1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hướng dẫn học sinh khai thác những tri thức khoa học, văn hóa, nghệ thuật trong tác phẩm của nguyễn tuân cho học sinh thpt

79 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi tác phẩm văn học vẫn luôn được coi là nghệ thuật của ngôn từ, việc tiếp nhận văn bản văn học trước hết là tiếp xúc với phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ; mặt khác, việc thực hành tạo

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC NHỮNG TRI THỨC KHOA HỌC, VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TUÂN CHO HỌC SINH THPT

Tác giả: TRẦN THỊ THANH VÂN Trình độ chuyên môn: Ngữ văn Chức vụ: Giáo viên

Nơi công tác: Trường THPT Trần Hưng Đạo

Trang 2

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh khai thác những tri thức khoa học, văn hóa, nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Tuân cho học sinh THPT

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn

3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2018- 2019

4 Tác giả :

Họ và tên: Trần Thị Thanh Vân Giớí tính: Nữ

Ngày sinh: 19-04-1977

Nơi thường trú: 19 Nguyễn Thị Trinh, P.Lộc Hạ, Tp.Nam Định

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân sư phạm Ngữ văn

Chức vụ công tác: Giáo viên

Nơi làm việc: Trường THPT Trần Hưng Đạo – TP Nam Định

Trang 3

MỤC LỤC

2.1 Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về tác giả Nguyễn Tuân

và tác phẩm của nhà văn trong chương trình Ngữ văn lớp 12 và 11

2.2 Cách thức tổ chức hoạt động hướng dẫn HS khai thác những tri thức trong tác phẩm của Nguyễn Tuân

7

12

1 Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm 36

3 Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm 37

IV Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền 57

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh

VB : Văn bản PPDH : Phương pháp dạy học THPT : Trung học phổ thông SGK : Sách giáo khoa

Trang 5

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục

Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo từ năm học 2014 – 2015, với mục tiêu tổng quát là: tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; […] Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển được những năng lực cần thiết

Để đạt mục tiêu trên, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực, chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn, đặc biệt là phương pháp dạy học tích hợp; vận dụng các hình thức tổ chức dạy học trong lớp và ngoài lớp

Với chuyên đề này, tôi muốn góp một tiếng nói nhỏ nhằm đáp ứng những yêu cầu nói trên của Giáo dục nói chung, bộ môn Ngữ Văn nói riêng

2 Xuất phát từ sự đổi mới dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông

Đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học, cần chú ý đến

việc tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp Với đặc trưng của mình, môn Ngữ văn cho phép thực hiện việc tích hợp như một yêu cầu tự thân Bởi tác phẩm văn học vẫn luôn được coi là nghệ thuật của ngôn từ, việc tiếp nhận văn bản văn học trước hết là tiếp xúc với phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ; mặt khác, việc thực hành tạo lập các văn bản thông dụng trong nhà trường và xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công cụ Như vậy, cả

ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn trong môn học này sẽ được phối hợp triển khai để cùng hướng tới một mục đích chung là nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS Tính tích hợp của CT và SGK Ngữ văn còn thể hiện ở mối liên thông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống, liên thông giữa kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với các môn học thuộc ngành khoa học xã hội nhân văn và các ngành học khác Do đó, HS cần vận dụng tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ, văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí, phong tục, vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm của bản thân

Trang 6

II Mô tả giải pháp

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

1.1 Nguyễn Tuân là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam và là một trong những tác giả

tiêu biểu của nền văn học Việt nam thời hiện đại Trong chương trình học cấp THPT, tác phẩm của nhà văn được học ở cả hai lớp 11 và 12 Ở chương trình lớp 11, HS học tác phẩm

“Chữ người tử tù” và ở chương trình lớp 12, học tác phẩm “Người lái đò sông Đà” Như

vậy, tác phẩm của Nguyễn Tuân được lựa chọn trong chương trình THPT là sáng tác của

Nguyễn Tuân cả trước cách mạng và sau cách mạng

Nguyễn Tuân viết văn với một phong cách tài hoa, uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng tiếng Việt Trong từng trang văn của mình, Nguyễn Tuân đều chứng tỏ những hiểu biết uyên bác, sâu sắc về nhiều lĩnh vực khác nhau Đặc biệt nhà văn có thiên hướng thể hiện những ấn tượng đậm nét mãnh liệt, tô đậm cái phi thường nơi cái bình thường, những con người bình dị nhưng ở họ có phẩm chất cao quý Ở đó vẫn là dáng vẻ của một nét bút cẩn thận đến chính xác từng từ, từng câu, từng chữ Vẫn là một Nguyễn Tuân với sức liên tưởng đa dạng, phong phú, sắc sảo

1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản có rất nhiều cách khác nhau Trong các giờ đọc hiểu

thường thì giáo viên chỉ đi phân tích ngôn từ của văn bản một cách cô lập mà nhiều khi không đặt tác phẩm trong các khía cạnh khác để khai thác như địa lí hay lịch sử Hiện nay, PPDH tích hợp đang được vận dụng trong việc dạy học Ngữ Văn và đem lại hiệu quả tốt, nó được vận dụng trong từng bài dạy PPDH tích hợp hướng việc tới hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, lấy chủ thể người học làm xuất phát điểm

và đích đến Vì thế nhiều phương pháp và kĩ thuật giảng dạy tích cực, các hình thức tổ chức dạy học được đưa vào ứng dụng trong hoạt động dạy học Ngữ văn Tuy nhiên vấn đề dạy học văn bản theo hướng tích cực vẫn còn nhiều lúng túng với giáo viên và học sinh

Do đó, tôi đã mạnh dạn đề xuất một hướng dạy để giúp HS chủ động trong việc tìm kiếm, khai thác, tích lũy nguồn tư liệu; tạo cho HS thói quen tự học, tự làm việc; huy động kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; bộc lộ các năng lực tư duy, giao tiếp, tiếp nhận, sáng tạo,… theo nhều cách, bằng nhiều phương tiện; đồng thời cũng tạo được hứng thú trong các giờ học trên lớp

Trang 7

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

2.1 Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm của nhà văn trong chương trình Ngữ văn lớp 12 và 11

2.1.1 Hệ thống kiến thức về tác giả

Nguyễn Tuân (10/7/1910 – 28/7/1987) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào một trong 9 tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại Ông viết văn với phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng

tạo và sử dụng tiếng Việt Hà nội có một con đường mang tên ông

Nguyễn Tuân quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà

Nho khi Hán học đã tàn

Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929) Sau đó ít lâu, ông lại bị đi tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép Khi ra tù, ông bắt đầu viết báo, viết văn

Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ năm 1938

với các tác phẩm tùy bút, bút kí có phong cách độc đáo như “Vang bóng một thời”, “Một

chuyến đi” Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì gặp gỡ, tiếp xúc với

những người hoạt động chính trị

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới Từ 1948 đến

1958, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam

Các tác phẩm chính của Nguyễn Tuân: Gần 60 năm gắn bó với nghiệp sáng tác văn

chương, ông đã cho ra đời khá nhiều tác phẩm nổi tiếng như Một chuyến đi (1938), Tàn

đèn dầu lạc (1939), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Sông Đà (1960), …

Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu trong một chữ “ngông”

Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều thể hiện sự tài hoa uyên bác Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ

Trang 8

Nguyễn Tuân học theo “chủ nghĩa xê dịch” Vì thế ông là nhà văn của tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội

Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết Ông có nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông, cây cỏ trên đất nước mình Phong cách tự do, phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tùy bút như một điều tất yếu

Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam

Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người, thiên nhiên về phương diện văn hóa, nghệ thuật, nghệ

sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đại chúng

Có người nói, Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa về người sĩ Đối với ông, văn chương trước hết phải văn chương, nghệ thuật trước hết phải nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo Nhưng Nguyễn Tuân, xét từ bản chất không phải là người theo chủ nghĩa hình thức Tài phải đi đôi với tâm Ấy là “thiên lương” trong sạch, là lòng yêu nước tha thiết, là nhân cách cứng cỏi trước uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục

Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo và tài hoa Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

2.1.2 Hệ thống kiến thức về đặc trưng thể loại

Một trong những định hướng đúng đắn trong lịch sử khoa học nghiên cứu về lí luận

và phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo đặc trưng thể loại Mỗi thể loại có những đặc điểm riêng về cách thức tổ chức tác phẩm, về hiện tượng đời sống được miêu tả và mối quan hệ của nhà văn đối với đối tượng phản ánh Những đặc điểm ấy chi phối cách tiếp nhận VB của người học Tiếp cận đúng hướng, hiểu đúng đặc trưng thể loại là tìm ra đúng chìa khoá để “mở cửa” bước vào thế giới nghệ thuật và các tầng lớp ý nghĩa của VB 2.1.2.1 Truyện ngắn

- Truyện ngắn: là tác phẩm văn xuôi tự sự, phản ánh sự thật đời sống trong tính

khách quan; thường có cốt truyện, nhân vật và số phận nhân vật, sự kiện và tình tiết, hoàn cảnh và môi trường, không gian và thời gian

Trang 9

- Đặc điểm của truyện ngắn:

+ Cốt truyện với một chuỗi các tình tiết, sự kiện, biến cố xảy ra liên tiếp tạo nên

sự vận động của hiện thực được phản ánh, góp phần khắc họa rõ nét tính cách nhân vật, số phận từng cá nhân

+ Nhân vật được miêu tả chi tiết và sinh động trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh, với môi trường xung quanh

+ Ngôn ngữ truyện gần với ngôn ngữ đời sống Truyện sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau như ngôn ngữ người kể chuyện (lời kể khi thì ở bên ngoài, khi lại nhập vào lời nhân vật); ngôn ngữ nhân vật (lời đối thoại, lời độc thoại nội tâm)

- Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Tuân:

+ Truyện ngắn của Nguyễn Tuân viết theo khuynh hướng văn học lãng mạn Do

đó, những phương tiện, biện pháp, cách thức thể hiện cái nhìn lãng mạn của nhà văn trước cuộc đời, một cái nhìn mang đậm màu sắc chủ quan, đầy cảm xúc và ít nhiều có tính chất

- Tùy bút: là tác phẩm văn xuôi tự sự cỡ nhỏ, có cấu trúc phóng túng, nhà văn viết về

một “sự thực” nào đó để thể hiện những ấn tượng suy nghĩ cá nhân về những sự việc, những

vấn đề cụ thể và thể hiện quan điểm về nghệ thuật, về cuộc sống

- Đặc điểm của tùy bút:

+ Tùy bút thiên về biểu cảm, chú trọng thể hiện cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của tác giả trước các hiện tượng và vấn đề của cuộc sống

+ Trong tuỳ bút, cái tôi tác giả đa dạng, tài hoa, nên thể loại nào, tác phẩm nào cũng

có những nét độc đáo riêng

+ Ngôn ngữ của tuỳ bút giàu hình ảnh và giàu chất thơ

- Đặc điểm tùy bút Nguyễn Tuân

Trang 10

+ Tựy bỳt của Nguyễn Tuõn rất đậm chất kớ Ghi chộp sự thật và thụng tin thời sự, chớnh xỏc, đú là nột riờng của tựy bỳt Nguyễn Tuõn Cũng do quan niệm đi, sống và viết,

xờ dịch nờn tựy bỳt của ụng pha chỳt du kớ, kớ sự hay phúng sự điều tra Chớnh nột riờng này khiến tựy bỳt của ụng cú lượng thụng tin đỏng tin cậy và cú nhiều giỏ trị tư liệu

+ Tựy bỳt của Nguyễn Tuõn giàu tớnh trữ tỡnh Những trang viết của Nguyễn Tuõn giàu tớnh cảm xỳc, lắng thấm những cảm nghĩ của nhà văn, thụng qua cỏi “Tụi” chủ quan

mà phản ỏnh hiện thực cuộc sống

+ Tựy bỳt của Nguyễn Tuõn cú phẩm chất văn chương qua sự tỡm tũi sỏng tạo về cỏch diễn ý, tả cảnh, dựng từ, đặt cõu Cõu văn trong tựy bỳt của Nguyễn Tuõn cú kiến trỳc đa dạng, giàu nhạc tớnh, giàu giỏ trị tạo hỡnh

+ Tựy bỳt của Nguyễn Tuõn là sự kết tinh tài hoa và uyờn bỏc, khi tập trung miờu tả

