nghĩa
là không thi thì không cần học, học qua loa cho xong phần này trong sách giáo khoa
- Từ các cấp học dưới các em rất ít được rèn luyện về phát âm hay ngữ điệu chuẩn tiếng Anh Từ đó các em phát âm sai và phản xạ rất kém với việc nói tiếng Anh, điều này dẫn tới tâm lý ngại ngùng sợ sai, sợ bị chê cười khi nói
- Môi trường để rèn luyện kĩ năng nói cũng rất hạn chế khi ngoài các tiết học trên lớp học sinh chưa có cơ hội nói chuyện với người bản ngữ hay chưa có sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên về cách thực hành ngôn ngữ vừa học như thế nào cho hiệu quả tại nhà
Đây là thực trạng đáng buồn mà chắc chắn không chỉ riêng tôi và rất nhiều giáo viên dạy Tiếng Anh đều trăn trở Cá nhân tôi luôn mong muốn học sinh mình được cơ hội nói tiếng Anh nhiều hơn, chuẩn hơn vì đó mới là mục đích thực sự của việc học ngôn ngữ, chứ không chỉ là làm các bài tập ngữ pháp hay đọc hiểu phục vụ cho các kì thi rồi
để “ ngôn ngữ chết”, không thể giao tiếp được ngoài đời
4 Phạm vi nghiên cứu:
SGK Tiếng Anh lớp 11- Hệ 10 năm, bao gồm các tiết học kỹ năng speaking
từ Unit 1 đến Unit 10
II Mô tả giải pháp:
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
1.1 Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới
Về cơ bản trong dạy học tiếng Anh như ngôn ngữ nước ngoài “TEFL”, có 3 loại hình nói cơ bản như sau:
• Hoạt động được kiểm soát “Controlled activities”: hoạt động dựa trên độ chính xác Ngôn ngữ được kiểm soát bởi giáo viên Drilling: hợp xướng
và cá nhân lắng nghe và lặp lại phát âm của giáo viên
• Hoạt động có hướng dẫn “Guided activities”: dựa trên độ chính xác nhưng sáng tạo và hiệu quả hơn một chút Đầu ra vẫn được kiểm soát bởi giáo
Trang 6viên nhưng ngôn ngữ chính xác thì không - Đối thoại mô hình “Model dialogues” – Đóng vai có hướng dẫn “Guided role-play ”
• Giao tiếp sáng tạo “Creative communication”: hoạt động dựa trên sự trôi chảy Kịch bản thường được tạo bởi giáo viên nhưng nội dung của ngôn ngữ thì không - Đóng vai tự do “Free role-plays ” - Thảo luận “
Discussion” - Tranh luận “Debate” - Mô phỏng “Simulation”- Trò chơi giao tiếp “ Communicative games
Sách giáo khoa tiếng Anh 11 hệ 10 năm mới về cơ bản cũng đã thiết kế các hoạt động nói theo những mô hình nêu trên:
Types of speaking skills Task types Unit Language input
Talking about
parent-child relationship
problems and offering
advice on how to solve
them
- Model dialogues
- Guided role-play
Unit 1 - Language to give
complains
- Language to give opinions and advice
Talking about problems
and asking for advice
Free role-play Unit 2 - Language to give
opinions and advice
Giving opinions about
the importance of the
skills needed for being
independent
Model dialogues Unit 3 - Language to give
opinions
Interviewing a volunteer
and discussing voluntary
work
- Guided role-play Unit 4 - Wh-questions
- Language to give opinions
Trang 7Talking about Asean
member states
- Model dialogues Unit 5 - Language to talk
about stastistics Expressing opinions,
agreements or
disagreements about
solutions to global
warming
- Guided role-play Unit 6 - Language to give
opinions
- Languge to show agreements or disagreements Expressing preferences
for different further
education pathways
- Discussion Unit 7 - Language to give
opinions
Making suggestions
about places to visit in
the Complex of Hue
Monuments
- Presentation Unit 8 - Language to
make suggestions
Explaining facts and
giving predictions
- Free role-play Unit 9 - Language to give
prediction
Giving advice on body
care
- Presentation Unit 10 - Language to give
advice
1.2 Ưu, nhược điểm của giải pháp cũ
- Ưu điểm
Năm học đầu tiên: 2017-2018 khi dạy sách giáo khoa thí điểm cho toàn khối 11, tôi đã bám sát các hoạt động của sách và nhận thấy một số unit được thiết kế khá chi tiết và giúp cho giáo viên khá nhiều trong việc gợi mở kiến thức và gây hứng
