TRẦN MẠNH HÙNG Tên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI ĐỖ ĐỨC THUẬN, THỊ TRẤN TÂY ĐẰNG, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ
Trang 1TRẦN MẠNH HÙNG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG,
TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI
ĐỖ ĐỨC THUẬN, THỊ TRẤN TÂY ĐẰNG, HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên – 2019
Trang 2TRẦN MẠNH HÙNG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG,
TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI
ĐỖ ĐỨC THUẬN, THỊ TRẤN TÂY ĐẰNG, HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo TS Nguyễn Đức Hùng đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại trại Đỗ Đức Thuận, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, dành nhiều thời gian, công sức để hướng dẫn, chỉ bảo, giúp
đỡ cũng như động viên và đóng góp những ý kiến quý báu cho em thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 06 năm 2019
Sinh viên
Trần Mạnh Hùng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện 20
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại Đỗ Đức Thuận trong 3 năm
(2016 – 2018) 31
Bảng 4.2 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái sinh sản năm 2017 32
Bảng 4.3 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng ( số lượt con ) 35
Bảng 4.4 Kết quả theo dõi tình trạng sinh sản của lợn nái 38
Bảng 4.5 Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái 38
Bảng 4.6 Kết quả chăm sóc lợn con sau đẻ 39
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 40
Bảng 4.8 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 40
Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 41
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại 43
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện của trang trại 3
2.1.2 Thuận lợi, khó khăn 6
2.2 Cơ sở khoa học 6
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6
2.2.2 Sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 13
2.2.3 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 16
2.2.4 Chẩn đoán, phòng và trị một số bệnh ở nái sinh sản 19
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 26
2.3.1 Nghiên cứu trong nước 26
2.3.2 Nghiên cứu ở nước ngoài 27
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 29
3.1 Đối tượng 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3 Nội dung thực hiện 29
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 29
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 30
Trang 73.5 Phương pháp xử lí số liệu 30
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Đỗ Đức Thuận trong 3 năm từ 2016 - 11/2018 31
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 32
4.2.1 Thực hiện qui trình chăm sóc, nuôi dưỡng 32
4.3 Thực hiện qui trình vệ sinh, phòng bệnh cho lợn nái sinh sản 39
4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 39
4.3.2 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái 40
4.4 Tình hình cảm nhiễm bệnh và kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 41
4.4.1 Tình hình cảm nhiễm bệnh ở đàn lợn nái sinh sản 41
4.4.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC
Trang 8Trên thực tế nghề chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn như quy mô nhỏ lẻ, khâu chọn giống còn nhiều bất cập… Ngoài ra, sự diễn biến phức tạp của nhiều loại dịch bệnh cùng với sự ảnh hưởng trầm trọng của ô nhiễm môi trường đã làm cho nghề chăn nuôi lợn đang đứng trước thử thách lớn Để chăn nuôi lợn phát triển ổn định, có năng suất, chất lượng cao, an toàn cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng
bộ từ giống, thức ăn, dinh dưỡng, quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, quy mô và các vấn đề về môi trường chăn nuôi , trong đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản giữ vai trò hết sức quan trọng Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành chuyên đề:
“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại Đỗ Đức Thuận, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Tìm hiểu, nắm bắt và thực hiện quy trình, các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản
- Tìm hiểu, nắm bắt và thực hiện quy trình, các biện pháp kỹ thuật trong phòng
và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản của trại
Trang 91.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá đúng tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Đỗ Đức Thuận, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái
- Thực hiện tốt quy trình vệ sinh, phòng bệnh và điều trị bệnh ở lợn nái
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
Toàn thị trấn có 14 thôn, gồm các thôn: Đông, Nam, Đoài, Bắc, Hưng Đạo, Cao Nhang, Cầu Bã, Vân Trai, Lai Bồ, Vân Hồng, Chợ Chàng, Cửa Đình, Phú Mỹ, Đài Hoa
Nhìn chung trại được đặt ở vị trí khá thuận lợi để phát triển do cách xa khu công nghiệp, khu dân cư, bệnh viện, trường học Vì trại cách xa trục đường quốc lộ chính 32 km nên giao thông cũng chưa được thuận tiện cho giao thương trao đổi sản phẩm chăn nuôi nhưng lại đạt hiệu quả cao trong quá trình sản xuất
- Mùa khô: thời tiết khô, rét ít mưa (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), nhiệt
độ trung bình từ 17 - 19oC, độ ẩm trung bình 80,8%, tổng lượng mưa là 299,2 mm Với điều kiện thời tiết như vậy rất thuận lợi cho trồng trọt, nhưng gây nhiều bất lợi cho chăn nuôi nói chung và nuôi lợn nuôi lợn nói riêng
Trang 112.1.1.3 Giao thông, thủy lợi
Trại có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các khu vực trung tâm và các khu vực xung quanh; có đường liên thôn chạy qua gần khu vực trại đã được bê tông hóa, lòng đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào trại để vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư cũng như các sản phẩm chăn nuôi
Trại có bể xử lý nước thải và hệ thống ống dẫn nước thải đã qua xử lý xuống