“sự thực” bằng sự huy động vốn liếng tri thức chuyờn mụn cực kỳ giàu cú của nhiều ngành văn húa nghệ thuật khỏc nhau (sử học, địa lớ học, quõn sự, vừ thuật, vũ đạo, văn chương, hội họa, điờu khắc, õm nhạc, điện ảnh…)

- Khắc họa thành công hình t-ợng Huấn Cao, con ng-ời tài hoa, cú cái tâm trong sáng, khí phách hiên ngang

- Bộc lộ quan niệm

về cái đẹp, tấm lòng yêu n-ớc thầm kín

- Tạo dựng được tỡnh huống truyện độc đỏo, ộo le

- Kể chuyện, kết cấu tình tiết, lời thoại độc thoại, khắc hoạ nhân vật

Trang 11

đến sự toàn thiện, toàn mĩ”

ng÷, uyªn b¸c vÒ lÞch sö, x· héi

Người lái đò sông

- “Người lái đò sông Đà” là một

trong những áng văn tiêu biểu nhất của tập Sông Đà (1960) – thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc

- Ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người Tây Bắc

- Những người lao động bình dị nhưng

có thể làm nên những chiến công phi thường trong cuộc chinh phục thiên nhiên và là người nghệ sĩ tài hoa trong nghề nghiệp của mình

- So sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo

- Nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp

→ Cho thấy công phu lao động khó nhọc, cùng sự tài hoa uyên bác của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân trong cách dùng từ, đặt câu,… để tạo nên bức tranh kì vĩ của cuộc sống và những

kì tích lao động của con người

Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:

- Tài hoa uyên bác

- Hướng tới cái khác thường, phi thường

- Con người và sự vật được khám phá

ở phương diện văn hóa thẩm mĩ

Trang 12

2.2 Cách thức tổ chức hoạt động hướng dẫn HS khai thác những tri thức trong tác phẩm của Nguyễn Tuân

2.2.1 Hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà

a Yêu cầu:

- Tìm hiểu về tác giả, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật của nhà văn

- Tìm hiểu về tác phẩm, xuất xứ, hoàn cảnh ra đời

- Đọc văn bản, tóm tắt văn bản

- Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của văn bản

- Phân chia nhóm: Tiến hành phân nhóm và giao nhiệm vụ cho nhóm theo năng lực,

sở trường Cung cấp các biểu mẫu, gợi ý cụ thể cho từng nhóm (hệ thống câu hỏi,bài tập Phụ lục 1, 2) Thường xuyên theo dõi, giám sát lịch trình hoạt động của học sinh, có sự tư vấn, điều chỉnh hoạt động khi cần thiết

b Cách thức tổ chức:

- HS nhận nhiệm vụ và thực hiện nhiệm vụ GV giao

- Sử dụng máy tính kết nối internet để tra cứu tài liệu, down load tư liệu (sưu tầm một số tranh, ảnh, clip liên quan đến văn bản)

- Sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản định dạng file word để trả lời nội dung câu hỏi, bài tập

- Sử dụng phần mềm power point soạn bài trình chiếu minh hoạ (thuyết minh ngắn gọn cho cả lớp cùng nghe)

- Sử dụng sơ đồ tư duy, có thể trình bày trên khổ giấy A0

- Vẽ tranh minh họa cho nội dung bài học

- Sưu tầm các đánh giá, nhận xét, lời bình có giá trị và uy tín về văn bản, về vẻ đẹp con người cũng như tài năng viết văn của Nguyễn Tuân

2.2.2 Hướng dẫn dạy học ở trên lớp

a Yêu cầu

- Vận dụng kết hợp và linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tổ

chức hoạt động đọc hiểu văn bản

- Vận dụng kết hợp các kĩ năng đọc để tổ chức hoạt động đọc hiểu văn bản, trong đó chủ chốt là các kĩ năng đọc chính xác, đọc diễn cảm, đọc phân tích, đọc bình luận, đọc so sánh, đọc tích lũy, đọc kết nối

- Hướng dẫn HS biết huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân, là những

Trang 13

hiểu biết về chủ đề của tác phẩm hay những hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề của tác phẩm, để giải quyết các nhiệm vụ học tập

- Hướng dẫn HS tham gia các tình huống học tập mới để rèn kĩ năng, để thể hiện suy nghĩ, quan điểm của bản thân về tác phẩm và các vấn đề đặt ra trong tác phẩm

- Hướng dẫn HS thực hiện các bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu và làm văn

b Cách thức tổ chức

Bước 1: Hướng dẫn HS cảm nhận vẻ đẹp của các hình tượng nghệ thuật trong VB

- Trước hết, hướng dẫn HS đọc diễn cảm để cảm nhận được giọng điệu của tác giả

thể hiện trong văn bản:

Mục tiêu: GV hướng dẫn HS đọc diễn cảm đúng và hay để người đọc cảm thụ và

hiểu sơ bộ về tác phẩm, quan điểm, ý đồ tác giả, phải thâm nhập, nhìn thấy bên trong thế giới hình tượng hiện lên sinh động đập vào mắt, phải lắng nghe cái thần, cái giọng của bài văn để điều chỉnh giọng đọc cho tương ứng với giọng điệu, sắc điệu của bài văn Và khi đọc diễn cảm phải kích thích quá trình tâm lý cảm thụ bên trong của HS, khơi gợi ở HS sự tri giác, hình dung tưởng tượng, liên tưởng, nhập thân, cảm xúc, giúp HS nhìn thấy bên trong một cách sáng rõ cái đã đọc được, nghe được, gợi lên những tình cảm và ấn tượng thẩm mỹ nhất định

Để đạt được mục tiêu này, GV nên sử dụng hệ thống câu hỏi cảm xúc cho hoạt động

này Chẳng hạn, khi đọc VB Chữ người tử tù, người đọc nhận ra giọng điệu ngợi ca, thể hiện

cái nhìn trân trọng, mến yêu của nhà văn đối với hai nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục

Hay khi đọc VB Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, dễ dàng nhận thấy giọng điệu ngợi

ca đầy tự hào của tác giả khi viết về vẻ đẹp của con sông Tây Bắc

Do đó, GV có thể nêu câu hỏi:

Câu 1: Ấn tượng nhất của em về đoạn văn (hoặc VB) mà em vừa đọc?

Câu 2: Từ việc đọc diễn cảm, em nhận thấy tình cảm của tác giả với nhân vật Huấn Cao/ viên quản ngục/ sông Đà như thế nào?

Câu 3: Qua đoạn văn, em có những tưởng tượng ban đầu như thế nào về vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao/ nhân vật viên quản ngục/ sông Đà?

Câu 4: Tác giả đã sử dụng bút pháp nghệ thuật nào để miêu tả nhân vật?/ Nhà văn đã lựa chọn những điểm nhìn nào để miêu tả dòng sông Đà?

Trang 14

Trong tác phẩm Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã xây dựng nên hai hình tượng Huấn

Cao và viên quản ngục bằng bút pháp lãng mạn và thủ pháp đối lập đã làm nổi bật lên vẻ đẹp trong tâm hồn của cả hai nhân vật

Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã có sự lựa chọn điểm nhìn một cách

đa dạng Có khi trong tâm trạng của một khách lãng du đi thuyền trên sông Đà, khi thì như một người đi rừng dài ngày khao khát được gặp lại sông Đà, khi thì trên tàu bay mà say mê nhìn xuống dòng nước sông Đà, Chính điều này tạo nên sự đa dạng về điểm nhìn trong tùy bút Nguyễn Tuân Do đó, con sông Đà được Nguyễn Tuân cảm nhận ở hai phương diện đối lập nhau Đó là con sông Đà hung bạo và trữ tình

- Hướng dẫn HS đọc phân tích hình tượng nghệ thuật qua các chi tiết nghệ thuật

đặc sắc để thấy được chiều sâu ý nghĩa của VB:

Mục tiêu: Nếu đọc chính xác cho kết quả là lớp nghĩa hiển ngôn thì kĩ năng đọc phân

tích sẽ cho kết quả là lớp nghĩa hàm ẩn của VB Do đó người đọc cần biết cách dựa trên các nghĩa hiển ngôn và sự liên kết với bối cảnh của VB mà thực hiện các thao tác suy ý để tìm

sẽ được tư duy, liên tưởng, phân tích kĩ khi đọc phân tích

Do đó, GV cần sử dụng hệ thống câu hỏi để HS phát hiện và giải mã các tín hiệu nghệ thuật của VB (theo nguyên tắc từ dễ đến khó):

Câu 1: Đối tượng trần thuật ấy được tác giả miêu tả với những ấn tượng đặc biệt nào? Câu 3: Liệt kê các hình ảnh, chi tiết, câu văn mà tác giả dùng để miêu tả đối tượng đó Câu 4: Cảm nhận của em về một số hình ảnh, câu văn mà em cho là quan trọng nhất trong việc khắc họa vẻ đẹp của hình tượng

Câu 5: Thử nhắm mắt lại và tưởng tượng tâm trạng (bức tranh) mà nhân vật vừa trải qua (hoặc vừa chứng kiến)

Câu 6: Các biện pháp nghệ thuật được dùng khi trần thuật có ý nghĩa như thế nào đối

Trang 15

với việc thể hiện tư tưởng của nhà văn?

Câu 7: Sức hấp dẫn của tác phẩm xét đến cùng là sức hấp dẫn của cái Tôi tác giả Cái Tôi nhà văn Nguyễn Tuân hiện lên trong VB là người như thế nào? Nêu khái quát những

ấn tượng tiêu biểu nhất của em?

Trong tác phẩm Chữ người tử tù, Huấn Cao là nhân vật chính, là linh hồn của tác

phẩm, là biểu tượng đẹp đẽ của 3 yếu tố liên hoàn: tài hoa, khí phách, thiên lương Huấn Cao được thăng hoa trong một cảm hứng lãng mạn, bay bổng khiến vẻ đẹp của nhân vật đạt đến mức phi thường, siêu phàm

Huấn Cao là người có tài hoa, khí phách, thiên lương hơn người Nguyễn Tuân đặc biệt nhấn mạnh ở Huấn Cao tài viết chữ đẹp Huấn Cao là người có tài viết chữ rất nhanh

và rất đẹp, nét chữ mang vẻ đẹp của một bậc tài hoa tài tử: “Những nét chữ vuông vắn tươi

tắn nói lên hoài bão tung hoành của một đời con người” Tài hoa ấy đạt đến mức đặc biệt

khác thường được Nguyễn Tuân coi là báu vật “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một

báu vật trên đời” Cảm hứng này đã chi phối đến cách dùng chữ của Nguyễn Tuân: “Chữ Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm” Chữ “lắm” đã góp phần tô đậm vẻ tài hoa, khác thường

của Huấn Cao, biến ông thành một nghệ sĩ thực thụ

Ông Huấn là người có tài nhưng lại dám từ bỏ công danh để xả thân cho đại nghĩa, phất cờ dấy binh chống lại triều đình trở thành kẻ đại nghịch, bị khép vào tội đại hình Vậy

mà, ông bước vào nhà ngục với tư thế ung dung, đường hoàng đến khinh bạc, có thái độ

coi khinh quản ngục “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều Là nhà ngươi đừng

đặt chân vào đây” Khí phách của Huấn Cao làm cho quyền lực cũng phải kính nể Bị Huấn

Cao xua đuổi, quản ngục chỉ nhã nhặn “Xin lĩnh ý” Câu nói ấy đã nâng Huấn Cao lên hình

tượng người anh hùng, khiến hình ảnh Huấn Cao càng lộng lẫy hơn

Huấn Cao còn là người có tâm hồn trong sáng, cao đẹp Ông Huấn có một câu nói

mang một quan niệm nhân sinh kiêu hãnh “Ta nhất sinh không vì vàng bạc hay quyền thế

mà ép mình viết câu đối bao giờ” Với câu nói ấy, Huấn Cao xứng đáng là một nhân cách

lớn vì chỉ có nhân cách lớn mới biết bảo vệ cái đẹp trước sức mạnh thô bỉ của vàng ngọc, quyền thế Do cảm tấm lòng biệt nhỡn liên tài và hiểu ra sở thích cao quý của quản ngục,

Huấn Cao đã nhận lời cho chữ “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡ liên tài của các người Nào

ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” Đây là một lời sám hối cao

quý, vì không chỉ nhìn thẳng vào lỗi lầm của mình mà còn bộc lộ một cái nhìn sâu sắc luôn

Trang 16

biết hướng cái đẹp tới chỗ sáng nhất của nó Con người ấy không sợ quyền uy, không sợ chết nhưng lại sợ phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ

Tính cách cao quý đó của Huấn Cao lại đặt trong nhà tù, trong lúc cận kề với cái chết Tác giả cố ý miêu tả bằng cách tương phản giữa tính cách cao quý của Huấn Cao với cái

dơ dáy, bẩn thỉu của nhà tù, một hình ảnh thu nhỏ của xã hội bấy giờ, nhằm kín đáo bộc lộ niềm phẫn nộ của chính mình đối với xã hội thời ông sống Đồng thời cũng thể hiện quan điểm thẩm mĩ của mình, đó là cái đẹp phải gắn liền với cái thiện, cài tài phải gắn với cái tâm

Cùng với nhân vật Huấn Cao, viên quản ngục cũng là nhân vật chính trong tác phẩm được Nguyễn Tuân dành nhiều tình cảm yêu mến, trân trọng Viên quản ngục sống trong một môi trường với những kẻ cặn bã, nơi mà người ta sống bằng tàn nhẫn và lừa lọc, nơi

mà bóng tối và cái ác ngự trị nhưng ông vẫn giữ được một tấm lòng trong sáng, thuần khiết

“Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã và những

người có tâm điền tốt và thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”

Không chỉ có tâm hồn trong sáng, tính cách dịu hiền, viên quản ngục còn có tấm lòng biết giá người, biết trọng người ngay Khi đối diện với Huấn Cao, quản ngục đã quên đi

chức trách của một nhà hành pháp “Hôm nay, viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào

với cặp mắt hiền lành Lòng kiêng nể tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi Khi kiểm điểm phạm nhân ngục quan lại còn có biệt nhỡn riêng đối với Huấn Cao” Ông còn hậu

đãi Huấn Cao và những người bạn đồng chí của Huấn Cao nữa Thậm chí khi bị Huấn Cao

sỉ nhục, ông cũng chỉ “Xin lĩnh ý” Ông cho rằng Huấn Cao là người “chọc trời quấy nước,

đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi là cái thứ mình chỉ là kẻ tiểu lại giữ tù” Quản ngục đã thực sự coi Huấn Cao là một người anh hùng chứ

không phải là một kẻ đại nghịch như cái nhìn thông thường của những kẻ đại diện cho quyền lực phong kiến Dù Huấn Cao là một kẻ tử tù đã bị dồn vào thế “hổ sa cơ” nhưng quản ngục vẫn trân trọng Huấn Cao và nhìn nhận đúng giá trị thật của con người này Chính

tấm lòng “biết giá người”, “biết trọng người ngay” của viên quan coi ngục đã cảm hóa

được Huấn Cao và làm con người này cảm động Lúc đầu Huấn Cao coi thường con người

nay Nhưng sau hiểu ra tấm lòng của quản ngục, ông đã đồng ý cho chữ vì sợ “phụ mất

một tấm lòng trong thiên hạ” Vì vậy, Nguyễn Tuân đã cho rằng: Quản ngục là “một thanh

âm trong trẻo xen giữa vào một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ” Nghệ thuật ẩn

dụ đầy chất thơ này đã làm nổi bật tấm lòng trong sáng của quản ngục bất chấp hoàn cảnh

Trang 17

Nếu Huấn Cao là người nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp thì viên quản ngục lại là người nghệ

sĩ say mê cái đẹp Ngay từ khi mới học vỡ nghĩa chữ thánh hiền, quản ngục đã khao khát

có được chữ Huấn Cao Ông coi chữ Huấn Cao như một báu vật trên đời Ông chỉ đau đáu

khát vọng xin chữ của Huấn Cao Ông “chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà

không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận cả đời” Phải nói rằng chuyện quản ngục xin chữ

người tử tù là chuyện xưa nay chưa từng có và nếu chuyện này đến tai quan trên thì ông

“khó mà ở yên” Vậy mà quản ngục chấp nhận cả việc hi sinh danh dự và tính mạng của

mình để đạt được sở nguyện ấy Điều đó chứng tỏ người giữ tù là người có đam mê cái đẹp khác thường

Đoạn văn miêu tả cảnh cho chữ nằm ở phần cuối của tác phẩm, có thể nói là trác tuyệt nhất thể hiện sự tài hoa của ngòi bút Nguyễn Tuân cũng như tôn vinh những vẻ đẹp rực rỡ của nhân vật Huấn Cao và quản ngục Có thể ví cảnh cho chữ giống như một khúc vĩ thanh vừa bay bổng, vừa lãng mạn, vừa lắng đọng nhiều tình cảm sâu sắc trong lòng người đọc

của bản giao hưởng Chữ người tử tù Người nghệ sĩ Huấn Cao phải phô tài trong cảnh ngộ

oái oăm “Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván” và ngày mai bị hành hình Đây là một trường hợp phi thường hiếm có Nhưng trong hoàn cảnh ấy, người nghệ sĩ vẫn giữ một tâm thế thật thanh thản, tự do để sáng tạo cái đẹp Trong khoảnh khắc ấy, không phải người giữ tù làm chủ

mà chính là người tù làm chủ tạo ra một cuộc đảo lộn vị thế xã hội xưa nay chưa từng có

Quản ngục thì “khúm núm”, thầy thơ lại thì “run run bưng chậu mực” trong khi người tử

tù Huấn Cao lại đường hoàng, uy nghi “dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh” Ở đây,

người có quyền hành lại trở thành không có uy quyền, người đáng ra phải sợ sệt thì đường hoàng, đĩnh đạc; người đáng ra không phải sợ sệt thì khúm núm, run run Người sinh ra để

đi giáo dục người khác lại bị người khác giáo dục; người tù cần được giáo dục thì lại đi giáo dục quản ngục Rõ ràng, cảnh tượng và sự thay đổi vị thế xã hội ấy ngầm chứa một triết lí: “Cái đẹp là cái chiến thắng” Đó là sự chiến thắng vinh quang của ánh sáng và cái thiện ở ngay trong sào huyệt của bóng tối và cái ác Huấn Cao cho chữ viên quản ngục không chỉ là đem một tấm lòng để đền đáp một tấm lòng hay chia sẻ cái đẹp với người tri

kỉ mà để nâng đỡ một tấm thiên lương Lời khuyên của Huấn Cao với Quản ngục: “Tôi bảo

thực đấy Thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở Thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó mà giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi” Trước lời khuyên của Huấn Cao, quản ngục

Trang 18

đã cúi đầu “vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng

làm cho nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” Đây là chi tiết nghệ thuật đạt đến

“thần bút” Trong cuộc sống có những cái cúi đầu làm con người ta trở nên hèn nhát, yếu đuối nhưng cũng có cái cúi đầu lại làm ngời sáng lên nhân cách Cái cúi đầu của quản ngục chính là sự nghiêng mình kinh cẩn, niềm xúc động vô ngần của người nghệ sĩ trước cái đẹp Bên cạnh đó, cảnh cho chữ cũng thể hiện sự hội tụ của ba con người, ba tâm hồn cô đơn, buốt giá Nếu như mở đầu tác phẩm, Huấn Cao, quản ngục và thầy thơ lại chỉ là ba đốm sáng buốt giá thì đến cảnh cho chữ này họ đã trở thành tri âm tri kỉ trong tình yêu và

sự sùng bái cái đẹp

Trong tác phẩm Người lái đò sông Đà, con sông Đà hiện ra dữ dội hiểm trở đã từng

gây bao nhiêu tai họa cho con người nhưng đồng thời nó cũng có một vẻ đẹp thật thơ mộng trữ tình Mở đầu thiên tùy bút, Nguyễn Tuân đã liệt kê ra một loạt những con thác hung

dữ Nhưng cái đáng sợ của sông Đà đâu chỉ phải ở những con thác hiểm trở mà còn thể hiện ở cái quang cảnh hùng vĩ, hoang sơ của dòng sông chảy giữa điệp trùng của rừng núi Tây Bắc Ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân thật phóng túng, linh hoạt như một nhà quay phim lão luyện

Sông Đà hiện lên là dòng sông hung bạo, lắm thác ghềnh, ngỗ ngược, không chảy

theo khuôn khổ Vẻ đẹp hiểm trở, nguy hiểm của sông Đà được tác giả viết “đá ở sông,

dựng vách thành, mặt sông lúc ấy chỉ lúc đúng giờ ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu, có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia” Tác giả đã diễn tả cảm xúc khi đi qua đoạn sông này “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy như mình trên cái tầng nhà thứ mấy vừa vụt tắt điện.” Một lối so sánh độc đáo, đầy táo báo và cũng không

kém phần tinh tế Sông Đà đẹp, nhưng vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại và nguy hiểm

Tuy nhiên, bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở, nguy hiểm, sông Đà còn hiện lên thật

nên thơ và trữ tình biết bao nhiêu Qua ngòi bút tinh tế của Nguyễn Tuân “sông Đà tuôn

dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mùa khói Mèo đốt nương xuân” Thật tài hoa và

trữ tình, một hình ảnh tuyệt đẹp hiện lên giữa núi rừng Tây Bắc Sông Đà có những lúc buồn mênh mang và hoang sơ đến kì lạ Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử

Đó là vẻ đẹp con sông Đà, bên cạnh còn là vẻ đẹp con người nơi đây, cụ thể là ông lái đò Bao nhiêu đam mê, yêu quý sông Đà của Nguyễn Tuân được gửi gắm vào ông lái

Trang 19

đò Chính vì thế nhà văn đã để nhân vật của mình gắn bó với sông Đà đến mức máu thịt, ông lái đò có thể hiểu và yêu dòng sông đến mức thuộc lòng từng tên thác tên ghềnh, hơn một nghìn tên Trong cách miêu tả của Nguyễn Tuân, ông lái đò thuộc dòng sông như thuộc một bản trường ca, thuộc đến từng dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm than và từng đoạn xuống

dòng “Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật

phục kích của lũ đá nơi ải nước”.Người lái đò là người lao động bình thường bằng xương

bằng thịt nhưng với trí dũng song toàn nên ông vẫn chiến thắng được thiên nhiên nghiệt

ngã Qua “Người lái đò sông Đà” chúng ta càng khẳng định được rằng Nguyễn Tuân là

nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ca ngợi người lao động trong gian lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang, điển hình là hình tượng ông lái đò Người lao động hiện lên với vẻ đẹp tài

hoa và như một nghệ sĩ thực thụ với nghề của mình

- Hướng dẫn HS bình luận về nghệ thuật sử dụng ngôn từ để thấy được sự sáng tạo

của nhà văn:

Mục tiêu: Một phương diện giúp khẳng định phong cách của bất cứ nhà văn nào, mà

chúng ta không thể bỏ qua, đó là nghiên cứu yêu tố ngôn từ - chất liệu cơ bản để sáng tạo nên tác phẩm văn chương mà nhà văn đã vận dụng một cách nghệ thuật

GV giúp HS đọc xâu chuỗi ý nghĩa giá trị nghệ thuật hài hòa giữa sự thực đời sống,

điểm nhìn nghệ thuật và giọng điệu, văn phong của tác giả Đọc trọn vẹn VB và đưa ra những lời bình của cá nhân bạn đọc HS về giá trị nghệ thuật của VB

Đối với Nguyễn Tuân việc sử dụng ngôn từ lại càng đặc biệt được quan tâm Bởi lẽ chính nhà văn đã rất coi trọng việc sử dụng ngôn từ khi ngồi trước trang giấy trắng Ông từng viết: “Chúng ta vẫn đắm đuối với nghề làm văn, ngày càng chuốt thêm văn tự, ngày càng làm óng tốt dẻo bền hơn lên nữa cái tiếng nói Việt cổ truyền của mình” [1 – 137] Với