thú cho hoạt động nói Đặc biệt ngôn ngữ đầu vào được đưa vào phần useful language, thuận lợi cho giáo viên và học sinh có sẵn cấu trúc và ngôn ngữ cho
phần thực hành nói
Trang 8- Nhược điểm:
Sách giáo khoa mới hệ 10 năm có sự cải tiến rất nhiều về các hoạt động nói và
chủ yếu là hoạt động tương tác role-play / discussion nên tôi phải cải tiến một vài
hoạt động trước khi học sinh tham gia thảo luận hay đóng vai Tôi nhận thấy học sinh có những khó khăn sau đây khi tham gia vào hoạt động nói trên lớp:
- Thiếu kiến thức nền khi nói về chủ đề được giao
- Gặp khó khăn với phát âm và ngữ điệu đúng khi giao tiếp trong hội thoại
- Rụt rè sợ sai, sợ bị bạn bè đánh giá lỗi sai nên không muốn nói hoặc nói một cách miễn cưỡng
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: (trọng tâm)
2 1 Cần trang bị cho học sinh kiến thức về kỹ năng nói
Khi dạy kĩ năng nói cho học sinh thì điều mà giáo viên cần ý thức trước tiên là: chúng ta có thể làm gì trong lớp học để chuẩn bị cho học sinh tương tác
thực sự? Về cơ bản một bài dạy nói trải qua 5 giai đoạn chính:
- Preparation - Chuẩn bị: Giáo viên cho học sinh làm quen với chủ đề để
các em biết mình sẽ học gì trong buổi hôm đó, hoạt động này có thể coi là
“warm-up” nhằm khơi gợi hứng thú và sự tò mò về chủ đề học cho học sinh
- Presentation/Modeling - Thuyết giảng/Làm mầu: Giáo viên cung cấp
ngôn ngữ đầu vào và nền tảng kiến thức về ngôn ngữ Ngôn ngữ đầuvào
có thể đến từ giáo viên và từ sách giáo khoa Ngoài ra thì việc làm mẫu
“modelling” cũng rất quan trọng khi mà trong lớp có những học sinh ở cả mức độ trung bình và yếu
- Practice - Thực hành: Trong phần này của bài học, trọng tâm chuyển từ
giáo viên là người hướng dẫn sang học sinh là người hoàn thành một nhiệm vụ được giao Học sinh làm việc theo cặp hoặc nhóm nhỏ trong một nhiệm vụ dựa trên chủ đề với một kết quả cụ thể
Trang 9- Evaluation - Đánh giá: Khi tất cả học sinh đã hoàn thành nhiệm vụ thực
hành giao tiếp, giáo viên yêu cầu cả lớp tóm tắt lại bài học Yêu cầu học sinh đưa ra ví dụ về cách sử dụng nội dung ngôn ngữ và các chiến lược giao tiếp để thực hiện nhiệm vụ giao tiếp
- Expansion - Mở rộng: Các hoạt động mở rộng cho phép học sinh áp
dụng kiến thức họ có được trong lớp học vào các tình huống ngoài đời Các hoạt động mở rộng bao gồm các bài tập quan sát ngoài lớp, trong đó giáo viên yêu cầu học sinh tìm các ví dụ về chủ đề học hoặc sử dụng một
kĩ năng vừa học trong thực tiễn và sau đó báo cáo
2.2 Sự chuẩn bị của giáo viên
Giáo viên cần chuẩn bị cẩn thận các tài liệu bổ trợ cũng như giáo cụ trực quan trước để chủ động giờ dạy nói nhằm tăng hứng thú cho học sinh Với các hoạt động đã được biến đổi so với hoạt động gốc trong sách thì giáo viên chủ động in ra các handout cho học sinh Mục đích chính là cung cấp thêm ngữ liệu cho học sinh cũng như lôi
cuốn cả những học sinh nhút nhát, học lực trung bình tham gia vào bài học
3 Cách thức thực hiện
Tôi chọn ra một số bài học để thiết kế lại vài hoạt động nói trong sách giáo khoa
để phù hợp hơn với trình độ học sinh cũng như tạo không khí lớp học sôi nổi hơn
3.1 Dạng 1: Biến hoạt động đọc thành phần nghe nhằm giúp học sinh quen với ngôn ngữ đầu vào-language input
➢ Hoạt động gốc trong sách
Trang 10➢ Hoạt động sau khi được thay đổi:
Listen to 3 short talks and fill in the blanks, them match them with the problem
a, b, c in the box next to
1 I’m not _ that my parents set a time for me to
come home in the evening They expect me to be home at 9
p.m.! I wish they allowed me to stay out later, say 9.30 or 10
p.m., so I can spend more time with my friends I have asked
them many times, but they don’t want to change their mind
What should I do?