ao thả cá để kết hợp nuôi lợn với nuôi cá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài môi trường
2.1.1.4 Cơ cấu tổ chức của trang trại
a) Quá trình thành lập
Trại lợn Đỗ Đức Thuận là trại lợn tư nhân lớn, trang trại được thành lập năm
2010, do ông Đỗ Đức Thuận làm chủ trại Hướng chăn nuôi của trại là chăn nuôi lợn nái sinh sản kết hợp với chăn nuôi lợn thịt và nuôi cá và trồng cây ăn quả Phương thức chăn nuôi là chăn nuôi tập trung công nghiệp với hệ thống chuồng khép kín
2.1.1.5 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại có diện tích 5 ha nằm ở phía Tây Nam của xã, địa hình chủ yếu là đồng bằng, có đường giao thông xung quanh, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển Cơ
sở vật chất kỹ thuật của trại gồm:
- Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Khu chăn nuôi có hàng rào bao xung quanh và có cổng ra, vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp,
Trang 12hệ thống chuồng khép kín với các lồng nuôi, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 110 nái cơ bản bao gồm:
+ 01 chuồng nái đẻ: gồm 2 dãy, mỗi dãy có 15 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ
+ 01 chuồng nái chửa: gồm 2 dãy mỗi dãy có 50 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau; 10 ô để cho lợn nái chờ phối, thử lợn, ép lợn; 4 ô để nuôi lợn đực và khai thác tinh
+ 01 chuồng cai sữa, dùng để nuôi và chăm sóc lợn cai sữa sau khoảng 17 - 21 ngày theo lợn mẹ, chuồng thiết kế 8 ô có thể nuôi khoảng 350 - 400 heo con cai sữa + 02 chuồng lợn thịt: Mỗi chuồng chia thành 8 ô được thiết kế để nuôi lợn từ
25 kg trở lên
Chuồng xây được xây dựng theo hệ thống khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp vào mùa đông bằng cách điều chỉnh quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn
và vệ sinh chuồng trại hàng ngày Cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng nái chửa có xây dựng phòng pha chế tinh lợn, với đầy
đủ các dụng cụ: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn cho các dãy chuồng
Cổng vào khu chăn nuôi trại có xây dựng phòng tắm, hệ thống phun sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân
Ngoài ra, trại còn trang bị một thiết bị khác phục vụ cho công tác kỹ thuật, vận
chuyển, như: tủ lạnh, tủ thuốc, máy nén khí phun sát trùng di động, xe chở cám
Trang 132.1.2 Thuận lợi, khó khăn
2.1.2.1 Thuận lợi
- Trại được sự quan tâm của các ngành, các cấp như UBND thị trấn Tây Đằng, Trạm thú y huyện Ba Vì về điều kiện về cơ sở vật chất, môi trường và chính sách hỗ trợ
- Trại được Công ty cổ phần CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức ăn và đảm bảo khâu kỹ thuật
- Trại có vị trí thuận lợi, địa hình, đường đi khá thuận tiện cho việc vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi
- Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan
tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
- Đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm, trình
độ chuyên môn, tay nghề vững
- Giá thức ăn chăn nuôi không ổn định, có xu hướng tăng liên tục khiến chi phí thức ăn tăng cao, gây bất lợi tới kết quả chăn nuôi
Trang 14Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [25] cho biết, thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong, thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
+ Giống
Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Hầu hết các giống lợn nội thành thục sớm hơn các giống lợn ngoại, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và và Lưu Kỷ (2003) [5], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm, từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (nội x ngoại) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55 kg; lợn ngoại động dục muộn hơn từ 6 - 8 tháng khi đạt 65 - 80 kg; lợn Ỉ, Móng Cái động dục lần đầu vào 4 -
5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
+ Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng
Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng khá lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy đủ, phù hợp nhu cầu dinh dưỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp Lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày (6 tháng tuổi) và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) + Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Trang 15Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng cũng là yếu tố ảnh hưởng tới thành thục tính dục của lợn Ở mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều
đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con lợn được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
Sự có mặt của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái hậu bị Nếu lợn cái được nuôi chung hoặc gần với lợn đực sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục
về tính của chúng hơn so với nuôi nhốt xa con đực Theo McIntosh (1996) [34], nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút, thì 83% lợn nái động dục lúc 165 ngày tuổi
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái, đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [5], không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên, vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
b) Sự thành thục về thể vóc
Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [8], tuổi thành thục
về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định, cơ thể không sinh trưởng về cơ, xương nữa, khối lượng tăng lên
Trang 16chủ yếu là tăng lên của mỡ Đối với lợn nái nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, đối với lợn nái ngoại lúc 8 - 9 tháng tuổi khi khối lượng đạt 115 - 120 kg thì mới nên cho phối giống
2.2.1.2 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp
a) Chu kỳ động dục