ý thức cao như vậy nên ông luôn “tự học” để trang bị cho mình vốn ngôn từ phong phú, giàu có để sử dụng một cách thoải mái trong lúc hành nghề Tố Hữu nhận xét Nguyễn Tuân

là “người thợ kim hoàn của chữ” [2 – 196] Và rất nhiều các nhà văn nhà thơ khác cũng dành lời khen trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân như Lại Nguyên Ân: “con người ông, phong cách của ông cũng đẹp một cách độc đáo như câu văn ông, loại câu văn

có một không hai trong nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt” [2 – 564] Để có được những lời tán dương như vậy Nguyễn Tuân phải trải qua một đời “sẵn sàng chịu khổ hạnh” để góp phần vun tưới cho “cái cây tiếng nói Việt Nam” ngày càng nhiều cành, nhiều lá, nhiều hoa trái hơn, càng như một cây nêu Tết kì diệu lung linh

Trang 20

Nét độc đáo trong ngôn từ nghệ thuật của văn chương Nguyễn Tuân, trước hết, là ông biết khai thác tín hiệu âm thanh của tiếng Việt đơn âm tiết, nhưng lại đa thanh điệu, tạo cho câu văn giàu tính nhạc vang hưởng chất thơ Những năm trước và sau thập kỉ sáu mươi, Nguyễn Tuân chuẩn bị len lỏi giữa rừng núi Tây Bắc đại ngàn Với tình yêu rừng da diết, nhà văn như đang nghe giai điệu rừng dội từ vách đá, vọng xuống lũng sâu, cộng hưởng vào tâm hồn chan chứa thơ nhạc của người hành bộ - nghệ sĩ Nguyễn Tuân Đoạn miêu tả

“thác nước” và “thạch trận” sông Đà: âm thanh dữ dội, đầy những tiếng réo gào: “Còn xa

lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên”

Tiếng thác được ví như tiếng rống của “một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng

vầu tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” Người đọc cảm nhận thấy sự lồng lộn, giận dữ của một con sông qua một thứ

ngôn từ có sức sống, có màu sắc Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh Hay khi miêu tả

nước cũng gợi lên âm thanh: reo hò vang dậy, làm thành viên đá để bẻ gãy cán chèo, vũ

khí trên tay ông đò…Nguyễn Tuân rất có tài khai thác sức gợi về mặt ý nghĩa tạo ra bởi

mặt âm thanh của ngôn từ Chẳng hạn khi nhà văn miêu tả viên quan coi ngục “Người ngồi

đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư

lự, bây giờ đã biến mất hẳn Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân bằng lặng, kín đáo

và êm nhẹ” Đây là hình ảnh ẩn dụ đẹp, nhẹ nhàng nhưng vô cùng độc đáo đem đến cho

người đọc cảm nhận về tính cách dịu dàng, tâm hồn trong sáng của ngục quan Và cách đặt tên cũng là một thủ pháp quan trọng Vũ Trọng Phụng có cái tài trào lộng loại người tha hóa về mặt đạo đức, băng hoại về lương tâm và nhân phẩm bằng cách đặt cho chúng những cái tên hoa mỹ như Văn Minh, Phó Đoan, Tuyết,… Trong khi đó, Nguyễn Tuân lại châm biếm bọn ưng khuyển…nhưng nhiều khi Nguyễn Tuân cũng không đặt tên cho nhân vật của mình mà chỉ gọi tên nhân vật với nghề nghiệp của họ như ông lái đò, viên quản ngục, thầy thư lại,… Ngay cả việc gọi tên viên quản ngục, nhà văn cũng sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau như ngục quan, viên quan coi ngục, tiểu lại giữ tù, thầy Quản… đã làm toát lên vốn từ ngữ của ông

Câu văn của Nguyễn Tuân đan chéo nhau các phương chiều của không gian và thời gian qua liên tưởng miên man của tác giả, như những thước phim điện ảnh, hội tụ nhiều mảng không gian, đồng hiện nhiều khoảnh khắc thời gian, tạo ra hình ảnh đối lập sinh

động Chẳng hạn như đoạn văn miêu tả cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục “Trong

một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi

Trang 21

lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ…”,

“Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng

tinh căng trên mảnh ván Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực” Ngòi bút dựng cảnh, dựng người của Nguyễn Tuân rất giàu

chất tạo hình đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện, sắc sảo đã làm nổi bật vẻ đẹp của người nghệ sĩ, của người anh hùng Huấn Cao Đồng thời cũng làm nổi bật được sự ngưỡng

mộ, say mê trước cái đẹp đang được khai sinh của viên quản ngục và thầy thơ lại Đặc biệt

là cái vái lạy của viên quan coi ngục trước lời khuyên của Huấn Cao “Ngục quan cảm động,

vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” Đây là chi tiết nghệ thuật đã đạt đến thần bút

Trong cuộc sống có những cái cúi đầu làm con người ta trở nên hèn nhát, yếu đuối nhưng cũng có cái cúi đầu lại làm ngời sáng lên nhân cách Cái cúi đầu của quản ngục chính là sự nghiêng mình kinh cẩn, niềm xúc động vô ngần của người nghệ sĩ trước cái đẹp Và với cách miêu tả này, Nguyễn Tuân không chỉ làm nổi bật tính cách của các nhân vật, mà còn tái hiện được một cách tài tình không gian cổ kính, mang hình ảnh của thời kì xa xưa, một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc Nằm trên mỏ than Quỳnh Nhai nhà văn viết: “Tôi nằm đây là nằm trên những biến thiên biển xanh nương dâu, trên những xác rừng

cổ đại nay khai ra đốt sáng miền Bắc kiến thiết tổ quốc trong đó mỏ châu Quỳnh Nhai có cái vinh quang được góp phần than lửa của mình” Nói đến ngôn từ Nguyễn Tuân không thể nói đến tín hiệu đặc trưng của thể loại kí Đó là tính khoa học nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao của tác giả thể hiện trong trang viết Những tên người, tên đất, con số, sự kiện địa lý – lịch sử Việt được nhà văn tra cứu kĩ lưỡng trước khi định hình trong câu văn Nguyễn Tuân cho rằng: “Tôi vẫn cho địa lí quan trọng hơn lịch sử Khoa học của lịch sử kích thích tinh thần quốc tế và bồi dưỡng nhiều cho lòng yêu nước Do có kiến thức lịch

sử mà tấm lòng càng gắn bó với đất nước Những cái đó cũng dễ thành một ý niệm trừu tượng nếu không có sự bổ túc của khoa địa lý Muốn yêu đất nước tổ tiên mình cho thật đầy đủ, thì phải đi bằng hai chân cả lịch sử và địa lý Muốn thật yêu một vùng nào, một tấm lòng thôi chưa đủ, phải có đôi chân nữa Không có sự phối hợp của địa lý; mà chỉ có toàn lịch sử thôi thì khác chi thấy bóng rồi mà chưa lần ra cho hết cái hình Tư tưởng nghiêm túc này đã chỉ đạo ngòi bút của Nguyễn Tuân viết nên những trang ký chân thực, khách quan về sự kiện, sâu sắc về bình giá và đậm đà về tình cảm

Trang 22

Những sáng tạo về ngôn ngữ được dùng trong các lĩnh vực khác nhau trong các trang văn của Nguyễn Tuân cũng chính là những thông tin khoa học mà văn bản cũng cấp cho bạn đọc Tiêu biểu đoạn miêu tả ông đò chiến đấu qua ba trùng vi Để làm nổi bật vẻ đẹp

và hình tượng của người lái đò nhà văn đã sáng tạo ra một đoạn văn tràn đầy không khí trận mạc, tưởng tượng ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa người lái đò và bầu thủy quái trên

sông Đà nham hiểm, xảo quyệt “Thạch trận dàn bày vừa xong cái thuyền vụt tới” Đó là

trận địa bằng đá Tác giả tưởng tượng ra sông Đà bày thạch trận để đón đánh người lái đò

Hay những câu văn đậm chất quân sự “Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du kích ấy vẫn

chọc thủng được tuyến hai, thì nhiệm vụ của boong – ke chìm vào pháo đài đá nổi ở tuyến

ba phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên…” Các cụm từ “du kích”, “boong – ke” – một kiểu lô cốt thường xây chìm của Pháp, “pháo đài”, … được Nguyễn Tuân sử

dụng một cách sáng tạo, chính xác, tăng cảm giác căng thẳng như một cuộc chiến đấu thực

sự trên chiến trường sông nước Cách dùng từ trong kiến thức quân sự có tác dụng gợi trường liên tưởng giúp người đọc cảm nhận được sự mưu trí của ông lái đò

Trong tác phẩm của Nguyễn Tuân, giá trị ngôn ngữ được thể hiện rõ qua cách Nguyễn Tuân sử dụng sáng tạo ngôn ngữ Ngôn ngữ trong văn bản Nguyễn Tuân mới lạ, chính xác

cụ thể qua từng sự vật, từng cảnh mà Nguyễn Tuân miêu tả Chẳng hạn, sự vật trong tác

phẩm Chữ người tử tù được nói đến mang đậm chất cổ xưa với chiếc hèo hoa, giá gươm,

án thư, đĩa dầu sở, cây đèn nến, cây đèn đế, tập giấy bản đóng dấu son ti Niết, phiến trát, tiếng kiểng, tiếng mõ… Ở đó, nhà văn đã sử dụng khéo léo, tài tình và tinh tế các từ cổ,

từ Hán Việt để dựng lên một không gian nghệ thuật cổ xưa bằng cách dựng lại thế giới

những sự vật và cách miêu tả chúng Như miêu tả khung cảnh nhà lao “buồng tối chật

hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”; hay cảnh cho

chữ với hình ảnh: bó đuốc tẩm dầu sáng rực, tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ, chậu

mực thơm, đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ… Về cách dùng từ, khi miêu tả dòng sông trữ

tình trong Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã ví “như một áng tóc trữ tình” Mái tóc thường kết hợp với từ chỉ màu sắc, cấp độ, chữ “áng” để chỉ tác phẩm văn chương đẹp

Nhưng ở đây, nhà văn lại có sự kết hợp thú vị nói trên khiến sông Đà trở thành công trình tuyệt mỹ của tạo hóa Hay khi miêu tả ông đò kiên cường, nén chịu vết thương, Nguyễn

Tuân đã ví “mặt méo bệch đi” Không phải là “méo xệch” vì méo xệch chỉ miêu tả được

sự biến dạng của khuôn mặt, còn “méo bệch” vùa diễn tả được sự biến dạng của khuôn

mặt, vừa làm nổi bật nước da nhợt nhạt do sóng thác đánh vào Trong đoạn miêu tả sự hiểm

Trang 23

trở của sông Đà thể hiện ở chỗ “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu”

So sánh một bộ phận nhỏ, hẹp ở cổ họng con người, Nguyễn Tuân đã diễn tả một cách hình ảnh sự nhỏ hẹp của dòng chảy So sánh độc đáo của nhà văn khiến người đọc phải hình dung, tưởng tượng ra một quãng sông rất nhỏ Ở quãng ghềnh Hát Loóng nhà văn

viết”nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió…” thủ pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc lại

được hỗ trợ bởi các thanh sắc liên tiếp tạo nên âm hưởng dữ dội, khẩn trương, dồn dập như vừa xô đẩy, vừa hợp sức của gió, sóng, đã khiến cho mặt ghềnh như sôi lên, cuộn chảy dữ dằn Câu văn đang ở những nhịp ngắn bỗng duỗi ra theo lỗi tăng tiến khiến cho những chuyển động của sóng, gió và đá cầng lớn, càng bức thúc tạo nên mối đe dạo thực sự với

bất kì người lái đò nào Viết về cảnh ven bờ sông Đà “bờ sông hoang dại như một bờ tiền

sử”, câu văn so sánh đầy sự mới lạ, gợi sự tĩnh lặng, hoang sơ, thanh bình của bờ sông Đà

Nguyễn Tuân còn nhìn sông Đà “như một cố nhân” gợi chất trữ tình đằm thắm, ấm áp của

sông Đà Nhà tùy bút Nguyễn Tuân đã vận dụng so sánh liên tưởng, liên hệ cổ kim, thơ phú rất tự nhiên Đoạn miêu tả bờ sông Đà Nguyễn Tuân quan sát khi đi thuyền trên sông

có 15 câu thì 12 câu được kết thúc bằng thanh bằng Đó là còn chưa kể câu đầu tiên cả 6/6 chữ đều là thanh bằng khiến nhịp điệu câu văn trở nên mềm mại nhữ duỗi, diễn tả rất đạt dòng chảy lững lờ, êm đềm của sông Đà khi ra xa thượng nguồn

Trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân đã sử dụng ngôn ngữ rất tinh

tế và độc đáo nhằm khai thác hết những giá trị mà ngôn từ mang lại Thông qua lớp ngôn

từ trong văn bản mà tác giả gợi lên cho người đọc không chỉ âm thanh của con thác, của tiếng nước chảy, xô đập vào nhau của những hòn đá ẩn mình dưới lòng sông, tiếng gầm của thác, tiếng va đập của mái chèo vào vách đá,… Không chỉ là âm thanh, mà hình ảnh hiện lên rất sinh động và chân thật, sắc nét Ông đã dùng sức mạnh điêu luyện của ngôn ngữ để truyền hồn sống vào từng khối đá sinh động, biến chúng thành bầy thạch tinh hung hãn trong cuộc giao tranh với con người Tả về thiên nhiên dữ dội, khủng khiếp cũng chỉ

để tôn vinh sức mạnh, lòng quả cảm, sức kì vĩ của con người trong cuộc chinh phục thiên nhiên, đồng thời đem lại cho người đọc cảm giác mới mẻ

Qua những tác phẩm của Nguyễn Tuân, ta thấy được nét tài hoa của ông Tác giả được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng tiếng Việt “Đó không phải là người viết mà là thần viết, thần mượn tay người viết nên những trang bất hủ” (Nguyễn Khải)

- Hướng dẫn HS xác định ý nghĩa nhân sinh và tư tưởng nghệ thuật của văn bản:

Mục tiêu: Nhằm hoàn thiện giá trị chỉnh thể về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ

Trang 24

thuật của tác phẩm và tích luỹ tri thức công cụ, tri thức về kĩ năng để đọc hiểu các VB Hoạt động đọc này rất phù hợp khi hướng dẫn HS tổng kết bài học

Muốn tổ chức thành công hoạt động này GV cần hướng dẫn HS kĩ năng đọc bình luận Đọc bình luận là một kĩ năng thu nạp trong nó nhiều thao tác có tính chất tổng hợp Mục tiêu hướng tới là tổng hợp kiến thức văn học và trải nghiệm cá nhân HS để có cái nhìn khái quát chỉnh thể tác phẩm, vừa để hình thành kĩ năng khái quát hoá nghệ thuật về giá trị nhân văn của tác phẩm kí Bình luận ở đây là sự thể hiện quan điểm, thái độ và khả năng khái quát một cách cao nhất của độc giả sau khi đọc hiểu VB Đồng thời, đây cũng là bước tổng hợp các tri thức thể loại, tri thức kĩ năng, kinh nghiệm để làm “công cụ” đọc hiểu các VB khác

Do đó, GV có thể hướng vào các nội dung:

+ Phát hiện, nhận định các giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh của VB + Đánh giá những phương diện nội dung mang ý nghĩa của VB

+ Phát hiện và đánh giá ý nghĩa, giá trị nghệ thuật của VB

Có thể nói, nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục là một sáng tạo rất mực sinh động, độc đáo của Nguyễn Tuân Được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn, đặt trong sự đối lập gay gắt giữa hoàn cảnh sống, vị trí xã hội với nhân cách cao đẹp, nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục đã làm sáng rõ tư tưởng của tác phẩm: Sự tôn vinh và ngợi ca cái đẹp Qua hai nhân vật này, Nguyễn Tuân đã thể hiện quan niệm của mình: Đối với ông khái niệm nghệ sĩ không chỉ dành cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật mà bất cứ ai điêu luyện trong lĩnh vực gì đều được gọi là tài hoa nghệ sĩ Mặt khác, với Nguyễn Tuân, cái đẹp phải gắn liền với cái thiện, thiên lương; chỉ dành cái đẹp cho những tấm lòng trong sáng, biết kính trọng nó, không thể đặt cái đẹp ở nơi bóng tối và cái ác ngự trị Hơn thế nữa, cái đẹp là cái chiến thắng, cái bất khả chiến bại, nó chứa đầy uy quyền làm đảo lộn trật tự xã hội thông thường và cái đẹp cũng đưa con người xích lại gần

nhau hơn Chữ người tử tù cũng thể hiện sự tôn vinh một nét đẹp trong văn hóa truyền

thống của dân tộc – nghệ thuật thư pháp

Còn với Người lái đò sông Đà, chúng ta thấy được vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên

núi rừng Tây Bắc cùng với đó làvẻ đẹp của người dân lao động nơi đây Đó là thứ vàng mười mà tác giả luôn đi tìm kiếm Với mỗi văn bản khi đến với bạn đọc việc quan trọng nhất là cung cấp thông tin thẩm mĩ cho người đọc, nhưng ở đây Nguyễn Tuân đã ngầm cung cấp thêm một số thông tin cơ bản khác như: thông tin địa lý, lịch sử, dự báo… đến với bạn đọc Bởi vậy mà ta càng khẳng định được nét tài hoa của tác giả

Trang 25

Bước 2: Hướng dẫn HS mở rộng vấn đề và liên hệ thực tế từ vấn đề đặt ra trong VB

Mục tiêu: GV giúp HS có những góc nhìn khác đối với VB, nghệ thuật hơn về những sự

vật, hiện tượng bình thường trong đời sống hàng ngày Mỗi VB bao giờ cũng có ý nghĩa thực tiễn với bạn đọc, có thể đơn giản là cung cấp vốn tư liệu, hình ảnh, kiến thức… Để thực hiện tốt hoạt động này, GV cần hướng dẫn HS liên hệ với những kiến thức của các môn thuộc các ngành học khác, kết nối với kinh nghiệm của bản thân để dự đoán tác động của văn bản, những dự kiến trong tương lai mà nhà văn đã nhìn một cách xa rộng hơn

Do đó, GV có thể sử dụng những câu hỏi nêu vấn đề hoặc gợi mở, so sánh, đối chiếu như:

+ Nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là uyên bác Mỗi trang văn

đều thể hiện vốn hiểu biết phong phú của ông về các lĩnh vực văn hóa, lịch sử, địa lí, quân

sự, hội họa, điện ảnh,… Anh/ chị hãy chứng minh điều đó qua các tác phẩm của nhà văn + Nguyễn Tuân đến sông Đà với mục đích trước tiên là tìm chất vàng của thiên nhiên Vậy, theo anh/ chị, nhà văn đã tìm thấy thứ vàng nào của con sông Đà nói riêng và thiên nhiên Tây Bắc nói chung đằng sau những biểu hiện hung bạo kia của Đà giang?

Lại hình dung một thế kỷ không xa

Thủy điện nuốt tươi sức phóng túng sông Đà

Đà đã gửi thần linh vào tùy bút Văn như thuyền độc mộc thác thăng hoa

- Nguyễn Vũ Tiềm -

Nguyễn Vũ Tiềm đã gửi gắm điều gì tới bạn đọc khi ông cảm nhận về tác phẩm Người

lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân?

Kiến thức địa lí:

Sông Đà (còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang), là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam để rồi nhập với sông Hồng Phú Thọ Sông Đà dài 910

km (có tài liệu ghi là 983 km)

Với sự hiểu biết của mình Nguyễn Tuân đã nói về xuất xứ của dòng sông Đà, đem đến cho bạn đọc một vốn hiểu biết phong phú về Đà giang: sông Đà bắt nguồn từ Vân Giang Trung Quốc, tính từ biên giới Việt – Trung tới ngã ba Trung Hà lượn rồng rắn 500 cây số Tên xưa là Li Tiên Chỉ qua một vài chi tiết nói về xuất xứ của sông Đà, ta thấy Nguyễn Tuân có một vốn hiểu biết sâu sắc về địa lý, lịch sử Ông tựa như người cha đẻ làm giấy khai sinh cho đứa con tinh thần của mình

Trang 26

Đọc tùy bút, hẳn chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi tác giả liệt kê tên các địa danh một cách chi tiết Không chỉ kể tên những con thác mà Nguyễn Tuân còn am hiểu “tính

nết” của từng con thác.“Cách biên giới Trung Quốc phía Vân Nam khoảng mười cây số là

thác Kẻng Mỏ Trên Rồi đến thác Sa La, thác Hát Vá, thác Mằn Lay Rồi Hát Nhạt, Mằn Thắm, Hát No Keo, Kẻng Mỏ Dưới Rồi đến Hát Lai, ở phía trên Lai Châu độ chín cây số Thuộc địa phận thủy phận Sơn La là những thác Hát Pi, Hát Soong Pút, Hát Soong Moong, Hát Pố, Hát Kếch, Hát Tran, Hát Moong, Hát Tiếu Qua Hát Tiếu (tiếng Thái chữ hát nghĩa là thác) người lái đò sông Đà hay có câu: “Qua thác Tiếu, dải chiếu mà nằm” với cái ý rằng thuyền đường trường xuôi khỏi đấy là đã có thể nhận định rằng khó khăn ghềnh thác đã căn bản hết rồi, người lái đò vẫn phải chèo chống, nhưng người hành khách đấp

đò có thể yên tâm trải chiếu ra mà nằm chờ mà đổ lên bến dưới Và từ Vạn Yên đến Chợ

Bờ, Hòa Bình, dòng sông lại lố nhố một số thác khác nó vẫn dọa người trên thuyền, nhưng tính chất đã bớt hung ác hơn cái đám thác Sơn La, Lai Châu”.[tr.276, Tt Nguyễn Tuân]

Nguyễn Tuân là một du khách đến thăm con sông Đà nhiều lần nhưng dù có đến thăm nhiều lần cũng ít ai có thể nhớ rõ tên được của từng con thác mà cách nhớ đó là nhớ theo thứ tự, theo dòng chảy của con sông Dù là người Tây Bắc cũng mấy ai quan tâm là có bao nhiêu con thác và qua mỗi đoạn khác nhau con thác nào dữ và con thác nào hiền? Phải chăng tình yêu thiên nhiên đất nước trong con người tác giả quá lớn để thôi thúc sự tìm tòi

để hiểu hơn về sông Đà Qua cách liệt kê trên mà ta thấy vốn hiểu biết của tác giả về kiến thức địa lý thật uyên bác Chính sự dữ dằn và đằm thắm của mỗi con thác đã làm nên vẻ đẹp riêng biệt của sông Đà Đâu chỉ có những cái tên đó, mà tác giả còn liệt kê ra nhiều

con thác hơn để cho bạn đọc thấy sự hùng vĩ của đất trời Tây Bắc như: Thác Ẻn, - Thác

Giăng, Bãi Chuối, Mó Sách, Bãi Lồi, Bãi Lành, Mó Tôm, Mó Nàng, Nánh Kẹp, Quai Chuông, Tả Phù, Bãi Nai, Ba Hòn Gươm, Phố Khủa, Ghềnh Đồng, Suối Bạc, Ổ Nhà, Bãi Nhạp, Cánh Cuốn, Mèo Quen, Hang Miến, Quần Gốc, Suối Trông, Bãi Ban, Diềm, Thác Rút, Thác Mẹ, Bãi Thằng Rồ, Mó Tuần, Suối Hoa, Hót Gió, Thác Bờ [tr 276 – 277, Tt

Nguyễn Tuân] Đó là tên những con thác, con ghềnh hay bãi bồi ở sông Đà, Nguyễn Tuân

đã nhớ rõ tên từng con thác thì chắc hẳn tác giả cũng hiểu và biết được đâu là con thác dữ nhất và hiền nhất ở nơi đây Trong tùy bút “người lái đò sông Đà” tác giả có nói đến con

thác dữ dằn nhất, đó là các thác như : Mằn Hi, Mằn Thắm, Hát Nhạt, Hát Lai, Soong Pút,

Soong Mon, Hát Moong, Hát Tiếu, mà được tác giả đánh giá và xếp vào loại “độc dữ nham hiểm nhất” Để hiểu và vượt qua được những con thác này thì người lái đò phải thật tinh

Trang 27

và để ý mọi đặc điểm khi vượt thác, và qua nhiều lần như vậy người lái đò đã rút ra kinh

nghiệm cho mình để chinh phục từng con thác một Cái khó khăn của người lái đò là “có

những cái thác phải kéo thuyền cả mùa ước cả mùa khô, thuyền nghỉ bến thì thôi, chứ đã

