Ởtrường phổ thông, dạy học toán giúp cho học sinh hình thành kỹ năng tư duy, sáng tạo,lập luận bằng ngôn ngữ toán học, do đó để giúp học sinh đam mê học Toán là mộtviệc làm rất khó và ph
Trang 1I) PHẦN MỞ ĐẦU:
1) Lí do chọn đề tài:
Sản phẩm của giáo dục là nhân cách của người học, của thế hệ trẻ Về mục
tiêu giáo dục phổ thông, Luật giáo dục xác định: giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Như vậy sản phẩm của giáo dục, sản phẩm của sự đào tạo
của nhà trường là nhân cách người lao động mới có văn hóa, có tay nghề, có năng lựcthực hành, tự chủ năng động sáng tạo, có chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịunghèo hèn, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội
Bên cạnh giáo dục đạo đức cho học sinh thì việc dạy cho học sinh có chuyênmôn vững vàng là việc làm thường xuyên của đội ngũ cán bộ giáo viên nhất là giáoviên trực tiếp đứng lớp
Mà dạy học Toán là dạy một ngôn ngữ, một ngôn ngữ đặc biệt, có tác dụng tolớn trong việc diễn tả các sự kiện các phương pháp trong các lĩnh vực rất khác nhaucủa khoa học và phục vụ cho hoạt động thực tiễn xung quanh cuộc sống chúng ta Ởtrường phổ thông, dạy học toán giúp cho học sinh hình thành kỹ năng tư duy, sáng tạo,lập luận bằng ngôn ngữ toán học, do đó để giúp học sinh đam mê học Toán là mộtviệc làm rất khó và phải có phương pháp thích hợp ứng với trình độ học sinh từ đóphát huy tính tích cực học Toán của học sinh
Trong xu hướng ngày nay thì việc học ngày càng quan trọng có ý nghĩa sốngcòn của mỗi dân tộc nhưng học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều trò chơi dẫn đến các
em thường xuyên ít quan tâm đến việc học, thì làm sao để các em thấy hứng thú họcnhất là môn Toán là một việc không dễ dàng Do có vấn đề trăn trở, bức xúc trướctình trạng học sinh ngày càng không muốn hoặc không thích học mà trong đó có môn
Toán nên tôi mạnh dạng chọn đề tài “ Một số phương pháp giúp học sinh hứng thú học môn Toán 6” để rút ra kinh nghiệm cho bản thân và hỗ trợ tích cực phần nào
trong quá trình dạy học toán cho giáo viên và học sinh
2) Mục đích :
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, giáo viên cần phải tích cực tìmtòi nghiên cứu tìm ra biện pháp phù hợp và hiệu quả Từ đó xây dựng mộtphương pháp giảng dạy tác động tích cực đến học sinh làm cho các em thấyviệc học không còn là nhiệm vụ mà là sự say mê học tập và nghiên cứu từ đótác động đến sự tư duy mạnh mẽ của bản thân được phát huy ở mức cao nhất
3) Nhiệm vụ của đề tài:
Tìm hiểu cơ sở lí luận và pháp lý của đề tài Các vấn đề liên quan đến sự hứngthú học tập của học sinh
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dạy học mônToán
4) Phạm vi đề tài :
Phân tích, tìm hiểu một số phương pháp để giúp học sinh hứng thú học mônToán đặc biệt là khai thác một số bài toán phát huy tính tích cực học tập của học sinhtrong chương trình Toán 6
Trang 2II PHẦN NỘI DUNG:
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở pháp lí
I) Các khái niệm có liên quan:
1) Phương pháp: cách thức nhận thức, nghiên cứu các hiện tượng tự
nhiên và của đời sống xã hội; là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt độngnào đó
2) Hứng thú: sự ham thích hoặc cảm thấy có sự ham thích, hào hứng 3) Lý thuyết về quá trình học tập của học sinh: theo chủ nghĩa duy vật
biện chứng Mác-Lênin thì quá trình nhận thức thế giới khách quan của conngười là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư suy trừ tượng đếnthực tiễn”
- Các mức độ hiểu biết của học sinh:
+ Biết: nhận thức sự tồn tại trong tự nhiên, XH
+ Hiểu: các nguyên tắc cơ bản
+ Vận dụng: áp dụng các nguyên tắc cơ bản
+ Phân tích thông tin: tổng hợp để chứng minh một vấn đề, mộtđịnh lí
+ Tổng hợp, đánh giá thông tin
