Mục tiêu trên cơ sở nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo của Việt Nam, đề tài đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam trong thời gian tới.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -
PHAN THỊ THANH TÂM
HÀ NỘI, 2020
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1.PGS.TS TRẦN HỮU DÀO
2.TS LƯƠNG MINH HUÂN
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn
Phản biện 2: PGS.TS Đào Thị Minh Thanh
Phản biện 3: GS.TS Ngô Xuân Bình
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Học viện Khoa học Xã hội tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Vào …… giờ …… ngày …… tháng …… năm 2020 … …
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1 Phan Thị Thanh Tâm (2018), Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp, Tạp chí Công Thương, số 1/2018
2 Phan Thị Thanh Tâm (2018), Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Quốc tế, Tạp chí
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được biết đến là nước truyền thống nông nghiệp Trong những năm qua, nhờ vào sự mở cửa thương mại và toàn cầu hóa, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã đạt được những thành tích vượt bậc, đặc biệt là ngành lúa gạo Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, hiện nay, sản phẩm ngành lúa gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang trên 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Tính thời tháng 12 năm
2018, xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt 2.621,44 triệu USD, đứng thứ 3 thế giới
Xét trong bối cảnh kinh tế hiện nay, mặc dù có những điểm mạnh nhưng ngành lúa gạo của Việt Nam cũng có nhiều khó khăn và rào cản hạn trong việc phát triển năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế như qui mô sản xuất nhỏ, nhiều vùng canh tác còn lạc hậu, công nghiệp chế biến còn hạn chế, chất lượng chưa đồng đều, giá bán trên thị trường thế giới còn thấp Theo Thứ trưởng Đỗ Thanh Hải: “gạo là mặt hàng nông sản nhạy cảm được nhiều nước chú trọng áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm và về bảo vệ môi trường rất cao” Uyên (2018) [9] Tuy nhiên, hiện nay chất lượng gạo của Việt Nam rất khó đáp ứng các tiêu chuẩn đó
do hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu trong sản phẩm còn rất lớn Hơn nữa, sau cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008, các nước láng giềng của Việt Nam như Indonesia, Philippines, Malaysia đã dần chuyển hướng chính sách phát triển nông nghiệp sang hướng tự chủ [4] Điều này có nghĩa rằng, Việt Nam đã và đang có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường
Xét về lợi thế cạnh tranh trên thị trường, năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo của Việt Nam đang có xu hướng giảm Theo tính toán dựa trên số liệu thống kê của Uncomtrade, lợi thế cạnh tranh- RCA ngành lúa gạo của Việt Nam đang có xu hướng giảm Thêm vào đó, mức độ đa dạng hóa thị trường ngành lúa gạo của Việt Nam cũng có
xu hướng giảm trong khi các nước lớn như Mỹ, Ấn độ đang phát triển rất ổn định theo hướng đa dạng hóa thị trường Những điều này cho thấy thực trạng rằng năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo của Việt Nam đang giảm trên thị trường quốc tế
Theo nhiều nhà nghiên cứu nguyên nhân của những vấn đề này có thể là do: Thứ nhất, gạo của Việt Nam chưa được các nhà nhập khẩu đánh giá cao về chất lượng Thứ hai, thương hiệu gạo của Việt Nam chưa được khẳng định trên thị trường quốc tế, năng lực marketing của các doanh nghiệp xuất khẩu còn hạn chế Thứ ba, sản phẩm gạo của Việt Nam chưa thực sự đa dạng cả về mẫu mã và thị trường
Xét trên nhiều phương diện, ngành lúa gạo là lợi thế cạnh tranh và thương hiệu của Việt Nam trên thị trường quốc tế Trong những năm gần đây, các nghiên cứu trong chủ đề nâng cao năng lực cạnh tranh tại Việt Nam khá nhiều nhưng các nghiên cứu chuyên sâu về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế khá hạn chế Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các yếu
tố và giải pháp liên quan tới chính sách của Nhà nước, nâng cao năng lực lao động, đổi mới công nghệ, Tuy nhiên, những nghiên cứu tập trung vào yếu tố năng lực marketing còn hạn chế, trong để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành lúa gạo Việt Nam cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu rất cần yếu tố này Chính vì những lý do trên NCS đã quyết định lựa chọn đề tài: “Năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam” làm luận án nghiên cứu ngành quản trị kinh doanh
Trang 52.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực canh tranh nói chung và năng lực canh tranh của ngành lúa gạo nói riêng
Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế trong giai đoạn 2010- 2019
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam, trên cơ sở đó nghiên cứu sẽ lượng hóa tác động của các yếu tố này đến năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam trong giai đoạn 2021-2030
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan tới năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo của Việt Nam, bao gồm: (1) Năng lực sản xuất; (2) Chi phí sản xuất; (3) Biến động về giá gạo; (4) Thị phần xuất khẩu lúa gạo; (5) Lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế; (6) Sự đa dạng hóa mặt hàng và thị trường