đi sông thì quanh năm lúc nào cũng phải đổ bộ kéo thuyền qua quãng này ”[tr 277, Tt

Nguyễn Tuân] Khó khăn thì khó khăn thật đấy, nhưng sống với cái thác dữ cũng thành quen, đối với người lái đò, khi đã vượt thành công qua cái thác dữ đó đến cái thác êm thì

họ lại cảm thấy nhàm chán

Với kiến thức địa lí, Nguyễn Tuân đã đi từ cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, “mặt

sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”, “vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu” Nhà văn đã sử dụng biện pháp so sánh, liên tưởng, tưởng tượng rất độc đáo

nhằm miêu tả và khắc sâu ấn tượng về độ cao của những vách đá Đến quãng mạt ghềnh Hát Loóng được Nguyễn Tuân miêu tả dồn dập, dữ dằn Quan sát dòng chảy của sông Đà, nhà văn phát hiện ra những cái hút nước “chết người” giống như cái giếng bê tông thả xuống chuẩn bị làm móng cầu, nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Chỉ là việc miêu tả nước chảy thôi mà Nguyễn Tuân ví như một con người đang sống qua việc thở mạnh như vừa làm một việc gì đó nặng nhọc, hơn thế nữa tác giả còn ví như “của cống cái

bị sặc”, hình như việc nước chảy mạnh quá, dồn dập, ập đến mà cửa cổng thì nhỏ so với lượng nước nên đã không đủ cho nước thoát ra khiến cửa cống bị sặc, hay nói cách khác là

bị tắc “Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ như cánh quạ đàn Không

thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy” Thác nước và đá đã biến thành một sinh

thể sẵn sàng giao chiến Sông Đà dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân còn được nhìn dưới

nhiều góc độ, phát hiện vẻ đẹp của sông Đà từ khía cạnh khác khi nhà văn “bay tạt ngang

qua sông Đà” Với những hiểu biết về địa lý, Nguyễn Tuân đi vào từng chi tiết nổi bật,

độc đáo, nhìn sông Đà dưới nhiều góc độ khác nhau để từ đó phát hiện ra vẻ đẹp đa dạng, phong phú của sông Đà Tác giả biến sông Đà thành chiến trường mà ở đó người lái đò là

những chiến binh phải vững tay lái để tồn tại trong cái dữ dội, hung bạo của con nước “

Cuộc sống của người lái đò sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hàng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ

kẻ thù số một”[tr 279, Tt Nguyễn Tuân] Không chỉ nắm rõ về từng con thác mà Nguyễn

Tuân còn biết rõ mặt mũi của từng viên đá “mai phục” nơi đây đã từ ngàn năm rồi Chúng chỉ chờ đợi con thuyền nào đi qua để “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”, “mặt hòn đá nào

cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này” Lạ thay

Trang 28

là hình như sông Đà đã giao nhiệm vụ cho từng hòn đá đó rồi Chúng còn bày thạch trận trên sông để giăng bẫy những người lái đò kinh nghiệm còn kém Phải chăng Nguyễn Tuân

đã quá hiểu về con sông Đà này mà để phải thốt lên rằng: “Cái con sông hàng ngàn năm

và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội

vạ với người lái đò sông Đà” Tác giả ví sông Đà như người thiếu nữ vậy, được quyền giận

dỗi mà không ai trách móc được Nhưng đâu phải lúc nào sông Đà cũng hung ác, nhiều khi người ta lại thấy nó đẹp như một cố nhân

Từ việc kể tên nhiều con thác cho tới việc hiểu rõ tính nết của từng con thác, hòn đá, ngay cả việc con sông Đà ngày xưa có tên là gì? Tác giả cũng thông báo cho người đọc

biết: “Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam, lấy tên là Ly Tiên (Theo “Dư

địa chí” của Nguyễn Trãi thì tên Trung Quốc của sông Đà là Bả Biên Giang) mà đi qua một vùng núi ác rồi đến nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên

và đến ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào sông Hồng Từ biên giới Trung Việt tới ngã ba Trung Hà là 500 cây số lượn rồng rắn, và tính toàm thân sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn thước mét chảy qua hai nước Việt Nam, Trung Quốc” [tr 284 – 285, Tt Nguyễn

Tuân] Phải là một người hay tìm tòi và quan sát kĩ thì mới hiểu biết về con sông Đà như vậy

Nguyễn Tuân đã phần nào cung cấp kiến thức về địa lý cho người đọc, từ những thông tin cơ bản đó mà mỗi người có thêm hiểu biết hơn về địa lí cũng như xuất xứ con sông Đà Tác giả đã lồng ghép thông tin địa lý vào trong văn học, cụ thể hơn là trong tác

phẩm “người lái đò sông Đà”

Kiến thức lịch sử:

Chữ Huấn Cao cho viên quản ngục trong Chữ người tử tù chính là chữ Nho Đó là

một văn tự tượng hình, được viết bằng bút lông và mực Tàu Đầu Công nguyên, chữ Hán

từ phương Bắc, đã du nhập vào Việt Nam như một công cụ truyền bá văn hóa phục vụ đắc lực cho mưu đồ thống trị của chế độ phong kiến tàn khốc Dẫu vậy, ông cha ta vẫn rất bản lĩnh khi tiếp nhận nó Trong bối cảnh nước ta chưa có một hệ thống chữ viết chính thống phục vụ cho nhu cầu ghi chép thì chữ Hán với những ưu điểm của nó đã được người dân Việt Nam dần dần tiếp nhận, phục vụ đúng mực cho các nhu cầu giao tiếp trong xã hội Đầu thế kỉ X, khi bước vào thời kì tự chủ, người Việt Nam tuy vẫn còn sử dụng chữ Hán nhưng cách đọc lại theo cách riêng của mình – cách đọc Hán Việt Cách đọc này đã ảnh

Trang 29

hưởng vào tiếng Việt và làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú hơn Đây cũng là thuận lợi lớn trong việc vay mượn chữ Hán để tạo chữ Nôm Chữ Nôm chính là sản phẩm của sự kết hợp giữa những yếu tố vay mượn từ chữ Hán Như vậy, thời phong kiến, văn tự của nước ta chính là chữ Hán và chữ Nôm mà người Việt gọi chung là chữ Nho

Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, chữ Hán và chữ Nôm được thay thế bằng chữ Quốc ngữ Nền khoa bảng Việt Nam dùng chữ Hán chấm dứt ở kì thi cuối cùng năm 1919 Ngày 22/2/1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier kí nghị định bắt buộc dũng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ Nghị định 82 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont kí ngày 6/4/1878 cũng đề ra mốc hẹn trong 4 năm thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ Sang thế kỉ XX, Chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ giao cho Nha học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ Từ năm 1910, việc cổ động cho học chữ Quốc ngữ ở toàn cõi nước Việt gắn với các phong trào cải cách trong giai đoạn 1890 – 1910 như Hội trí tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành,

đã thừa nhận và cổ vũ học chữ Quốc ngữ, coi là phương tiện thuận lợi cho học hành nâng cao dân trí Hệ thống chữ Quốc ngữ tiện lợi dễ học, dễ nhớ, có thể chuyển tải hầu hết các nhu cầu giao tiếp trong cuộc sống Do đó, người Việt hầu như đã thoát li khỏi chữ Hán Việc sử dụng chữ Nho ngày nay chỉ còn phổ biến tại các cơ sở đền chùa, miếu mạo, nơi thờ Phật, thánh thần Trong mắt người Việt hiện đại, chữ Nho trở thành một thứ chữ viết ngoại lai Chữ Nho chỉ còn là sản phẩm lịch sử, có quá trình hình thành và phát triển tự thân trong đời sống xã hội, đã đi vào quá khứ với những giá trị chuẩn mực được cố định hóa Nó đã được bao thế hệ người Việt, từ bậc cao nhân giỏi chữ nghĩa đến những người dân thường trân trọng và kính ngưỡng

Trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” không chỉ có kiến thức địa lí được tác giả

lồng ghép một cách khéo léo để người đọc thêm những hiểu biết về địa lí nước ta hơn, mà

đó là một trong những con sông lớn của nước ta Nhưng bên cạnh đó còn là kiến thức lịch

sử, Nguyễn Tuân đã chỉ ra cho người đọc biết về nguồn gốc của con sông Đà qua thời Trần

như thế nào “Thời cũ con sông Đà được dùng làm tên đạo, tên lộ Trong số 15 lộ hành

chính đời Trần, có Đà Giang lộ gồm những đất đai từ tỉnh Hưng Hóa ngược lên Chánh

sứ sơn phòng đồn Hưng Hóa Nguyễn Quang Bích, một nhà thơ ái quốc thời đó, chống Pháp và mất ở Tây Bắc (lúc ấy từ Hưng Hóa ngược lên đều gọi là Tây Bắc) đã đem sông

Đà vào một bài thơ họa lại thơ Tôn Thất Thuyết:

“…Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu

Trang 30

Giữ lấy Thao, Đà dải thượng lưu”

Nguyễn Tuân đã cung cấp một thông tin cho chúng ta đó là sông Đà thời Trần còn được lấy làm tên đạo (là danh từ, chỉ đơn vị hành chính ngày trước, tương đương với tỉnh ngày nay), tên lộ (đường lớn) Chính vì nó quá dài và hùng vĩ nên người ta đã chọn nó làm tên của con đường hay tỉnh thành khi qua vùng đó

Rồi đến thời Tây, thời Nhật: “lúc này Nhật vừa hạ Pháp, Nhật đánh từ suối rút lên,

đánh thẳng lên Lai Châu, rồi lại xuôi thuyền từ Lai Châu qua bến Quỳnh Nhai, về đến Vạn Yên, lên bộ bắt Tây đồn và đem về Suối Rút giết giám binh Boócđiê thông gia với phó vương bán nước Đèo Văn Long đang trốn ở Lào bây giờ”[tr 287, Tt Nguyễn Tuân]

Nguyễn Tuân còn tái hiện lại cảnh đoàn thuyền cướp thóc của “bọn Tây” và chúng

lợi dụng đoàn thuyền để chở quan Tây hay tù chính trị “tù chính trị gần hai trăm người

chuyển từ ngục Sơn La qua sông sang Ít Ong Long, Tú lệ đi Nghĩa Lộ về Yên Bái” Bọn

Tây lúc đầu phi ra xét giấy và còn cướp hết hàng, chúng còn thu hết bơi chèo và chỉ cho giữ sào Và khi chuyển sang sông xong đoàn tù thì chúng mới không giữ bơi chèo nữa

nhưng lại phải chờ để “chở bọn vợ con quan lính họ tiếp tục chạy Nhật” Nhưng đoàn

thuyền năm trăm người không cam chịu mà sẵn chèo nên đã quyết định trốn và còn mang

theo cả một trăm thuyền đi “chúng tôi quay đầu sào đinh lên, chống bằng ngọn sào ngược,

cho khởi động vào đá sông, cứ êm như thế thoát xa bến Chèo cả đêm Sáng rõ mặt người, nhìn nhau mà cười” Vậy mà hóa vui, bỏ trốn lại khiến cả đoàn thuyền vui vẻ và còn đóng

kịch nữa, họ còn bắt chước giả giọng thằng quản Tây hách dịch thu bơi chèo rồi lại trả bơi

chèo Điều quan trọng khiến họ vui hơn tất thảy đó là “và thấy mình tự do từ đó” Tự do

đã mang lại sự thoải mái và niềm vui cho đoàn thuyền, họ không chịu sự ép buộc và điều

khiển của quân Tây hay quân Pháp Sau cuộc bỏ trốn đó là sự chia tay: “năm trăm người

chia tay về quê nhà Người về Lai châu, người về Mường Chiên, người về Tà Khoa, Mường sai” Và thi thoảng đi chở hàng cho chính phủ vẫn gặp lại anh em trong đêm bỏ trốn ở Tà

Bú ấy… Sông Đà đã chứng kiến bao việc xảy ra, mà tiêu biểu là những chuyến thuyền qua lại của đoàn thuyền hay bọn Tây chèn ép người lái đò nhưng con sông vẫn im lặng Sự đáp trả của sông Đà là những con thác với cái hút nước chết người, mặc dù vậy con sông Đà tin tưởng vào kinh nghiệm của người lái đò và biết rằng họ sẽ vượt qua được