- Hứng thú đối với bộ môn: thực tế cho thấy hứng thú đối với bộ môn tỉ
lệ thuận với kết quả học tập của học sinh đối với bộ môn đó Khi học sinh cảmthấy yêu thích môn học thì động lực học tập của học sinh rất lớn giúp học sinhvượt qua những khó khăn để lĩnh hội kiến thức Các em sẽ luôn tìm tòi khámphá thế với xung quanh trên cơ sở những kiến thức đã học, vận dụng có sángtạo những kiến thức đó để giải thích thế giới Chính điều này nâng cao kiếnthức cho các em từ đó nâng cao kết quả học tập
Ngược lại, sự sợ hãi việc mình phải làm khiến kết quả rất tồi tệ Sợ việchọc sẽ làm cùn mòn đầu óc, làm chai lỳ tư duy Một trong những điều tối kỵtrong dạy học là khiến học sinh thấy sợ học Nhưng sự say mê thì ngược lại, nó
sẽ khai phá khả năng tiềm tàng và sự thăng hoa trong con người ta hết mức cóthể
Vấn đề là làm sao để tạo được sự say mê Câu trả lời nằm ở hai chữ: “Tòmò”
Sự tò mò thúc đẩy con người ta tìm tòi hiểu biết, làm cho não tiếp thu
Trang 3kiến thức và khám phá thế giới nhanh hơn Khi tò mò tức là trong đầu đặt racác câu hỏi, và não “thèm khát” thông tin trả lời các câu hỏi đó, khi “vớ được”câu trả lời sẽ nhập vào đầu rất nhanh vì trong đầu đã “dọn chỗ” sẵn để đónnhận nó Học sinh có bản năng tò mò, và học rất nhanh Vấn đề là làm sao giữđược tính tò mò đó mà không đánh mất mà không ngừng phát huy nó Theomột số nghiên cứu về giáo dục học – thần kinh học thì trẻ em trung bình mỗingày học được một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mấy chục từ mới trong lúc làmcác việc khác, tuy rằng lúc học ở trường thì có khi vất vả một ngày không họcnổi vài từ mới Một trong các lý do mà các nhà giáo dục học đưa ra để giảithích sự học kém hiệu quả ở trường, chính là cách giáo dục hình thức ở trườnglàm giảm đi sự tò mò của học sinh Khi chán học, không có sự tò mò, thì họcrất khó vào.
Albert Einstein, người được hậu thế bầu là con người vĩ đại nhất của thế
kỷ XX, có nhiều câu nói rất hay Trong đó có câu “I have no special talent I
am only passionately curious” Ý là bí quyết thành công của ông chính là sự “tò
mò một cách đam mê”
Theo những nghiên cứu về thần kinh học trong giáo dục, thì con người
ta khi học, không những chỉ nhớ “kiến thức” được học, mà còn nhớ cả trạngthái tâm lý, cảm giác khi học “kiến thức” đó Nếu như nhớ rằng học cái gì đó
là “nhàm chán” hay “đau khổ”, thì sẽ không muốn học nữa, vì phản xạ tự nhiêncủa con người là không muốn có cảm giác nhàm chán hay đau khổ Ngược lại,nếu nhớ rằng học cái gì đó là “vui” là “sướng”, thì muốn được lặp lại cái cảmgiác đó, tức là muốn được học tiếp Khi trẻ em chơi một cái gì đó mà nó thích,thì nó tập trung cao độ Nếu làm sao để “trò học” cũng hấp dẫn như “trò trơi”,thì học sẽ rất hiệu quả
Ngoài ra, sự thoải mái trong khi học, dù tập trung cao độ nhưng khôngcăng thẳng cũng là điều rất cần thiết trong học tập nhất là môn Toán Vì thếtrong giờ học cố gắng để cho học sinh phát biểu mọi suy nghĩ mà chúng muốn
về vấn đề đang nêu, chúng được tự mình nêu ý tưởng của mình Ai mà khôngthích được nói, được thể hiện mình như thế
Tất nhiên, với từng đối tượng mà có những phương pháp khác nhau,nhưng chung quy lại, cái quan trọng nhất chính là ở việc tạo động lực cho sựhọc, tạo niềm say mê, hứng thú và sự thoải mái trong giờ học, ấy là đã nắmchắc 50% phần chiến thắng trong công cuộc giảng dạy môn học đầy gian khổ
và vinh quang này
III) Cơ sở pháp lí:
Điều 2 Mục tiêu giáo dục ( Luật GD 2005 )
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Điều 3 Tính chất, nguyên lý giáo dục ( Luật GD 2005 )
Trang 41 Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhândân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác ư Lênin và tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng.