Phạm vi không gian: Nghiên cứu khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo của Việt Nam trong giai đoạn 2010- 2019 Trong đó số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2010- 2019, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2019
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quy trình nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
+ Phương pháp xác định kích thước mẫu
Theo Thọ (2011) [8], kích thước mẫu cần cho nghiên cứu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phươmg pháp phân tích dữ liệu và độ tin cậy cần thiết Hiện nay, các nhà nghiên cứu xác định cỡ mẫu cần thiết thông qua công thức kinh nghiệm cho từng phương pháp xử lý Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp phân tích Exploratory Factor Analysis (EFA) và hồi qui tuyến tính
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng kết hợp cả 2 phương pháp EFA và hồi qui tuyến tính Do không thể xác định tổng thể mẫu nên tác giả sử dụng công thức xác định mẫu của Cochran (1977) [12] như sau:
Trang 63
( )
Do vậy cỡ mẫu phải đạt tối thiểu là: 384 quan sát
Trong nghiên cứu này tác giả thực hiện phỏng vấn nông dân sản xuất (200 người), thương lái (200 người), nhà máy xay xát (100), công ty lương thực (100 người) và cửa hàng bán lẻ (100 người) Thống kê khảo sát được trình bày tại bảng 2
Số phiếu gửi đi là 600 Sau khi sàng lọc, loại bỏ những phiếu không đủ tiêu chuẩn, tác giả thu được số phiếu là 421 (> 384)
4.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
4.2.2.1 Phương pháp định tính
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia kết hợp thảo luận nhóm nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu và bảng hỏi khảo sát Các phương pháp này góp phần giúp NCS có một cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu, đồng thời có những điều chỉnh hợp lý để phù hợp với điều kiện và tình hình phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
4.2.2.2 Phương pháp định lượng
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (Exploratory Factor Analysis - EFA) để tìm ra các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh ngành Đồng thời, sử dụng phương pháp hồi quy OLS để lượng hóa tác động của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo
Sau khi tìm được các biến mới từ EFA ở trên, các biến mới này sẽ được xem
là biến độc lập trong mô hình hồi qui Biến phụ thuộc là “năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo” Phương trình cụ thể như sau:
Trong đó: SC là: năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo
BC: là điều kiện sản xuất và kinh doanh ngành lúa gạo
SS: là vai trò của chính phủ
MS: là điều kiện cầu
IEI: là nhân tố chiến lược doanh nghiệp, cấu trúc và cạnh tranh
MC: là năng lực marketing của các doanh nghiệp
β1- β6: là các hệ số hồi quy
ε: là phần sai số
4.2.2.3 Kiểm định sử dụng trong mô hình
* Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Để kiểm tra độ tin cậy của thang đo tác giả sử dụng phương pháp kiểm tra hệ
số alpha (Cronbach alpha)
* Kiểm định Bartlett:
Kiểm định Bartlett để kiểm tra xem liệu ma trận đơn vị có phải là ma trận đơn hay không Trong đó nếu phép kiểm định Bartlett có p<5%, bác bỏ giả thuyết H0 (ma trận tương quan là ma trận đơn vị) Nói cách khác các biến có quan hệ với nhau
* Kiểm định KMO:
Kiểm định KMO (Kaiser – Meyer - Olkin) thường được các nhà nghiên cứu đánh giá là phương pháp tốt nhất để kiểm tra sự phù hợp của ma trận tương quan để
Trang 74
phân tích nhân tố Theo Kaiser (1974), kiểm định này có giá trị > 0.5 có nghĩa rằng phân tích nhân tố là phù hợp
* Kiểm định đa cộng tuyến
Phương pháp kiểm định đa cộng tuyến (VIF) được sử dụng để đánh giá sự chắc chắn của kết quả ước lượng Nếu hệ số phóng đại phương sai VIF (variance inflation factor) > 2 thì có dấu hiệu đa cộng tuyến, đây là điều không mong muốn Nếu VIF > 10 thì chắc chắn có đa cộng tuyến Nếu VIF <2: không bị đa cộng tuyến
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Nghiên cứu này có những đóng góp về mặt khoa học như sau:
* Về mặt lý thuyết: (i) Dựa trên cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh tác giả đã
hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn năng lực cạnh tranh của ngành của ngành lúa gạo Tác giả đã thực hiện phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế thông qua các chỉ số phản ánh năng lực cạnh tranh như năng suất của ngành, thị phần xuất khẩu, chỉ số cạnh tranh RCA và chỉ số đa dạng hóa sản phẩm, thị trường- HI Bên cạnh đó, luận án cũng kết hợp cả phương pháp định lượng (phương pháp phân tích nhân tố EFA, phương pháp hồi quy OLS) và phương pháp định tính nhằm đánh giá cụ thể năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế (ii) Bên cạnh những yếu tố cơ bản đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu như chính sách, điều kiện sản xuất, diện tích đất sản xuất, chiến lược kinh doanh dựa trên mô hình của Poster và cơ sở lý luận, tác giả đưa vào mô hình nhân tố mới là năng lực marketing