Nguyễn Tuân đã tái hiện lại cho người đọc thấy cảnh đi cướp thóc Nhật Không chỉ

vậy mà thông tin lịch sử còn được thể hiện qua chi tiết đó là: “Châu Quỳnh Nhai được giải

phóng đầu tiên ở Tây Bắc Quỳnh Nhai vốn là cơ sở bàn đạp ở Tây Bắc, và sông Đà quãng

Trang 31

này cũng là con đường dây ta xuyên vào lòng địch” Bọn địch rất hung dữ, chúng kiểm

soát rất dữ, nhà nào mà vắng ai nó gọi về và bắn ngay trên bến Chính vì điều này mà nhiều khi một số cơ sở nhân dân ngần ngại không dám chở đò cho cán bộ Nhưng họ cũng tìm

cách để cho cán bộ không nhỡ việc: “các đồng chí cũng thông cảm cho Nó kiểm soát gắt

quá, nhân dân không dám chởm nhưng vẫn cho các đồng chí mượn đò đấy” Nhưng họ

dặn dò cán bộ rất tỉ mỉ, cứ xuống đò mà sang sông đi, nhưng đừng đỗ bến nào cả mà xong việc cứ để thuyền trôi xuống bến dưới Bản dưới bắt được thuyền thì họ lại trả cho bản trên này chúng tôi không sợ mất đò đâu Hồi ấy, sông Đà khúc này tối sầm mà bị đứt liên lạc liên tục hàng tháng, Tỉnh ủy đóng vòi vọi trên núi Mèo…Qua đây mà ta thấy Nguyễn Tuân

đã đưa người đọc quay lại thời xa xưa để biết thêm một số thông tin lịch sử về con sông

Đà hùng vĩ của chúng ta

Kiến thức lịch sử mà Nguyễn Tuân cung cấp cho người đọc thông qua tác phẩm thật độc đáo Sông Đà hiện lên không chỉ là một con sông tự nhiên mà nó còn là chứng nhân lịch sử, vẫn sống và tồn tại cùng với thời gian cũng như con người nơi đây Thời xưa Sông

Đà vừa là một tỉnh thành (đạo), là tên một con đường lớn (lộ), và cũng là người chứng kiến tất cả mọi việc diễn ra trong thời gian Pháp, Nhật chiếm đóng

Kiến thức văn hóa

Việc viết chữ Nho từ xưa đã được coi là một loại hình nghệ thuật rất tinh tế và uyên thâm Nghệ thuật viết chữ Nho không chỉ đơn thuần là viết đẹp, mà còn ẩn chứa rất nhiều hàm ý thâm sâu về nội tâm của người viết Vì thế, nghệ thuật viết chữ đẹp được gọi là nghệ thuật thư pháp, người viết chữ đẹp trở thành người nghệ sĩ

Thư pháp bắt nguồn từ Trung Hoa cổ xưa, dựa trên kết quả của các khảo cổ, họ đã tìm thấy những hệ văn tự đầu tiên được tìm thấy từ mấy ngàn năm trước, được dự đoán từ

1200 năm trước Công nguyên Vào khoảng thế kỉ II và thế kỉ IV CN, thư pháp trở thành một môn nghệ thuật tao nhã, cao siêu được các cao nhân mặc khách và một số đại danh sĩ

có trình độ học vấn cao thâm đặt định Thời phong kiến, người Việt đã biết thưởng thức chữ đẹp và có thú chơi chữ Một nhà thư pháp có thể hành bút thì phải trải qua thời gian khổ luyện, đòi hỏi có kiến thức sâu rộng và khả năng cảm thụ thẩm mĩ Điều này đòi hỏi người ta phải có nền tảng kiến thức thâm sâu về kết hợp và phân bố hình khối, tạo nét dáng qua từng đường nét Khi có óc tưởng tượng kết hợp với khả năng cảm thụ thì người ta mới thể hiện thành công ý tưởng trên tác phẩm của mình Tác phẩm thư pháp đẹp là tác phẩm không chỉ dựa trên kiến thức mà còn thể hiện ra cảnh giới tư tưởng, một thư gia đạt trạng

Trang 32

thái: tâm bình tĩnh, nét bút thể hiện sự ổn định trong trạng thái tư tưởng, mềm mại nhưng không lỏng lẻo, cứng cỏi nhưng không khô khan, trong cương có nhu, trong động có tĩnh

Đó chính là phần hồn của một thư pháp Sự am hiểu tường tận về nghệ thuật thư pháp ấy

đã khiến Nguyễn Tuân miêu tả một cách trọn vẹn vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ Ông Huấn đã phải phô tài trong một cảnh ngộ oái oăm “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” Nếu như, nhà thư gia ấy không có được một cái tâm bình thản, trong sáng, tự do; một khí phách kiên cường, hiên ngang, coi thường cái chết, quên đi buổi hành hình ngày mai thì liệu ông có thể sáng tạo cái đẹp trong cảnh ngộ ấy?

Đối với người thưởng ngoạn thư pháp sẽ cảm nhận được sự tinh tế của tác phẩm, thông hiểu hàm ý và nội dung của thư gia mà thấy gần gũi và thương mến Có lẽ đây chính

là những cảm xúc đặc biệt đặc sắc mà ít một môn nghệ thuật nào có thể làm được Chính

vì vậy, viên quan coi ngục đã xem chữ viết của Huấn Cao như “ một báu vật” trên đời Ông còn dành thái độ biệt nhỡn liên tài đối với riêng Huấn Cao, kính cẩn, ngưỡng mộ trước cái đẹp được khai sinh Đúng như một đại thư gia đời Bắc Tống có tên là Mễ Phất đã có nhận xét như sau khi thưởng ngoạn một bức thư pháp của cổ nhân: “Một khi tôi trải một bức thư pháp của cổ nhân mà ngắm, tôi ngât ngây đến độ sấm động bên tai cũng không hay, thức

ăn thơm ngon ngào ngạt bên cạnh cũng không màng Tôi ngờ rằng sau này khi tôi lìa đời hồn tôi sẽ biến thành con cá nhập vào những bức họa mà tung tăng bơi lội trong đó” Nguyễn Tuân sinh ra khi Hán học đã suy tàn Thời gian ông viết “Chữ người tử tù” thì chữ Nho đã không còn, nó đã trở thành thời quá vãng xa xưa; người nghệ sĩ viết chữ cũng đã vắng bóng Viết về những thứ thuộc về quá vãng xa xưa, nhà văn không chỉ kín đáo thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng đối với những giá trị văn hóa truyền thống mà còn muốn lưu giữ vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc

Kiến thức xã hội

Kiến thức xã hội được xem là một trong những chức năng quan trọng của văn học Chức năng này thể hiện sự vượt trội của nghệ thuật ngôn từ so với nhiều loại hình nghệ thuật khác Tuy nhiên, không phải lúc nào và ở đâu, văn học cũng có thể thực hiện được chức năng này một cách dễ dàng Ngoài vấn đề mục đích sáng tác, kiến thức xã hội liên quan đến vấn đề chủ thể sáng tạo và chất liệu đời sống được phản ánh Bởi trong một cuộc sống mà mọi thứ đều ổn, đều tốt đẹp, con người hài lòng với nó thì nhà văn không có gì phải băn khoăn, dự cảm hay lo âu… Và Nguyễn Tuân là người đã đưa kiến thức xã hội vào

Trang 33

trong tác phẩm của mình với mục đích để người đọc hình dung ra sự tiến bộ của một đất nước

Ở thời điểm đó, các nhà văn khác cũng tìm cho mình những vùng đất mới để khai

thác và cho ra đời những đứa con tinh thần của riêng mình như Nguyễn Khải viết “Mùa

lạc”, tác phẩm viết về cuộc sống của con người, họ tìm đến những vùng đất mới để xây

dựng kinh tế mới, đó là những con người yêu lao động, họ tìm đến vùng đất Điện Biên để phát triển cuộc sống của mình Hầu như các nhà văn trong giai đoạn này đều lấy hình ảnh con người làm trung tâm của bức tranh các nhà văn vẽ lên Nguyễn Tuân cũng vậy, ông cũng viết về con người, lấy hình ảnh con người làm chủ đạo, cụ thể là người lái đò sông

Đà, đại diện tiêu biểu cho con người Tây Bắc Bên cạnh hình ảnh con người thì Nguyễn Tuân còn viết về thiên nhiên Mà hình tượng con người và thiên nhiên là hai hình tượng

song song cùng tạo nên nét độc đáo và đặc sắc của tác phẩm “Người lái đò sông Đà”

Nguyễn Tuân đã xây dựng cho tác phẩm của mình một tượng đài thiên nhiên hùng vĩ Tác giả đã cung cấp thêm cho bạn đọc một thông tin quan trọng, cho người đọc biết thêm về

giá trị của con sông Đà Trong tác phẩm có xuất hiện hình ảnh tiếng còi xương: “chao ôi,

thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu” Đó là tiếng còi báo hiệu của tàu bè hoặc nhà máy Và

cho đến nay việc tiếng còi vẫn được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày với mục đích thông báo Về giá trị của sông Đà, Nguyễn Tuân xác định giá trị của con sông mang lại cho đất nước rất lớn Sông Đà là một con sông lớn, có chiều dài và độ sâu rất cao Chính

vì vậy mà Nguyễn Tuân đã dự báo được trong tương lai nó sẽ trở thành đập thủy điện lớn nhất nước ta Và sự thật đã như vậy,ngày 6/11/1979 đập thủy điện Hòa Bình đã được khởi công xây dựng và cho đến ngày 20/12/1994 đã xây dựng xong và khởi công và chủ sở hữu

là Tập đoàn Điện lực Việt Nam Nhà máy thủy điện Hòa Bình được xây dựng tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, trên dòng sông Đà thuộc miền Bắc Việt Nam Cho đến nay đây là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á Nhà máy do Liên Xô giúp đỡ xây dựng và vận hành Với công suất là 1920 MW với 8 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất là 240 MW, sản lượng điện hàng năm 8,16 tỉ KW Nhà máy thủy điện Hòa Bình với bốn nhiệm vụ chính là chống lũ: sông Đà là một trong ba phụ lưu chính của hệ thống sông Hồng chiếm 55% lượng nước và góp phần quan trọng vào việc phòng chống lũ lụt cho vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong đó có thủ đô Hà Nội; thứ 2 đó là phát điện: nhà máy điện lực Hòa Bình

là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam; thứ ba đó là tưới tiêu,

Trang 34

chống hạn hán cho nông nghiệp: đập thủy điện Hòa Bình quan trọng trong việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp ở vùng hạ lưu trong đó đồng bằng sông Hồng, nhất là trong mùa khô Điều tiết mực nước sông đồng thời đẩy nước mặn ra xa các cửa sông; thứ

tư đó là giao thông thủy: cải thiện việc đi lại bằng đường thủy ở cả thượng lưu và hạ lưu Năm 2004 công trình tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được vận chuyển chủ yếu bằng con đường này Qua đây mà ta thấy Nguyễn Tuân quả là một con người có con mắt nhìn

xa trông rộng và ông dự đoán được giá trị mà con sông Đà mang lại trong tương lai Sông có lưu lượng lớn, cung cấp 55% lượng nước lớn cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam Năm 1994 khởi công nhà máy thủy điện Hòa Bình, năm 2005 khởi công nhà máy thủy điện Sơn La với công suất thiết kế là 2400 MW Và đang xây dựng nhà máy điện Lai Châu 1200 MW Khởi công năm 2011, dự kiến hoàn thành tháng 12 năm 2016 ở thượng nguồn con sông này Lưu vực

có tiềm năng tài nguyên to lớn với nhiều loại khoáng sản quý hiếm, các hệ sinh thái đặc trưng bao gồm nguồn sinh vật với mức đa dạng sinh học cao Và cho đến ngày nay, những thế hệ người đọc sau sẽ thấy mãi một sông Đà hung bạo mà trữ tình qua những trang văn của Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân đã gửi thêm một thông tin nữa tới người đọc Đọc “Người lái đò sông