2 Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi vớihành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn,giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Điều 5 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục ( Luật GD 2005 )
1 Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực,hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kếthừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi củangười học
2 Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khảnăng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên
Điều 6 Chương trình giáo dục ( Luật GD 2005 )
1 Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩnkiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp vàhình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đốivới các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo
2 Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tínhthống nhất; kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho
sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo
và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân
3 Yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chươngtrình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục phổ thông,giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáodục thường xuyên Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đápứng yêu cầu về phương pháp giáo dục
4 Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối vớigiáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo năm học hoặc theo hình thứctích luỹ tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
Điều 15 Vai trò và trách nhiệm của nhà giáo ( Luật GD 2005 )
Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho ngườihọc
Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng,đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáothực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thốngquý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học
Điều 18 Nghiên cứu khoa học ( Luật GD 2005 )
Trang 51 Nhà nước tạo điều kiện cho nhà trường và cơ sở giáo dục khác tổchức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học, công nghệ; kết hợp đào tạo vớinghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, từngbước thực hiện vai trò trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của địa phươnghoặc của cả nước.
2 Nhà trường và cơ sở giáo dục khác phối hợp với tổ chức nghiên cứukhoa học, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc đào tạo, nghiên cứukhoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế ư xã hội
3 Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu, ứng dụng vàphổ biến khoa học giáo dục Các chủ trương, chính sách về giáo dục phải đượcxây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học phù hợp với thực tiễn ViệtNam
Điều 27 Mục tiêu của giáo dục phổ thông ( Luật GD 2005 )
1 Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển nănglực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị chohọc sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc
2 Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở banđầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở
3 Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triểnnhững kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở vànhững hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung họcphổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
4 Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và pháttriển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông
và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiệnphát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Điều 28 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông ( Luật GD
2005 )
1 Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản,toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợpvới tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học
Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cầnthiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết
và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết banđầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật
Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đãhọc ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về
Trang 6tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tựnhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹthuật và hướng nghiệp.
Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung
đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nộidung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện vàhướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học đểphát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
2 Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, mônhọc; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềmvui, hứng thú học tập cho học sinh
Trang 7CHƯƠNG II: Thực trạng và giải pháp giúp học sinh hứng thú học môn Toán:
I) Đặc điểm tình hình của trường THCS&THPT Bình Phong Thạnh năm học
2009 – 2010:
1) Tình hình chung: trường THCS&THPT Bình Phong Thạnh có :
- Có 10 lớp THCS ( 3 lớp 6, 3 lớp 7, 2 lớp 8 và 2 lớp 9)
- Có 3 giáo viên dạy Toán và 1 giáo viên Toán làm BGH
2) Những thuận lợi và khó khăn của nhà trường: ( về môn Toán)
a) Thuận lợi:
- 4 giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về bằng cấp sư phạm
- Có 1 giáo viên Toán làm BGH
b) Khó khăn:
- Trường nằm ở địa bàn vùng sâu nên học sinh nghỉ học nhiều, chấtlượng học sinh không đồng đều
- Ít được tiếp xúc với các tiết giảng dạy và SKKN của giáo viên giỏi
II) Thực trạng và giải pháp giúp học sinh hứng thú học môn Toán:
1) Thực trạng :
- Học sinh lớp 6 là năm học đầu tiên mà học sinh được tiếp cận với nhiều giáoviên trong cùng một năm học, cộng thêm học sinh thường có tâm lí môn Toán thườngkhô khan, khó tiếp thu; bên cạnh đó giáo viên chỉ quan tâm làm thế nào để hoàn thànhtiết dạy mà không quan tâm đến sự tiếp nhận của học sinh, cũng không có thời gian đểtheo dõi quá trình học tập của từng học sinh … do đó phương pháp dạy học của giáoviên là rất quan trọng, từ đó giáo viên cần phải tìm ra cho mình những biện pháp thíchhợp để tạo cho học sinh sự hứng thú khi học môn Toán
- Nhiều giáo viên bộ môn cho rằng môn mình là quan trọng nên yêu cầu họcsinh rất nhiều dẫn đến các em không có thời gian suy nghĩ mà chỉ có thời gian chépdần dần các em đuối sức và không theo kịp
- Do trường vùng sâu nên việc đi lại rất khó khăn nên thời gian đi học của các
em chiếm khá nhiều và sự quan tâm, hướng dẫn của gia đình rất ít thậm chí không có
2) Nội dung và biện pháp giải quyết:
Trong qua trình dạy Toán, ngoài việc sử dụng các phương pháp dạy học đặctrưng bộ môn, theo bản thân tôi thì với học sinh THCS nhất là học sinh lớp 6 giáo viêncần đặc biệt quan tâm đến một số phương pháp sau để kích thích niềm đam mê họcToán của học sinh
Trang 8Phương pháp 1: Khái quát hoá, đặc biệt hóa:
Khái quát hoá là dùng trí óc tách ra cái chung trong các đối tượng, sự kiện hoặchiện tượng Muốn khái quát hóa, thường phải so sánh nhiều đối tượng, hiện tượng, sựkiện với nhau
Đối với học sinh khối 6, đây là một vấn đề khó nhưng nếu giáo viên tập cho học sinhsuy luận thì học sinh cảm thấy bản thân mình được khám phá toán học ngay cả đối vớihọc sinh yếu, trung bình
Ví dụ 1: Từ ba sự kiện:
ta so sánh ba số 5, 15, 25 , rút ra cái chung là các số đều tận cùng bằng 5 và có kết
luận khái quát: “ tất cả các số tận cùng bằng 5 đều chia hết cho 5”
đây là một khái quát hoá đúng đắn phù hợp với trình độ học sinh khối 6
Ví dụ 2: Ta xem Bài 21 SGK/14 ( Toán 6 – tập 1)
Tập hợp A = 8; 9; 10; …; 20 } có 20 – 8 + 1 = 13 ( phần tử )
Từ đó ta có khái quát hoá đúng đắn là tập hợp các số tự nhiên từ a đến b
có b – a + 1 ( phần tử ) , từ đó cho học sinh tìm tòi kiểm chứng lại bằng cách tự chotập hợp và tính số phần tử
Ví dụ 3: Bài 72 SGK/31 ( Toán 6 – tập 1): Số chính phương là số bằng bình phương
của một số tự nhiên ( ví dụ: 0; 1; 4; 9; 16; … ) Mỗi tổng sau có là một số chínhphương không?