Lợn nái sau khi thành thục về tính thì cứ mỗi khoảng thời gian nhất định, toàn thân và cơ quan sinh dục có những biến đổi đặc biệt kèm theo sự rụng trứng Hiện tượng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (1995) [18], chu kỳ động dục của lợn nái bình quân là 21 ngày, thời gian động dục trung bình 2 – 3 ngày, tùy thuộc vào tuổi
và giống lợn Lợn nái nuôi con sau đẻ 3 - 4 ngày thường có hiện tượng động dục trở lại nhưng không cho phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều
Sau cai sữa 3 - 5 ngày lợn nái động dục trở lại, cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2006) [9] Các giai đoạn của chu kỳ động dục: Thông thường người ta chia chu kỳ động
dục của lợn ra thành 4 giai đoạn
+ Giai đoạn trước động dục: kéo dài 1-2 ngày, là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ tới lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị môi trường ở đường sinh dục cái để đón trứng rụng và tinh trùng từ ngoài vào
Dưới ảnh hưởng của estrogen, cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi như: tế bào vách ống dẫn trong phát triển có nhiều nhung mao để chuẩn bị đón trứng rụng Màng nhầy tử cung âm đạo tăng sinh, được cung cấp nhiều máu Tử cung, âm đạo,
âm hộ bắt đầu sung huyết, con vật bồn chồn không yên, biếng ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình Giai đoạn này trứng chưa rụng, không nên cho phối ngay tỷ lệ thụ thai sẽ thấp
+ Giai đoạn động dục: kéo dài 2-3 ngày, gồm 3 thời kỳ liên tiếp: hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực
Những biểu hiện về hành vi sinh dục là: đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, thần kinh nhạy cảm, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ăn ít hoặc bỏ ăn,
Trang 17ôm đực một cách vội vã, âm hộ ướt và đỏ, dịch nhầy tiết nhiều Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết ra nhiều keo đặc lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này trứng rụng (sau khi động dục từ 35- 40 giờ), thời gian trứng rụng kéo dài
từ 10-15 giờ, cho nên phối giống 2 lần sẽ có hiệu quả thụ thai cao
Giai đoạn này nếu được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại do sự hình thành và tồn tại của thể vàng Chu kỳ chỉ xuất hiện trở lại sau một thời gian con vật đẻ xong + Giai đoạn sau động dục: kéo dài 3-4 ngày, là giai đoạn phát triển sớm của thể vàng, bắt đầu sau khi kết thúc động dục Thời kỳ này thể vàng ở buồng trứng đã xuất hiện tiết progesteron để ức chế động dục Sự tăng sinh và tiết dịch của tử cung ngừng lại mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài
Hoạt động sinh dục đã giảm rõ rệt, âm hộ teo dần tái nhạt, con vật không muốn gần con đực, không cho con khác nhảy lên lưng, lợn ăn uống tốt hơn và dần trở lại trạng thái bình thường
+ Giai đoạn yên tĩnh: kéo dài 12-14 ngày, là giai đoạn thể vàng hoạt động, thường khởi đầu vào ngày thứ tư sau khi rụng trứng và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Cơ quan sinh dục không có biểu hiện rõ những hoạt động chức năng Những biểu hiện về hành
vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để hồi phục lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng cho hoạt động của chu kỳ tiếp theo
Thời điểm phối giống thích hợp
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời điểm vì thời gian trứng có khả năng thụ thai là rất ngắn Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [28], trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn nái 30 - 48 giờ Như vậy, phải cho lợn nái phối giống
10 - 12 giờ trước lúc rụng trứng tức là 8 - 10 giờ trước khi chịu đực
Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào cuối ngày thứ 2 và ngày thứ 3 tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội là cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn
Trang 18và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 sẽ gây ra phản ứng rách (vỡ) noãn bao và thải trứng Sau khi trứng rụng, thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra và tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung, đồng thời ức chế tiết FSH và LH của tuyến yên, làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn ngừng phát triển và kết thúc một chu kỳ động dục Nếu lợn không có chửa, thể vàng sẽ bị phá hủy vào ngày thứ 16 – 17 của chu kỳ Lúc đó tuyến yên được giải phóng khỏi ức chế, tiếp tục sản sinh ra FSH, LH và noãn bao trên buồng trứng lại tiếp tục phát triển, giải phóng ra Estrogen, chu kỳ mới lại bắt đầu
c) Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái
+ Tuổi động dục lần đầu
Là tuổi khi lợn nái có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau phụ thuộc vào giống lợn Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống
Trang 19Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường, sự tiếp xúc với con đực cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
Theo Lê Xuân Thọ và Lê Xuân Cương (1979) [31], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm huyết thanh ngựa chửa có thể gây động dục
+ Tuổi phối giống lần đầu
Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn nái, vì thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành phối giống cho lợn nái vào chu kỳ thứ 2 hoặc thứ 3 Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu
Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi mà lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) trong sản xuất tuổi đẻ lứa đầu thường 11 - 12 tháng Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003) [5]
2.2.1.3 Sinh lý chửa và đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài
Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường
Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ 25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi
đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung mở, sữa bắt đầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời điểm đẻ: Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong; trước khi đẻ 1 ngày, hàng