a Doing more housework
2 My parents _ some of my friends just because
of their appearance They have their hair dyed in different
colours and have pierced noses However, these friends of
mine are excellent students, and have always been very
helpful and kind to me and other classmates I wish my
parents didn’t them by their appearance, but
got to know them better What should I do?
b Missing curfews
3 My parents often that I don’t help enough
around the house They think that I’m not responsible I really
try my best whenever I have a chance But when I’m too busy
with a lot of homework and many extracurricular activities,
it’s difficult for me to find time for anything else What
c Parent’s disapproval
Trang 113.2 Dạng 2: Biến hội thoại mẫu trong sách thành dạng bài nghe Mục đích để học sinh nghe và bắt chước được cách phát âm và ngữ điệu tiếng Anh chuẩn
➢ Hoạt động gốc trong sách:
➢ Hoạt động sau khi biến đổi:
Listen to the following dialogue Then make a similar one to tell your partner
what you or your brothers/sisters and your parents complain about and give
advice on how to solve the problem
Student A: What kind of conflicts do you get into with your parents?
Student B: Well, I don’t like the way my mum keeps telling me what to do all the
time What should I do?
Student A: I think you should talk to her and explain how you feel You should also
show her that you are responsible and mature
Student B: Thanks, I’ll try How about you and your parents?
Student A: My dad is always comparing me with Lan, the girl living next door He
says that Lan is more studious than me, and helps her parents with the household
chores
Student B: Perhaps you should make friends with Lan if your parents like her!
Trang 123.3 Dạng 3: Cung cấp những câu trúc và ngôn ngữ hữu ích cho một số dạng bài nói đặc thù như: Ngôn ngữ để nói về số liệu ( Unit 5), ngôn ngữ chỉ dự đoán (unit 9)
Mục đích: Học sinh được tiếp thu ngôn ngữ đầu vào phù hợp với ngữ cảnh của từng chủ đề nói
❖ Ngôn ngữ dùng để dự đoán tương lai-Language to predict the Future
➢ Sử dụng động từ khuyết thiếu-Modal verbs
- Chúng ta có thể kết hợp các động từ phương thức với trạng từ để hiển thị mức độ chắc chắn lớn hơn hoặc thấp hơn
Ví dụ: People will definitely work longer hours in the future
Ví dụ: People definitely won’t work longer hours in the future
- Cả hai câu này cho thấy người nói chắc chắn
Ví dụ: You’ll probably enjoy this film
Ví dụ: You probably won’t enjoy this film
- Dùng “might” dể dự đoán không chắc chắn trong tương lai
Ví dụ: She might pass the exam or she might not pass I don’t know
➢ Sử dụng cách diễn đạt khác-Other expressions
- Dự đoán chắc chắn 100%
Ví dụ: Jan is bound to pass the exam He’s worked really hard
Ví dụ: Jan is certain to pass
- Dự đoán không chắc chắn lắm
Ví dụ: Katka is likely to pass the exam
Ví dụ: Katka may well pass the exam
Ví dụ: There’s a good chance that Katka will pass the exam