Đà” lên chúng ta phần nào hiểu hơn về giá trị mà con sông mang lại Đó là một giá trị to

lớn giúp nền kinh tế nước ta phát triển hơn

Sự đổi thay kì diệu

Nghệ thuật thư pháp ở Việt Nam sau một thế kỉ vắng bóng thì ngày nay, người Việt lại ưa chuộng Thư pháp chữ Nho giờ đã được thay thế bằng thư pháp chữ quốc ngữ Thư pháp chữ Việt ngày nay dễ dàng thể hiện theo nhiều cách khác nhau, tự do sáng tạo, không ràng buộc trong khuôn khổ như chữ Hán, nhưng phải luôn giữ vững cấu trúc của chữ Là chữ La-tinh, không phải chữ tượng hình như chữ Hán nên khó biểu đạt được tâm ý và nội dung của câu chữ Chính vì vậy, người viết thường cố tạo nên những tác phẩm mang hình ảnh cần biểu đạt bằng chính cấu trúc của chữ và sự mô phỏng tâm tư tình cảm, cảnh giới

tư tưởng Do đó, bức thư pháp như một bức họa tuyệt mĩ với tâm tính bình ổn, an hòa Thư pháp ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn như xin chữ vào đầu năm, trong những giai đoạn quan trọng của cuộc đời (thi cử, thăng quan, ), trang trí trong nhà Mặc dù, không giữ được nhiều giá trị về hàm ý thâm sâu nhưng thư pháp vẫn luôn được coi là một loại hình nghệ thuật thanh tao

Trang 35

Ở miền Bắc vào những năm 1958 – 1960 có phong trào vận động nhân dân miền xuôi – chủ yếu là thanh niên lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc Tây Bắc gồm các tỉnh như: Hòa Bình, Sơn La, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu Khi ấy có khá nhiều người miền xuôi lên Tây Bắc lập nghiệp với mong muốn cuộc sống ngày trở nên tốt đẹp và văn hóa nơi đây ngày càng phát triển hơn Cuộc sống Tây Bắc lúc tác giả Nguyễn Tuân viết về

“Người lái đò sông Đà” khác rất nhiều với cuộc sống hiện tại Đó được gọi là quá khứ,

Tây Bắc ngày ấy hoang vắng như miền cổ tích vậy, dân cư thưa thớt, xung quanh chủ yếu

là rừng núi, rất ít nhà dân, đời sống còn nghèo nàn về mọi thứ Nhưng đó chỉ là quá khứ, còn bây giờ, Tây Bắc đã khoác cho mình một bộ áo mới hoàn toàn Đời sống được nâng cao rất nhiều, từ kinh tế cho đến văn hóa giáo dục, phát triển về mọi mặt sở dĩ có sự đổi thay kì diệu này là từ khi nhà máy thủy điện Hòa Bình được thành lập, tiếp theo đó là nhà máy thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu và lí do hơn cả là từ khi thị xã Hòa Bình, Lai Châu, Sơn La tách ra để lên thành phố Sự đổi thay này mang lại rất nhiều lợi ích như: đời sống nhân dân được nâng cao, y tế được chú trọng hơn, vấn đề văn hóa giáo dục được đặt lên hàng đầu với mục đích nâng cao tầm hiểu biết của toàn dân Bên cạnh đó du lịch cũng phát triển hơn, thành phố Hòa Bình là một trong những cái nôi của nền văn hóa Đông Sơn… Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế mà chúng ta phải kể đến đó là đói nghèo vẫn chưa hết, cuộc sống của những người dân nơi đây không phải lúc nào cũng tốt đẹp Tuy thế mạnh là nơi đây có nhiều thủy điện cuộc sống được nâng cao nhưng cũng đồng nghĩa với việc đến mùa mưa thường phải đối mặt với nước lũ, với ngập lụt và phải di cư đi nơi khác hoặc tìm mọi cách để khắc phục Như vậy, cuộc sống của Tây Bắc quá khứ và hiện tại khác nhau hoàn toàn, Tây Bắc của quá khứ hiện lên trong mắt người đọc với vẻ hoang vắng, còn Tây Bắc hiện tại là nơi phát triển về mọi mặt nhưng cùng với đó là hình ảnh con sông Đà hùng vĩ sẽ biến mất trong tương lai

III Hiệu quả do sáng kiến đem lại

Để làm sáng rõ khả năng ứng dụng cũng như kiểm nghiệm được tính khả thi của những

cách thức được đề xuất trong việc Hướng dẫn HS khai thác những tri thức khoa học, văn

hóa, nghệ thuật trong dạy học tác phẩm của Nguyễn Tuân, tôi đã tiến hành thực nghiệm

Quá trình thực nghiệm cụ thể như sau:

1 Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm

- Đối tượng thực nghiệm: HS lớp11 (bậc THPT) và GV dạy Ngữ văn 11 (CT SGK Ngữ văn 11, tập 1, Ban cơ bản)

Trang 36

- Địa bàn thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm tại trường THPT Trần Hưng Đạo –

Tp Nam Định Ưu điểm: trường đều có đội ngũ GV có kinh nghiệm, có năng lực giảng dạy Tuy nhiên vẫn còn có hạn chế, chất lượng HS của các lớp theo khối A, A1 và D có

sự khác nhau, cụ thể là mặt bằng chất lượng HS của các lớp khối D cao hơn so với các lớp khối A Mỗi khối tôi chọn 2 lớp (một lớp thực nghiệm, một lớp đối chứng), cụ thể như sau:

Bảng 1: Đối tượng thực nghiệm và đối chứng

Tên khối lớp Lớp thực nghiệm Lớp đối chứng

Lớp Sĩ số GV dạy Lớp Sĩ số GV dạy Khối A (Toán,

Lý, Hóa) 11A1 40 Mai Thị Liễu 11A3 42 Trần Thị Hương Giang Khối D (Toán,

Văn, Anh) 11B3 43 Mai Thị Liễu 11B2 41 Tống Thị Thu Hường

2 Thời gian thực nghiệm

Các giờ dạy đọc hiểu tác phẩm Chữ người tử tù của CT Ngữ văn 11 THPT được bố trí ở giữa học kì I, do đó tôi tiến hành thực nghiệm vào tháng 11 năm học 2018 – 2019

3 Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm

3.1 Nội dung thực nghiệm

Để đạt được mục đích thực nghiệm ở trên, tôi tiến hành áp dụng các biện pháp đã đề xuất vào bài dạy cụ thể trong CT Ngữ văn lớp 11 Đó là bài: Chữ người tử tù (tiết 41, 42) Tiếp theo, tôi tiến hành soạn các bài kiểm tra đầu ra nhằm đánh giá năng lực đọc hiểu, năng lực vận dụng sự hiểu biết về các tri thức khoa học, văn hóa, nghệ thuật của HS sau quá trình rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học hiện đại theo đặc trưng thể loại nhằm hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất người học

3.2 Cách thức tiến hành

Quá trình thực nghiệm được tổ chức với ba giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực nghiệm

Trước khi triển khai thực nghiệm, tôi tiến hành soạn và hoàn thiện việc thiết kế giáo

án Sau đó, tôi trao đổi với GV dạy lớp đối chứng và lớp thực nghiệm về nội dung và các biện pháp nhằm phát triển năng lực vận dụng sự hiểu biết về các tri thức khoa học, nghệ thuật, văn hóa, xã hội cho HS trong quá trình dạy học VB Chữ người tử tù Tại các lớp đối chứng, GV sử dụng giáo án của chính bản thân họ soạn và giảng dạy Còn ở các lớp thực

Trang 37

nghiệm, GV sử dụng giáo án do tôi thiết kế để giảng dạy

- Giai đoạn 2: Triển khai thực nghiệm

Trước khi tiến hành thực nghiệm, tôi đã bàn bạc và thống nhất với GV dạy thực nghiệm về tinh thần cơ bản của việc dạy thực nghiệm: mục đích, ý nghĩa của việc thực nghiệm; cách thức thực nghiệm Bên cạnh đó, tôi cũng đề nghị với GV nghiên cứu giáo án

mà tôi đã thiết kế và mạnh dạn đề xuất cách tổ chức giờ học thực nghiệm trên lớp sao cho hiệu quả nhất

Trong quá trình thực nghiệm, GV tiến hành dạy theo giáo án đã soạn trên các đối tượng đã xác định theo đúng CT, kế hoạch giảng dạy ở lớp lựa chọn thực nghiệm Đồng thời, cho HS làm bài viết kiểm tra (chung đề, chung đáp án) nhằm đánh giá và khảo sát chất lượng học tập của HS ở lớp thực nghiệm (lớp dạy bằng giáo án thực nghiệm) và lớp đối chứng (lớp dạy theo giáo án thường)

- Giai đoạn 3: Thu thập, xử lý kết quả thực nghiệm

Sau quá trình dạy học và cho HS lớp thực nghiệm thực hiện bài viết kiểm tra, khuyến khích các em vận dụng những gì đã rèn luyện được vào bài đọc hiểu và làm văn của mình, tôi thu lại sản phẩm và tiến hành phân tích Từ đó đánh giá kết quả sau cùng của việc khai thác những kiến thức khoa học, văn hóa, nghệ thuật cho HS trong dạy học tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam Có thể nói, kết quả là một trong những nội dung quan trọng của thực nghiệm, bởi kết quả thực nghiệm có tác dụng làm sáng rõ tính đúng đắn và khẳng định tính khả thi của những biện pháp được đề xuất trong SKKN

4 Cách đánh giá kết quả thực nghiệm

Tôi chọn hình thức kiểm tra là đưa ra bài tập (bằng đề đọc hiểu VB kết hợp với NLVH) để yêu cầu các em thực hiện các kỹ năng đọc hiểu và viết bài NLVH hoàn chỉnh Sau đó, tôi thu lại kết quả, tiến hành chấm bài, thống kê kết quả đạt hay không đạt yêu cầu theo các tiêu chí vừa nêu, rồi so sánh kết quả kiểm tra của hai lớp đối chứng và lớp thực nghiệm

Trang 38

- Rốn kĩ năng đọc – hiểu văn bản VH hiện đại VN

- Phõn tớch nhõn vật trong tỏc phẩm tự sự

3 Định hướng năng lực, phẩm chất cần phỏt triển cho học sinh:

- Phẩm chất:

Giỏo dục cho học sinh phong cách sống, ý thức sống cao đẹp

B Thiết kế bài học:

I Chuẩn bị của GV và HS

1 Chuẩn bị của giỏo viờn:

Sỏch giỏo khoa, sỏch giỏo viờn, cỏc tài liệu tham khảo, chuẩn kiến thức kĩ năng, bài soạn, cõu hỏi và bài tập kiểm tra đỏnh giỏ

Phương tiện dạy học: mỏy chiếu, tranh ảnh, cỏc clip, tài liệu minh họa, giấy A3, bỳt dạ, thước

2 Chuẩn bị của học sinh:

- Học bài cũ:

Yờu cầu HS xem lại kiến thức về Thạch Lam với bài “Hai đứa trẻ” đó được học trong chương trỡnh

- Chuẩn bị bài mới:

+ Yờu cầu HS đọc và tỡm hiểu sỏch giỏo khoa bài “Chữ người tử tự”

+ Soạn cỏc cõu hỏi trong từng phần và làm cỏc bài trong phần luyện tập

Trang 39

II Phương phỏp, kĩ thuật dạy học:

1.Phương phỏp dạy học:

- Phương phỏp dạy học giải quyết vấn đề

- Phương phỏp thảo luận nhúm

HS diễn kịch

Hoạt động 2: Hỡnh thành kiến thức

Hoạt động của GV và HS Nội dung kiến thức cần đạt

Hướng dẫn HS tỡm hiểu khỏi quỏt về tỏc

giả, tỏc phẩm

+GV: Coi phần Tiểu dẫn là một văn bản

thuyết minh, hóy đọc và túm tắt những nột

chớnh về tỏc giả Nguyễn Tuõn Nờu ngắn

gọn vai trũ của Nguyễn Tuõn với sự phỏt

triển của VHVN hiện đại

+HS: nờu những điểm cơ bản cần nhớ về

-Sau khi học đến cuối bậc Thành chung, Nguyễn Tuõn bắt đầu cầm bỳt vào năm

1935, cho đến 1938, ụng nổi tiếng với cỏc

tỏc phẩm cú phong cỏch độc đỏo như Một

chuyến đi, Vang búng một thời,…

Ngày đăng: 17/01/2021, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w