vú giữa vắt được sữa đầu; trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu và trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Trang 20Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều tiết của thần kinh - thể dịch Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, thường gọi là cơn đau, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Khi thai ra rốn thai tự đứt
Lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng 10 - 15 hoặc 20 phút đẻ
1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa
ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay
2.2.2 Sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng
2.2.2.1 Sinh lý tiết sữa của lợn nái
Sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [25]
Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp Theo Nguyễn Thiện và cs (1996) [29], ở lợn không có bể sữa nên lợn nái không có dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào bầu
vú gây nên Phản ứng tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng Hypothalamus, từ đó kích thích tuyến yên sản sinh
ra kích tố oxytocin tiết vào máu, kích tố này đi vào tuyến bào tuyển kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytocin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau cho sản lượng sữa khác nhau
Sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí khác nhau của bầu vú cũng không giống nhau: các vú trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém (Nguyễn Khánh Quắc và cs, 1995) [18] Theo Trương Lăng (1996) [11], vú nằm ở trước ngực sản lượng sữa tiết nhiều hơn, trong thời kỳ tiết sữa, lợn con bú ở vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36 - 45 kg sữa vì oxytocin theo máu đến vú trước
Trang 21sớm hơn Vì vậy để đảm bảo tính đồng đều của toàn ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước Cần tách riêng lợn con để chờ đến khi cả đàn đẻ xong mới cho cả đàn vào bú, nhưng nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể sau khi sinh, vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng với ngoại cảnh (Phan Đình Thắm, 1996) [24] Khi bú, lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú mẹ của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó đột nhiên nằm im hoàn toàn và tiến hành bú Sữa tiết
ra thể hiện rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên mút theo đợt tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ
20 - 25 lần/ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra khoảng 25 - 35 gam/con
Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng dần từ lúc sau đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần
2.2.2.2 Sữa lợn mẹ
Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con Việc cai sữa cho lợn con có thể thực hiện được ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, phải có một lượng máu rất lớn chảy qua bầu vú mới đảm bảo cho nhu cầu tạo sữa: khoảng 540 lít máu chảy qua bầu vú mới tạo được thành 1 lít sữa lợn mẹ Sữa lợn mẹ tiết ra trong vòng 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [30], thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,3%, cao hơn sữa thường (19,6%) Hàm lượng protein cũng cao hơn sữa thường (11,5% so với 6,8%), tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn sữa thường
Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể globulin và các chất khác bảo
vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các vi rút, vi trùng gây bệnh Lượng
Trang 22globulin chiếm khoảng 50% tổng số protein của sữa đầu, sau đó giảm dần Khả năng hấp thụ globulin của lợn con chỉ xảy ra trong những giờ đầu sau khi sinh (trong vòng
24 giờ đầu tiên) Do vậy sữa đầu đóng vai trò quan trọng đối với lợn con theo mẹ
2.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái
Theo Trương Lăng (1996) [11], khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào giống, thể trạng, tuổi, lứa đẻ, số lượng lợn con đẻ ra, mức độ dinh dưỡng của thức ăn
và chăm sóc
a) Giống và cá thể
Các giống lợn khác nhau có khả năng tiết sữa khác nhau Các giống lợn được cải tạo có năng suất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo Ví như, lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1 - 25 kg, lợn Móng Cái là 27,5 - 29,1 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40 - 50 kg
Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến năng suất sữa trong thời kỳ đầu của quá trình tiết sữa Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn lợn mẹ có thể trạng trung bình Có thể tăng lượng thức ăn cho lợn mẹ trong những ngày đầu tiên sau khi đẻ
để tăng khả năng tiết sữa, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được tăng thức ăn có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa Đối với lợn có thể trạng trung bình, nếu cho ăn nhiều thức ăn trong giai đoạn đầu của quá trình tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và có xu hướng làm giảm hao hụt của lợn mẹ trong quá trình tiết sữa
Trang 23Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở tuần thứ 3, sau đó giảm dần đến tuần thứ 8
c) Số con đẻ ra/lứa
Nếu số lượng con đẻ ra/lứa cao thì sản lượng sữa/chu kỳ sẽ cao, song lượng sữa của một con bú được trong 8 tuần sẽ ít và ngược lại
d) Mức dinh dưỡng và chăm sóc
Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Dinh dưỡng trong thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chất lượng sữa vì đó là nguyên liệu cần thiết để tạo thành sữa Tỷ lệ nuôi sống ở lợn con tăng nếu lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo ở giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kỳ tiết sữa đầu Cơ sở của vấn đề này là khi cho lợn mẹ ăn nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa, do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn
Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh hưởng đến các thành phần hóa học của sữa Khi cho lợn nái ăn tăng khẩu phần ăn, sẽ làm tăng thành phần hóa học của sữa thông qua tăng quá trình trao đổi đến bầu vú lợn mẹ Quá trình hình thành các chất dinh dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng hợp, một số thông qua quá trình lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp từ máu Hàm lượng các vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng các vitamin trong thức ăn và cả lượng vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào
Kỹ thuật chăm sóc, quản lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết sữa của lợn nái Các động tác không thích hợp như đánh đuổi lợn, gây tiếng động mạnh trong khu vực chuồng nuôi lợn nái nuôi con… đều gây ức chế quá trình tiết sữa của lợn nái Ngoài ra, nếu chăm sóc không chu đáo dễ gây cho lợn mẹ các bệnh như viêm vú từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sữa
2.2.3 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
a) Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn
có hệ số choán cao, gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt
Trang 24Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn
mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa
Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu
vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn
mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng dần dần đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
b) Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất
và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải được vệ sinh sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên
để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ
1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn
mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó
là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có
Trang 25tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không
bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con
Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn
mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời
2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
a) Quy trình nuôi dưỡng
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy
ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ
Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 - 2
- 3 kg tương ứng với mỗi ngày
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày + Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Trang 26Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước khi cai sữa, lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
- Đối với lợn nái nội
+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm như sau: Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg: Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg); Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị
Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên: Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg); Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị
b) Quy trình chăm sóc
Vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin
Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng
ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập
ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75%
2.2.4 Chẩn đoán, phòng và trị một số bệnh ở nái sinh sản
2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [23], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp
Trang 27niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh
a) Nguyên nhân
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 - 10 ngày Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [23] cho rằng, có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng
Về nguyên nhân do vi khuẩn, Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [6]
cho biết, bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trecbomonas fortus) và do nấm Candda albicans
Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc
tử cung bị sây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo Viêm tử cung thường kèm theo tiết dịch qua âm đạo Người ta có thể căn cứ vào dịch tiết và thời gian tiết dịch từ âm đạo để chẩn đoán bệnh viên tử cung ở lợn nái (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện
b) Triệu chứng
Trang 28Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [21], khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ (39 - 39,50C), chiều sốt cao (40 - 410C), con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mảnh tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn
Theo Nguyễn Văn Thanh (2004) [20], tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
c) Hậu quả
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7] và Trần Thị Dân (2004) [4], khi lợn nái
bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Sảy thai: Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự
co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể
bám chặt vào tử cung Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội
mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α phá huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản dẫn máu đến nuôi thể vàng, làm giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng, dẫn đến thể vàng bị phá huỷ, không
tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm, làm cho
trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Lợn mẹ bị viêm tử cung, lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
do lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại, tỷ
lệ phối giống không thụ thai tăng lên (Trần Thị Dân, 2004) [4]
- Giảm độ mắn đẻ
- Viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm
tử cung, viêm vú và mất sữa), từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng