1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Hiện Quy Trình Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Và Trị Bệnh Cho Đàn Gà Lương Phượng Cty Thuốc Thú Y SVT

54 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 sản xuất và chất lượng trứng của gà Lương Phượng em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn gà Lương Phượng sinh sản tại trạ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRƯƠNG VĂN CƯỜNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN GÀ LƯƠNG PHƯỢNG SINH SẢN TẠI TRẠI LIÊN KẾT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN THUỐC THÚ Y

SVT THÁI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên – năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRƯƠNG VĂN CƯỜNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN GÀ LƯƠNG PHƯỢNG SINH SẢN TẠI TRẠI LIÊN KẾT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN THUỐC THÚ Y

SVT THÁI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Lớp: K47 – CNTY - N02

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Giảng viên hướng dẫn: TS La Văn Công

Thái Nguyên – năm 2019

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp đại học Để hoàn thành bản khoá luận này em đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và trang trại chăn nuôi liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp

đỡ, động viên của người thân trong gia đình Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập

Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn nhiệt

tình của thầy giáo hướng dẫn TS La Văn Công, người đã trực tiếp hướng dẫn em

thực hiện chuyên đề này

Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban quản lý cùng toàn thể cô chú kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt thời gian em thực tập tại trại

Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội đồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019

Sinh viên

Trương Văn Cường

Trang 4

ii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của xã Hướng Đạo 4

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại gà 4

2.1.4 Mô hình tổ chức của trang trại 5

2.1.5 Quy mô, cơ cấu của đàn gà 6

2.2 Tổng quan tài liệu 6

2.2.1.Cơ sở khoa học của đề tài 6

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 17

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 20 3.1 Đối tượng 20

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 20

3.3 Nội dung thực hiện 20

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 20

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 20

Trang 5

iii

3.4.2 Phương pháp thực hiện 21

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 22

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Kết quả công tác phòng bệnh cho đàn gà tại trại 23

4.1.1 Vệ sinh phòng bệnh 23

4.1.2 Phòng bệnh bằng vắc xin 25

4.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn gà tại cơ sở 25

4.2.1 Công tác chuẩn đoán bệnh cho đàn gà tại trại 25

4.2.2 Công tác điều trị bệnh cho đàn gà tại trại 30

4.3 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà tại trại 30

4.3.1 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà tại trại 30

4.3.2 Tỷ lệ nuôi sống đàn gà tại trại 33

4.3.3 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của đàn gà tại trại 34

4.3.4 Khả năng thu nhận thức ăn và sản lượng trứng của đàn gà tại trại 36

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.1.1 Công tác phòng bệnh 38

5.1.2 Chẩn đoán và điều trị bệnh 38

5.1.3 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 38

5.2 Đề nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh tại trại 23

Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác phòng vắc xin cho gà tại cơ sở 25

Bảng 4.3 Kết quả chuẩn đoán bệnh cho đàn gà tại trại 29

Bảng 4.4 Kết quả điều trị bệnh cho đàn gà tại trại 30

Bảng 4.5 Thời gian chiếu sáng cho đàn gà sinh sản tại trại 32

Bảng 4.6 Kết quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 32

Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống của gà Lương Phượng sinh sản qua các tuần tuổi 33

Bảng 4.8 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của gà Lương Phượng sinh sản 35

Bảng 4.9 Diễn biến tiêu thụ thức ăn và năng suất trứng của đàn gà qua theo dõi 37

Trang 8

2015 và 42% vào năm 2020 Phát triển chăn nuôi nhằm tạo việc làm nâng cao thu nhập của khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho người dân và thúc đẩy tiến trình giảm nghèo Sản phẩm chăn nuôi không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn cho nhu cầu xuất khẩu Chăn nuôi gia cầm chiếm vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người Các sản phẩm trứng và thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao, tương đối đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng Trứng gia cầm có tới 12,5% protein, thịt gia cầm có 22,5% protein, trong khi

đó ở thịt bò là 20% protein và ở thịt lợn là 18% protein Trên thực tế chăn nuôi gia cầm đã trở thành một nghề không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của mọi quốc gia Ở nước ta chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế nông hộ, chiếm 19% tổng thu nhập nông hộ, xếp thứ hai sau chăn nuôi lợn Do nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển nên nhu cầu đời sống nhân dân ngày càng cao Vì vậy, phát triển chăn nuôi gia cầm không chỉ để thoả mãn về nhu cầu về thực phẩm mà còn phải đáp ứng được nhu cầu về chất lượng sản phẩm Chính vì vậy mà trong những năm gần đây Nhà nước ta đã cho nhập, lai tạo một số giống gia cầm có năng suất, chất lượng sản phẩm tốt như: gà Ri, Lương Phượng, F1(Ri×LP)… nhằm đáp ứng được nhu cầu của người dân Để giúp người chăn nuôi có thêm cơ sở khoa học tìm ra các yếu tố ảnh hưởng và biện pháp nâng cao

Trang 9

2

sản xuất và chất lượng trứng của gà Lương Phượng em tiến hành thực hiện

chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn gà Lương Phượng sinh sản tại trại liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà sinh sản tại

liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương

- Xác định được tình hình sản xuất của trại

- Xác định được quy trình chuẩn đoán, phòng và trị bệnh cho đàn gà tại trại

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được quy trình sản xuất của trại

- Áp dụng được quy trình, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn gà của trại

- Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp để trở thành một người cán bộ có chuyên môn cao

- Có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến chuyên môn trong thực tiễn sản xuất

Trang 10

3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại gà liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương nằm trên địa bàn hành chính của xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc

Xã Hướng Đạo là một trong 13 xã, thị trấn thuộc huyện Tam Dương, gồm 15 thôn: thôn Bồ Yên, thôn Cao Hảo, thôn Cổng Săn, thôn Điền Trù,

thôn Dộc Lịch, thôn Dộc Săn, thôn Giếng Mát, thôn Làng Chùa, thôn Làng Quế, thôn Mé, thôn Mới, thôn Phú Cường, thôn Thông, thôn Yên Hiệp, thôn Yên Sơn Vị trí địa lý:

Phía Đông giáp với xã Kim Long

Phía Tây giáp với thị trấn Hợp Hòa

Phía Nam giáp với xã Thanh Vân

Phía Bắc giáp với xã Hoàng Hoa

- Lượng mưa: trung bình năm đạt 1.400 - 1.600mm Lượng mưa phân

bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô (từ tháng 11 năm nay đến tháng 4 năm sau) chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm

Trang 11

4

- Số giờ nắng: tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 - 1.800

giờ Tháng có nhiều giờ nắng nhất là tháng 6 và tháng 7; tháng có ít giờ nắng nhất là tháng 12 và tháng 1

- Chế độ gió: trong năm có hai loại gió chính là gió Đông Nam, thổi từ

tháng 4 đến tháng 9; và gió Đông Bắc, thổi từ tháng 10 năm nay đến tháng 3 năm sau

- Độ ẩm không khí: độ ẩm bình quân cả năm là 83% Nhìn chung, độ

ẩm các tháng trong năm không chênh lệch nhiều giữa vùng núi với vùng trung

du và đồng bằng

- Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi bình quân trong năm là 1.040 mm Từ

tháng 4 đến tháng 9, lượng bốc hơi bình quân trong một tháng là 107,58 mm;

từ tháng 10 năm nay đến tháng 3 năm sau là 71,72 mm

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của xã Hướng Đạo

Trong những năm gần đây, kinh tế của xã có những bước phát triển khá, tăng trưởng bình quân đạt mức cao và ổn định Năm 2017, thu nhập bình quân 33,43 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản 36,89%, Công nghiệp - Xây dựng 36,96%, thương mại - dịch vụ 26,15%

Mục tiêu chung của toàn xã, phấn đấu xã Hướng Đạo trở thành xã nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, văn minh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại gà

- Trại được thiết kế xa khu dân cư với diện tích 0,8 ha, có hệ thống bảo

vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh trại

- Trại gồm có: 2 dãy chuồng xây dựng theo hướng Đông, mỗi chuồng

có diện tích 650m2 nuôi từ 4500 – 5000 con gà

Trang 12

- Trại được trang bị máng ăn thủ công, máng uống nước tự động, mỗi chuồng có 8 đường máng ăn, 4 đường nước và 2 bình nước 500 lít

- Sân trại và lối đi giữa 2 chuồng được bê tông hóa

- Hệ thống điện sử dụng đường điện 3 pha, có 2 máy phát điện, có hệ thống đèn cảnh báo

- Trại có 2 khu nhà ở cho công nhân, 1 nhà kho để chứa dụng cụ chăn nuôi

- Kho trứng, buồng xông trứng và hệ thống máy ấp trứng được đặt trong một căn nhà lớn với diện tích 300m2, cách 02 dãy chuồng nuôi 30m về phía đầu