Trang 9Ví dụ 5: Từ ba sự kiện:
số 3 là số nguyên tố
số 13 là số nguyên tố
số 23 là số nguyên tố
Ta rút ra khái quát: Tất cả các số tận cùng bằng 3 đều là số nguyên tố Ở đây khái
quát hoá không đúng (số 33 không phải là số nguyên tố )
Ta có thể khái quát hoá : số chẵn = số lẻ + số lẻ
Ta cũng có thể khái quát hoá :
số chẵn lớn hơn 4 = số nguyên tố lẻ + số nguyên tố lẻ
Cả hai điều khái quát hoá trên là đúng Nhưng điều khái quát háo thứ nhất là tầmthường, còn điều khái quát thứ hai là rất sâu sắc
Trong quá trình dạy “ các dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9”, dấu hiệu chia hếtcho 10 học sinh đã nắm khá rành Vậy còn dấu hiệu chia hết cho 4, 6, 7, 8, 11, 12 thìsao, ta có thể nhận biết chúng hay không? do đó khi có thời gian giáo viên cũng nêngiới thiệu chúng để học sinh cảm thấy thỏa mãn với thắc mắc của bản thân đồng thờităng kích thích cho học sinh
* Dấu hiệu chia hết cho 4:
Một số chia hết cho 4 khi và chỉ khi hai chữ số cuối tạo thành một số chia hếtcho 4 (ví dụ số 567 896)
* Dấu hiệu chia hết cho 6:
Một số chia hết cho 6 khi và chỉ khi nó là số chẵn và chia hết cho 3 (ví dụ số 36912) hoặc số chia hết cho 2 và cho 3 thì chia hết cho 6
* Dấu hiệu chia hết cho 8:
Một số chia hết cho 8 khi và chỉ khi ba chữ số cuối tạo thành một số chia hếtcho 8 (ví dụ số 12336)
* Dấu hiệu chia hết cho 12:
Một số chia hết cho 12 khi và chỉ khi nó chia hết cho 3 và 4 (ví dụ số 81936)Trong sách Toán 6 thường có rất nhiều bài toán đố, mà thường thì trong quátrình dạy giáo viên ít quan tâm hoặc không quan tâm đến dạng toán này, nếu có thìgiáo viên cũng đưa ngay kết quả cho học sinh Như vậy bản thân học sinh chưa đượckhám phá về điều đặc biệt này, đó cũng là lí do làm cho học sinh giảm hứng thú họcToán Hãy để cho học sinh tự tìm tòi suy nghĩ kết quả sẽ như thế nào ?
Ví dụ 6: Khi dạy về phân số, ở SGK/ 37 ( Toán 6 – Tập 2 ) có bài 72:
Trang 10Đố: Có những cặp số mà khi nhân chúng với nhau hoặc cộng chúng với nhau đều được cùng một kết quả
Chẳng hạn: Cặp phân số 37 và 74 có :
12
49 12
3 7 4 7 4
7 3 7
12
49 4 3
7 7 4
7 3 7
Đố em tìm được cặp phân số khác cũng có tính chất ấy
Ở đây nếu phát huy đúng mức thì học sinh sẽ dễ dàng tìm ra nhưng cặp phân số tương tự.
Rõ ràng : còn có những cặp phân số khác cũng có tính chất ấy như
3
8
và
5 8
3
5
và 25
Từ đó giáo viên có thể gợi ý để rút ra khái quát chung, học sinh dễ dàng có nhận xét :
“nếu hai phân số có tử bằng nhau và tổng của hai mẫu đúng bằng tử thì tích và tổng của chúng bằng nhau”.
Ngoài ra, giáo viên có thể cho học sinh thấy “ điều lạ ở phân số”
(1) Dùng chín chữ số: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 có thể lập những phân số mà
giá trị bằng 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 Chẳng hạn:
2 6729
9 10836
(3) Một vài cặp số có hai chữ số lại có tính chất đặc biệt là : “tích hai cặp
số đo không đổi nếu trong mỗi thừa số ta thay thứ tự các chữ số”
Chẳng hạn:
Trang 111 95
19
?Phân số như
5
1 95
19
có dạng a c
c
a c b
b a
10 10
Trong mười giá trị từ 0, 1, 2, … , 9 có thể gán cho b và c thì chỉ
có ba giá trị của a là 1, 2, 4 Từ đó ta được bốn phân số :
2
1 8
4 98 49
2
1 4
2 64 26 5
1 95 19 4
1 64 16
Trang 12Phương pháp 2: Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học môn Toán
Để thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, điểm xuất phát là tạo ra tình
huống có vấn đề, tốt nhất là tình huống gây được cảm xúc và làm cho học sinh ngạc nhiên Dưới đây là một số cách thường dùng để tạo ra các tình huống có vấn đề.
Các cách thường dùng:
1) Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn
2) Lật ngược vấn đề
3) Xem xét tương tự
4) Khái quát hóa
5) Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới
6) Nêu một bài toán mà việc giải quyết cho phép dẫn đến kiến thức mới
7) Tìm sai lầm trong lời giải
Các ví dụ:
1) Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn.
Ví dụ 1: Hình thành quy tắc cộng hai số nguyên khác dấu
Một em bé đang đứng ở khoảng giữa của một cầu thang Nếu quy ước lên 2 bậc viết là +2, xuống 3 bậc viết là -3 Hãy nêu nhận xét về số bậc lên xuống của em bé trong các trường hợp sau:
1 Lên 2 bậc rồi lên tiếp 3 bậc
2 Xuống 2 bậc rồi xuống tiếp 3 bậc
3 Lên 2 bậc rồi xuống 2 bậc
4 Lên 2 bậc rồi xuống 3 bậc
Từ đó dẫn đến việc phát hiện ra quy tắc cộng hai số nguyên khác dấu
GV: "đó chính là nội dung của quy tắc chuyển vế."
2) Lật ngược vấn đề: Đặt vấn đề nghiên cứu mệnh đề đảo sau khi chứng minh một tính chất, một định lí
Ví dụ: tìm hai số a và b sao cho a + b = 3
Trường hợp đặc biệt, c = 0, ta có khái niệm số đối
Trang 133) Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới:
Ví dụ 1: Hình thành khái niệm hai phân số bằng nhau
có bằng nhau không và làm thế nào để biết điều đó?
← Đó chính là nội dung của bài học hôm nay!
Khái quát và ghi bảng:
Cho hai số tự nhiên a và b, nếu có số tự nhiên x sao cho b + x = a thì có phép trừ a – b = x
Ví dụ 3: Hình thành khái niệm phép chia hết (dạy tương tự khái niệm phép trừ)
Khái quát và ghi bảng:
Cho hai số tự nhiên a và b (b≠0), nếu có số tự nhiên x sao cho b.x = a thì có phép chia hết a : b = x
4) Nêu một bài toán mà việc giải quyết cho phép dẫn đến kiến thức mới
Ví dụ : Hình thành phép cộng hai số nguyên khác dấu
Kiểm tra bài cũ: “Cộng hai số nguyên cùng dấu”:
Bài tập 26: “Nhiệt độ hiện tại của phòng là -5°C Nhiệt độ sắp tới tại đó là baonhiêu biết nhiệt độ giảm 7°C?”
Sau đó giáo viên đặt vấn đề (vừa phát biểu và dùng phấn sửa dấu trừ thành dấucộng):
← “Vậy nhiệt độ sắp tới là bao nhiêu biết nhiệt độ vẫn giảm 7°C và nhiệt độ hiệntại của phòng là +5°C”
← Muốn biết nhiệt độ sắp tới tại phòng là bao nhiêu, ta đặt phép tính gì?
Trang 14GV ghi đầu bài: §5 Cộng hai số nguyên khác dấu
Nhận xét: Cách làm này khá phổ biến và hay được dùng trong dạy học vì nó cho phép
thực hiện đồng thời một lúc hai chức năng: một là kiểm tra bài cũ (tạo tiền đề) và hai
là đặt vấn đề vào bài mới Hơn nữa thực tế chứng tỏ học sinh rất thích thú cách đặtvấn đề như trên vì nó gây được sự ngạc nhiên và hứng thú cũng như sự tò mò
Trang 15Phương pháp 3: Khai thác các bài toán thực hành
Trong môn Toán nói chung và Toán 6 nói riêng thì những bài toán thực hành làrất ít và thời gian thực không nhiều, bên cạnh đó vì lí do khách quan lẫn chủ quannhiều gíao viên lại coi nhẹ việc thực hành ( nhất là thực hành ngoài trời ) Nhưngqua tìm hiểu ( khảo sát học sinh ) , học sinh khối 6 cho rằng: học sinh rất hứng thúkhi được thực hành và cần nhiều thời gian hơn nữa để tự mình khám phá, được khắcsâu kiến thức hơn sau những tiết học lí thuyết trên lớp học
a) Các que diêm sau đây đã bị xếp nhầm theo chữ số La Mã:
Ở mỗi trường hợp hãy chuyển chỗ 1 que thì được kết quả đúng ? b) - Trên bàn có 3 que diêm Không thêm không bớt que nào, hãy xếp sao cho từ 3 ta lại được 4 ?
- Trên bàn có 3 que diêm Làm sao chỉ cần 2 que diêm nữa là có ngay 8?
Ví dụ 2: Bài “ Số nguyên tố” SGK/46 ( Toán 6 – Tập 1), khi lập bảng các số
nguyên tố không vượt quá 100 giáo viên cho học thực hành theo nhà Toán học Hi LạpƠratôxten ( 276 – 194 TCN) từ đó sẽ khắc sâu và tạo hứng thú cho học sinh khi học.(1 hay 2 học sinh một bảng đã chuẩn bị trước )
23456789101112131415161718192021222324252627282930 31323334353637383940414243444546474849505152535455 56575859606162636465666768697071727374757677787980 81828384858687888990919293949596979899100
Trang 16Ví dụ 3: Khi dạy bài ? trong
SGK/70 tập 1, giáo viên chuẩn bị sẵn
để học sinh thực hiện từ đó các em có
ấn tượng và hiểu về số âm Hoặc nếu
có thời gian cho học sinh thực hành
bằng cách lên xuống cầu thang để mọi
học sinh đều thực hiện và cảm nhận sâu
sắc hơn
b) Trong hình học:
Thực hành để lại rất nhiều ấn trong học sinh, học sinh được tự mình khám phá
và khẳng định lại những điều mình vừa học trên lớp là đúng đắn
Ví dụ 1: Thực hành trồng cây thẳng hàng ở Toán 6 tập 1, học sinh thấy được sự khác
nhau khi xác định 3 điểm thẳng hàng ở thực tế và trên giấy khác nhau như thế nào.Đến Toán 6 tập 2, học sinh được thực hành đo góc trên mặt đất Ở đây mức độ thựchành ở mức độ khó hơn, làm cho học sinh thấy phải nổ lực nhiều hơn để hoàn thànhtheo yêu cầu thực hành Do đó thực hành đọng lại trong lòng học sinh khối 6 rất lâu vàkhắc sâu thêm kiến thức bài học cho học sinh
Giáo viên có thể bổ sung :
Ví dụ 2: Cho học sinh đứng thành vòng tròn có tâm để thấy được sự hình thành
đường tròn và hãy vẽ đường tròn ngoài thực tế ( dùng dây )
Ví dụ 3: Có 10 cây , hãy trồng thành năm hàng, mỗi hàng có bốn cây
( có hình dạng ngôi sao )
( mỗi điểm trên ngôi sao là một cây )
Ví dụ 4: Dựng tam giác trên mặt đất có các cạnh là 5m, 6m, 8m
Từ đó đo các góc của tam giác vừa dựng ?
Và cũng có thể vẽ tam giác có cạnh 2m, 3m , 6cm ( không vẽ được để từ đó khôngphải lúc nào cũng vẽ được tam giác khi biết 3 độ dài )
Ví dụ 5: hãy đo các góc , đo độ dài các đoạn thẳng để tính chu vi của sân
trường
Như vậy qua các bài toán trên học sinh thấy được mối quan hệ giữa các bài họcvới nhau mà còn thấy được ngay và tự mình thực hành ứng dụng các kiến thức vừahọc trên lớp
1m