2.1.4 Mô hình tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trại như sau: Đội ngũ quản lý, kỹ thuật và công nhân gồm:

Trang 13

6

2.1.5 Quy mô, cơ cấu của đàn gà

Trại được thành lập vào 15/03/2018, có nhiệm vụ chính là sản xuất con giống Quy mô chăn nuôi gồm 2 chuồng với diện tích mỗi chuồng 650m2, 2 dãy chuồng được xây dựng song song với nhau có cơ cấu từ 4500 – 5000 gà/chuồng nuôi Kế hoạch của trại sẽ mở rộng thêm diện tích chuồng trại và tăng thêm quy mô đàn trong thời gian tới

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1.Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng

*Nguồn gốc:

Gà Lương Phượng có xuất xứ từ bờ sông Lương Phượng tỉnh Triết Giang - Trung Quốc, được nhập vào nước ta từ năm 1989 về Trung tâm giống gia cầm Thụy Phương thuộc Viện chăn nuôi quốc gia, đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài Mục tiêu của hãng là nhân giống, chọn lọc, lai tạo và cung cấp các tổ hợp lai gà thịt lông màu có thể nuôi theo nhiều phương thức nuôi: Thâm canh, bán thâm canh, thả vườn

Gà Lương Phượng có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi, sức đề kháng tốt, chất lượng thịt thơm ngon, giữ được hương vị vốn có của các dòng gà địa phương

* Tính năng sản xuất:

Trang 14

7

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [6], tính năng sản xuất của đàn gà

bố mẹ như sau:

- Khối lượng ở 20 tuần tuổi: 1,7 - 1,8 (gà mái) ; 2,0 - 2,2 kg (gà trống)

- Tuổi đẻ đầu: 24 tuần tuổi;

- Năng suất trứng quả/năm/mái: 150 - 170 quả;

2.2.1.2 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm đẻ trứng

*Cơ quan sinh dục cái của gia cầm:

+ Buồng trứng:

Buồng trứng nằm bên trái xoang bụng, được giữ bằng màng bụng Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm

Ở gà 1 ngày tuổi có kích thước l- 2 mm, khối lượng 0,03g Gà thời

kỳ đẻ, buồng trứng hình chùm nho, chứa nhiều tế bào trứng, có khối lượng

45 - 55g, khi gà đẻ thay lông và gà dò có khối lượng buồng trứng 5g Sự hình thành buồng trứng, kể cả các tuyến sinh dục (bộ sinh dục) xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi: phôi gà vào ngày thứ 3, vịt, ngỗng vào ngày thứ 4 và 5 Trong buồng trứng có chất vỏ và chất tuỷ Bề mặt vỏ được phủ bằng một lớp biểu mô gồm các tế bào hình trụ Dưới chúng có màng cứng liên kết mỏng, sau nó có hai lớp nang với các tế bào trứng

Chất tuỷ nằm ở góc buồng trứng và được cấu tạo từ mô liên kết với một lượng mạch máu và dây thần kinh lớn Trong chất tuỷ có những khoang (lỗ hổng) được phủ bằng lớp biểu mô dẹt và tế bào kẽ Gà có 4 - 5 giai đoạn tuổi: 0-6 (9); 7 (10); 19 (20); 21-25 và 26-66 (72) tuần tuổi Mỗi lứa tuổi xảy ra những thay đổi về cấu trúc và chức năng của buồng trứng

Trang 15

Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý: Ống dẫn trứng chia làm

5 phần loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo

Chức năng của ống dẫn trứng chủ yếu là nhận tế bào trứng rụng, hình thành nên các bộ phận và thành phần khác (lòng trắng bao quanh lòng đỏ, màng vỏ cứng của trứng…) và di chuyển trứng từ phễu đến âm đạo

- Loa kèn: Phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng dài 4 – 7 cm, đuờng kính 8 - 9 cm Nó nằm dưới buồng trứng Loa kèn có thân (loa kèn) và

cổ Bề mặt niêm mạc phễu gấp nếp, không có tuyến Lớp niêm mạc cổ loa kèn

có tuyến hình ống, chất tiết của nó tham gia vào tạo trứng Thành nhu động theo một chiều nhờ lóp dây co từ mép đến cuống Nhờ kiểu nhu động sóng một chiều nên có thể hút được tế bào trứng rụng về mình và không thể rơi vào xoang bụng Tế bào trứng nằm ở loa kèn không quá 20 - 30 phút Có nhiệm

vụ hứng tế bào trứng rụng, nhu động tạo ra lực đẩy tế bào trứng xuống phần ống dẫn

- Phần tiết lòng trắng: Là phần dài nhất của ống dẫn trứng Ở thời kỳ

gà mái đẻ rộ phần tạo lòng trắng dài 30 - 50 cm Niêm mạc có gấp nếp dọc, trong đó có tuyến hình ống giống cổ phễu tiết ra chất lòng trắng đặc và lòng trắng loãng Trứng lưu lại đoạn này không quá 3 giờ Ở đây tiết ra chất lòng trắng đặc và loãng bổ sung vào lòng trắng đặc ở trong, còn lòng trắng loãng ở ngoài

- Phần eo: Phần hẹp của ống dẫn trứng dài 8 cm Niêm mạc nếp gấp sít Các tuyến ở eo tiết ra chất hạt giống như keratin tạo nên lớp sợi chắc quấn

Trang 16

- Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, sau khi hình thành thì trứng rơi vào đó Giữa tử cung và âm đạo có phần thu hẹp, ở đó có van cơ

Âm đạo dài 7 - 12 cm, niêm mạc nhẵn, không có tuyến

* Những trường hợp dị hình:

- Trứng vỏ mềm: Do thức ăn thiếu các chất khoáng (Ca, P) hoặc do cơ thể bị chấn động thần kinh quá mạnh, chưa kịp tạo vỏ trứng, hoặc do các bệnh khác … Trứng đẻ ra có màng lòng trắng tương đối dày và dai

- Trứng không có lòng đỏ: Do trong cơ thể có những tế bào chết rơi vào loa kèn, vào ống dẫn trứng khi đó loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt được là tế bào chết hay tế bào trứng vì vậy quá trình tạo trứng vẫn được hình thành trứng nhỏ

- Trứng hai lòng đỏ: Do hai trứng cùng rụng vào một thời điểm hoặc cách nhau không quá 20 phút vì vậy hình thành nên quả trứng rất to

- Trứng trong trứng: Thường ít gặp, do bị kích động đột ngột một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại gây ra nhu động ngược lên phía trên gặp tế bào trứng mới rụng, trứng sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng

Trang 17

10

- Ngoài ra còn có trứng méo mó, không có vỏ do thiếu khoáng, vitamin D hoặc do co bóp của ống dẫn trứng…

2.2.1.3 Tuổi thành thục về tính dục

Ở gà, tuổi thành thục về tính dục được tính từ khi gà đẻ bói đối với từng

cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5%, đối với toàn đàn Tuy nhiên xác định tuổi đẻ của gà dựa trên số liệu của từng cá thể trong đàn là chính xác nhất Tuổi thành thục về tính dục chịu ảnh hưởng bởi giống và môi trường Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau

* Tuổi đẻ đầu

Đó là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5% Theo Brandsch và Bilchel, 1978 [1]những

gà có tuổi đẻ quả trứng đầu lớn hơn 245 ngày cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn 215 ngày là 6,9 quả Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Tuổi

đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Những gia cầm thuộc giống bé có khối lượng cơ thể nhỏ tuổi thường thành thục sinh dục sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn

Tuổi gà đẻ đạt 50%:

Tuổi gà đẻ đạt đỉnh cao: Đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia

cầm Đỉnh cao của tỷ lệ đẻ cho biết mối tương quan với năng suất trứng Tỷ lệ đẻ

Trang 18

11

cao, thời gian đẻ kéo dài trong thời kỳ sinh sản chứng tỏ là giống tốt Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao và ngược lại Gà chăn thả sẽ có tỷ lệ đẻ thấp trong mấy tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và

tỷ lệ đẻ đạt cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần ở cuối kỳ sinh sản Năng suất trứng trên năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ trứng đạt cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ (Khavecman, 1972) [4]

* Những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính

Thời gian chiếu sáng cũng ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính dục Thí nghiệm của Morris T R (1967) [13] trên gà Legohrn được ấp nở quanh năm cho biết, những gà được ấp nở vào tháng 12 và tháng 1 thì nó có tuổi thành thục về tính là 150 ngày Những gà được ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì tuổi thành thục trên 170 ngày Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính ngắn hơn vì thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của chúng diễn

ra trong những ngày có thời gian chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do vậy sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn tuổi thành thục về tính dục

Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng; thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể

ở một thời điểm nhất định Những gia cầm thuộc giống có khối lượng cơ thể nhỏ, tuổi thành thục sinh dục thường sớm hơn những gia cầm có khối lượng

cơ thể lớn Trong cùng một giống, cơ thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn

Trang 19

12

2.2.1.4 Cường độ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng: là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Trong

thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường Thời gian kéo dài sự

đẻ có liên quan tới chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc cường độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các trật đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi ấp Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng đòi ấp khác nhau

Chu kỳ đẻ trứng: được tính từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến khi ngừng đẻ

và thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất Chu kỳ thứ hai bắt đầu từ khi gia cầm bắt đầu đẻ lại (sau khi thay lông) tới khi ngừng đẻ và thay lông lần thứ hai Cứ như thế có thể xác định tiếp tục các chu kỳ tiếp theo Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm con mà bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau thường ở gà là một năm Nó có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng, yếu tố này

do hai gen P và p điều hành Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ

* Các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ đẻ trứng

Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gà thường hay nghỉ đẻ mùa Đông do nguyên nhân giảm dần về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên Ngoài ra sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn

- Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính dục

Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ để đầu và chu kỳ đẻ tiếp theo Gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ với thời gian dài, ảnh hưởng xấu tới giá trị kinh tế vì không thu được trứng giống Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng, gà đẻ năm thứ hai sản lượng trứng giảm khoảng 10-20%

Trang 20

13

- Ảnh hưởng của bản năng đòi ấp

Bản năng đòi ấp là một đặc tính bẩm sinh của gia cầm để duy trì nòi giống Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, ở các dòng, các giống khác nhau thì tỷ lệ xuất hiện bản năng đòi ấp cũng khác nhau, các giống gà chuyên dụng qua quá trình lai tạo và chọn lọc thì bản năng đòi ấp hầu như không còn Riêng đối với các giống gà địa phương bản năng đòi ấp vẫn còn và có tỷ lệ rất cao, ở gà Ri tỷ lệ đòi ấp trên 30%, chính vì vậy mà sản lượng trứng thấp hơn Gà Ri nuôi đại trà trong nông thôn hộ chỉ đẻ 86,99 quả/mái (Hồ Xuân Tùng, 2009) [5], trong khi đó ở gà Lương Phượng là 168,73 quả/mái (Trần Công Xuân và cs, 2004) [7]

- Ảnh hưởng của sự thay lông

Sự thay lông của gà là một quá trình sinh lý tự nhiên Ở gia cầm hoang

dã thì thời gian thay lông vào mùa thu Thời gian thay lông càng dài, sản lượng trứng càng thấp Sức đẻ trứng giảm ngay sau khi gà rụng lông Trong thời kỳ thay lông buồng trứng bị thoái hóa và khối lượng của buồng trứng bị giảm đi khoảng đi khoảng 5% so với khối lượng lúc trước

- Ảnh hưởng của nhiệt độ

Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nhiệt độ cao hoặc thấp đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu thụ thức ăn Khi được nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20oC nhu cầu

về năng lượng là thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, mức tiêu thụ thức ăn này sử dụng cho việc sưởi ấm cơ thể, do vậy tiêu thụ thức ăn và tiêu tốn nhiều cho quá trình hô hấp, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sản lượng trứng sẽ giảm

- Ảnh hưởng của độ ẩm

Độ ẩm quá cao (>80%) làm cho chất độn chuồng bị ướt, ẩm độ cao tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian chuồng nuôi, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, đặc biệt là cầu trùng; tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến năng suất trứng và mức độ tiêu tốn thức ăn Độ ẩm quá thấp (<31%) làm cho gia

Trang 21

14

cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất, tuy nhiên ở miền Bắc Việt Nam thì không bị ảnh hưởng của độ ẩm thấp

- Ảnh hưởng của mùa vụ và chế độ chiếu sáng

Mùa vụ với thời tiết, khí hậu, độ dài ngày chiếu sáng và nguồn thức ăn

tự nhiên giữ một vai trò quan trọng, nó chi phối và ảnh hưởng lớn sức đẻ trứng của gia cầm, đặc biệt đối với gia cầm nuôi theo phương thức quảng canh hoặc bán thâm canh

Ngoài ra yếu tố về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng Đối với gà đẻ, chế độ chiếu sáng ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính dục, cường độ đẻ trứng và độ dài trật đẻ

- Ảnh hưởng của dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng

Thức ăn không chỉ ảnh hưởng tới khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng và chất lượng trứng Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản thì lipit, năng lượng, axit amin (arginine, methionine), vitamin (A, D, B1, B2, B6 và axit pantothenic), khoáng vi lượng (đặc biệt là Mn) cần được chú ý nhất, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến trứng

2.2.1.5 Sản lượng trứng

Sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Sản lượng trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Sản lượng trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm:

Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động nó chịu ảnh hưởng của tổng hợp yếu tố bên trong và bên ngoài

- Ảnh hưởng của các yếu tố bên trong:

Trang 22

15

+ Giống và dòng là yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp Cụ thể dòng leghorn trung bình có sản lượng 250-270 trứng/năm Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15 – 30% về sản lượng (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [6]

+ Ảnh hưởng của tuổi gia cầm:

Tuổi của gia cầm có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó Như một quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất, còn vịt thì ngược lại, năm thứ hai cho sản lượng trứng cao hơn 9 - 15%

+ Tuổi thành thục sinh dục:

Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ rệt đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo Theo Chamber (1990) [8] thì gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh học Nhưng nếu gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài

+ Ảnh hưởng của bệnh tật đến sản lượng trứng của gia cầm thông qua việc làm giảm đầu con, giảm khả năng đẻ trứng

- Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài:

+ Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sản lượng trứng

Nhiệt độ ảnh hưởng tới sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu tốn thức

ăn Ở điều kiện nước ta nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng là 14 – 220C Nếu nhiệt độ dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng lượng chống rét, tiêu tốn thức ăn cho việc sản xuất một quả trứng cao Nhiệt độ cao sẽ làm giảm mức tiêu thụ thức ăn, lượng thức ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và như vậy sản lượng trứng sẽ bị giảm

+ Ảnh hưởng của mùa vụ và ánh sáng đến sản lượng trứng:

Trang 23

ta do khí hậu khác với các nước, cho nên cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng từ 8 -12 giờ chiếm 60% đến gần 70% so với gà đẻ trứng trong ngày.

+ Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng:

Theo Bạch Thị Thanh Dân (1999) [3] cho biết gà nội (gà Ri) đẻ 90 -

120 trứng/mái/năm Đối với giống gà nội thì ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng là không lớn nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh dưỡng cần được chú ý Nhu cầu dinh dưỡng của gà nuôi nhốt phải tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng so với gà chăn thả

Tác giả cũng cho biết hàm lượng protein, canxi, photpho và lipit trong máu gà đang đẻ trứng cao gấp 2, 3 thậm chí đến 4 lần so với trong máu gà không đẻ trứng Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong máu chứng tỏ gà cần protein để tạo noãn hoàng Khi gà ngừng đẻ thì hàm lượng các chất này trong máu lại giảm đi Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà đẻ là: 5/1

Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau cũng cho sản lượng trứng khác nhau Gà nuôi chuồng lồng thì sản lượng trứng đạt 223 quả/năm, trong khi đó đối với gà nuôi nền chỉ đạt 201 trứng/năm, còn

gà nuôi chăn thả chỉ đạt 170 trứng/năm

Trang 24

17

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghề chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời nay với quy mô nhỏ, mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con, chăn thả tự do

Vào những năm gần đây ngành chăn nuôi của nước ta phát triển rất nhanh

và đạt được những tiến bộ rõ rệt Vào những năm cuối của thập kỷ 60, Hungary giúp ta xây dựng xí nghiệp nuôi gà Cầu Diễn (Hà Nội) và Thành Tô (Hải Phòng)

đã nuôi tập trung với số lượng ít Đến năm 1974 được sự giúp đỡ của Cu Ba nước ta xây dựng được trung tâm gà giống hướng trứng Việt Nam – Cu Ba (Ba

Vì – Hà Tây) và trung tâm gà giống hướng thịt Việt Nam – Cu Ba (Tam Đảo – Vĩnh Phúc) Đây là bước đánh dấu khởi đầu sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm, nhất là chăn nuôi gà công nghiệp Đến nay ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta phát triển rất mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng Theo số liệu thống

kê của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, trong số gần 135 triệu gia cầm thì có khoảng 100 triệu con là gà (gà công nghiệp chiếm 20 – 30%), đến nay đã thành lập và xây dựng hoàn chỉnh nhiều trạm ấp, xí nghiệp nuôi gà trong cả nước như: Tam Dương, Lương Mỹ, Nhân Lễ… và nhập nội nhiều giống gà cao sản chuyên trứng như: Goldlime 54 của Hà Lan năm 1990 giống gà Moravia của Tiệp Khắc năm 1991, giống gà Hyloro HV – 85 có nguồn gốc từ Hà Lan, Việt Nam nhập vào năm 1985 từ Cu Ba nuôi tại trung tâm gà giống hướng thịt Tam Đảo – Vĩnh Phúc Cùng với việc nhập giống chuyên trứng, chuyên thịt, nước ta còn nhập thêm giống chuyên dụng như: Phode Island (Mỹ), Tam Hoàng, Lương Phượng (Trung Quốc)… gà Lương Phượng nước ta nhập vào năm 1995 từ Quảng Tây – Trung Quốc hiện nay được người chăn nuôi rất ưa chuộng bởi đặc tính lớn nhanh, da vàng, thịt mịn, thơm ngon, màu lông thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng, thích hợp với điều kiện chăn nuôi ở nông hộ

Trần Thanh Vân và cs (2015) [6] cho biết:

Trang 25

18

- Gà mái Lương Phượng đạt khối lượng 2.100g vào lúc bắt đầu đẻ

- Tuổi đẻ đầu 24 tuần tuổi

- Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng 2,4 – 2,6kg

- Tỷ lệ nuôi sống 95%

- Đẻ 177 trứng/năm

Hiện nay, tại Vĩnh Phúc giống gà Lương Phượng được nuôi phổ biến tại các nông hộ và trại gà tập trung

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo Letner và cs (1987) [11] thời gian gà đẻ trứng thường từ 7 – 17giờ, nhưng đa số đẻ vào buổi sáng Cụ thể số gà đẻ 7 - 9 giờ đạt 17,7% so với tổng

gà đẻ trong ngày

Winkler G và cs (2002) [17] cho biết: các nhà vi trùng học đã phân loại

hơn 170 nhóm huyết thanh E.coli khác nhau Trong mỗi một nhóm có 1 hay nhiều serotype E.coli O157H7 được trung tâm giám sát dịch bệnh của Mỹ phát

hiện đầu tiên vào năm 1975, sau 8 năm E.coli O157H7 mới được xác định chắc chắn là nguyên nhân gây bệnh viêm ruột Đặc biệt năm 1982, một số ổ dịch ngộ độc thực phẩm bao gồm cả trường hợp bị dung huyết dạ dày, ruột Với

kết quả này, người ta xác định rõ E.coli O157H7 là vi khuẩn gây dung huyết

Mc Dowell (1989) [12], Pardue (1984) [15] đã nhận thấy khi bổ sung vitamin C cho gà mái đẻ, làm tăng sản lượng trứng, độ bền vững của vỏ trứng, tăng khả năng sinh sản, tỷ lệ trứng có phôi Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu người ta không thấy hiệu quả dương tính, khi bổ sung vitamin C vào khẩu phần ăn của gia cầm

Kết quả nghiên cứu của Nakaya và cs (1986) [14] cho thấy bổ sung vitamin C giúp nâng cao sản lượng trứng, độ vững chắc của vỏ trứng

Theo Raleich (1984) [16], gà đẻ sống trong môi trường nhiệt độ cao, khi

bổ sung vitamin C đã làm tăng sản lượng trứng, nâng cao khối lượng trứng, không thấy có sự thay đổi về chất lượng vỏ trứng Các nghiên cứu khác về

Trang 26

19

ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin C cho thấy, với liều 200mg/kg thức ăn chỉ làm tăng chất lượng trứng, mà không làm tăng sản lượng trứng

Khaustov (1983) [10] nhận thấy khi bổ sung 100 mg/kg thức ăn cho vịt

đẻ, đã làm tăng sản lượng trứng từ 11,11 - 13,56% và tăng hàm lượng carotenoid trong lòng đỏ trứng lên 19,97 - 28,7% Bổ sung vitamin C với liều

22 lượng 100 mg/kg thức ăn cho gà đẻ làm tăng sản lượng, chất lượng trứng tăng, tỷ lệ loại thải giảm đồng thời tăng hiệu quả kinh tế

Theo Khaustov (1983) [10] khi bổ sung vitamin C vào thức ăn gà đẻ giống Leghorn, không chỉ làm tăng sản lượng trứng mà còn làm tăng sức đề kháng của cơ thể

Trong điều kiện nhiệt độ cao, việc bổ sung vitamin C với mức 100 mg/kg thức ăn hỗn hợp cho gà đẻ đã làm tăng tỷ lệ đẻ lên 30%, tỷ lệ thụ tinh,

tỷ lệ ấp nở tăng 2% cao hơn so với lô đối chứng

Theo Freeman (1971) [9] trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao bổ sung từ 25 - 200 mg/kg thức ăn hỗn hợp làm tăng sản lượng trứng lên 30% so với không bổ sung, nâng cao chất lượng tinh trùng, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ ấp nở

Trang 27

20

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1 Đối tượng

- Đàn gà Lương Phượng sinh sản tại trại liên kết với công ty cổ phẩn thuốc thú y SVT Thái Dương

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Trại gà liên kết với công ty cổ phẩn thuốc thú y SVT Thái

Dương thuộc xã Hướng Đạo huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc

- Thời gian: Từ 20/11/2018 đến 20/5/2019

3.3 Nội dung thực hiện

- Thu thập thông tin về chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi và cơ cấu đàn gà tại trại liên kết với công ty

- Đánh giá tình hình chăn nuôi gà tại trại liên kết với công ty cổ phẩn thuốc

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh cho đàn gà của trại

- Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin

- Kết quả thực hiện công tác chuẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà tại trại

- Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà của trại

- Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà sinh sản qua các tuần tuổi

- Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của đàn gà sinh sản tại trại

Ngày đăng: 17/01/2021, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Brandsch H. và Bilchen H. (1978), "Cơ sở của sự nhân giống và di truyền ở gia cầm", Cơ sở khoa học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm, Nguyễn Chí Bảo dịch, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và di truyền ở gia cầm
Tác giả: Brandsch H. và Bilchen H
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
2. Bạch Thị Thanh Dân (1999), “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở ngan bằng phương pháp nhân tạo”, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở ngan bằng phương pháp nhân tạo”
Tác giả: Bạch Thị Thanh Dân
Năm: 1999
4. Khavecman (1972), "Sự di truyền năng xuất ở gia cầm", Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật, tập 2 Johansson chủ biên, Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng dịch, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự di truyền năng xuất ở gia cầm
Tác giả: Khavecman
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1972
5. Hồ Xuân Tùng (2009), Khả năng sản xuất của một số công thức lai giữa gà Lương Phượng và gà Ri để phục vụ chăn nuôi nông hộ, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của một số công thức lai giữa gà Lương Phượng và gà Ri để phục vụ chăn nuôi nông hộ
Tác giả: Hồ Xuân Tùng
Năm: 2009
6. Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2015), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2015
9. Freeman B.M, Stressand the domestic fowlsaphysiologicalappraisil//world’s poultry - 1971 – vol27, M3 – P263 – 275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stressand the domestic fowlsaphysiologicalappraisil//world’s poultry
10. Khaustov V.N, Vlianievitamina C u selena na productibnost u resttestvenost resistentnost kross//Avtorepherat 1983 - 18C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vlianievitamina C u selena na productibnost u resttestvenost resistentnost kross//Avtorepherat
11. Letner T.M and Taylor, (1987), The interitance of egg priduction in the domeatic fow, P.Amer, Hat 77, 1943 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The interitance of egg priduction in the domeatic fow
Tác giả: Letner T.M and Taylor
Năm: 1987
12. Mc DowellL.R. Vitamin in animalnutrition Acad. Press. Florida -1989 - 307P Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vitamin in animalnutrition Acad. Press
14. Nakaya T, Suzuki S, Watanabe K, Effects of high dose supplementation of ascorbic acid on chicks // Japan. Poultry Sc.1986 - Vol.3 - M5 - P.276 – 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of high dose supplementation of ascorbic acid on chicks // Japan. Poultry Sc
15. Pardue S.L, Thaxton J.P, Evidence for ameloration of steroid - mediated immunosuppression by acid // Poultry Sci - 1984 - Vol.63, M 6 - P.1262 -1268 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evidence for ameloration of steroid - mediated immunosuppression by acid // Poultry Sci
16. Raleich N.C, Ascorbic acid maybe promising during lay stresss // Feedstuffs - 1984 V.56 - M 21 - P.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ascorbic acid maybe promising during lay stresss // Feedstuffs
17. Winkler G, Weingberg M. D. (2002), More aboutother food borne illnesses, Healthgrades Sách, tạp chí
Tiêu đề: More aboutother food borne illnesses
Tác giả: Winkler G, Weingberg M. D
Năm: 2002
3. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn (1997), Giáo trình dinh dưỡng gia súc, Nxb Nông nghiệp Khác
8. Chamber, J.R (1990), Genetic of growth and meat production in chicken, Poultry breeding and genetic R.D Crawford Ed Elsevier Amsrerdam Khác
13. Morris T. P., (1967), "Light requirements of the fowl, In: Carter, T,C: Environment controlin poultry production, Oliver and Boys, Edinburgh 15 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w