* Về mặt thực tiễn: Luận án đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam trong thời gian tới Trong đó, chú trọng tới những giải pháp về phát triển thị trường, phát triển năng lực marketing và áp dụng công nghệ cao để tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu quốc tế có liên quan đến đề tài
* Nhóm nghiên cứu tập trung đo lường năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo
Eng (2004) [13] đã thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo của các nước Đông Nam Á trong nền kinh tế lúa gạo thế giới bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Burma, Malaysia và Philippines
Irshad và cộng sự (2018) [17] đã nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành gạo tại Pakistan trên thị trường quốc tế và tiềm năng xuất khẩu của quốc gia này ra thị trường thế giới
Ilyas và cộng sự (2009) [16] với nghiên cứu năng lực cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu Châu Á trên thị trường gạo thế giới đã thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua chỉ số lợi thế cạnh tranh của Balassa (1965)
Trang 8* Nhóm nghiên cứu tập trung vào các ngành hỗ trợ và liên quan
Nghiên cứu của Jafar và cộng sự (2015) [18] về năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo Pakistan trong bối cảnh thương mại toàn cầu
Nghiên cứu của Mukhopadhyay và Chakrabarti (2016) [20] công nghiệp hóa nông nghiệp ở Ấn Độ đã tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực lúa gạo
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
Năng lực cạnh tranh đã được nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau và các quốc gia khác nhau trên thế giới, năng lực cạnh tranh cũng được nghiên cứu tại Việt Nam ở các lĩnh vực khác nhau:
* Nhóm nghiên cứu tập trung vào các chuỗi giá trị
Nghiên cứu của Chau Thanh và cộng sự (2017) [2], với đề tài Tăng cường chuỗi giá trị xuất khẩu nông sản ở khu vực Đông Nam Bộ Việt Nam
Nghiên cứu của Đức và cộng sự (2013) [3] về: Tạo thuận lợi thương mại, tạo giá trị và năng lực cạnh tranh của Việt Nam
* Nhóm nghiên cứu tập trung vào các ngành hỗ trợ và liên quan
Tuân (2011) [6] đã nghiên cứu đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thuỷ sản Việt Nam, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của toàn ngành chế biến thuỷ sản ở Việt Nam
Nghiên cứu của Thắng và Linh (2015) [7], về đề tài Chính sách cải cách nông nghiệp Việt Nam
Nghiên cứu của Huy (2014) [5],với nghiên cứu về: nâng cao sức cạnh tranh
và giá trị xuất khẩu gạo của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Qua tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh từ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, có thể thấy:
(1) Các nghiên cứu trên đây có sự thống nhất tương đối khi sử dụng khung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của M.Porter làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa hệ thống hoá về mặt lý luận và đưa ra các nhận định, đánh giá về năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo, các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo
(2) Các nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một ngành, trong đó các nghiên cứu tập trung vào các yếu tố
như: (i) Các yếu tố liên quan tới điều kiện sản xuất và kinh doanh ngành lúa gạo như:
cơ sở hạ tầng, dây chuyền sản xuất, quy mô nhà máy, cải tiến công nghệ… (ii) yếu tố
Trang 96
liên quan tới các ngành hỗ trợ, chính sách và chuỗi giá trị liên kết: chính sách, sự hỗ trợ từ phía nhà nước, liên kết liên ngành… Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu chưa chú trọng tới sự tác động của năng lực marketing trong năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo
(3) Dựa trên lý thuyết, phân tích thực tế, các nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp giúp đối tượng nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh Trong đó, các tác giả tập trung vào giải pháp phát triển chính sách, đầu tư công nghệ, tăng sự liên kết giữa khâu sản xuất và công nghệ
Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, kế thừa những nghiên cứu trước đây là phương pháp nghiên cứu, về cách tiếp cận, nghiên cứu này của tác giả sẽ thực hiện:
(1) Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh đối với ngành lúa gạo Việt Nam, hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngành
(2) Sử dụng dữ liệu khảo sát kết hợp với dữ liệu thứ cấp nhằm phân tích năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo
(3) Mô hình hóa mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam
Việc nghiên cứu thực hiện sẽ đảm bảo tính mới cả về mặt lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu đặc biệt trong bối cảnh ngành lúa gạo của Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức tương đối lớn từ sự cạnh tranh của các “nhà cung cấp lớn” khác trên thế giới trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÀNH LÚA GẠO 2.1 Khát quát về cạnh tranh
2.1.1 Khái niệm của cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
* Khái niệm của cạnh tranh
Từ những định nghĩa của các nhà nghiên cứu và tổ chức cạnh tranh trong kinh tế có thể được định nghĩa là sự ganh đua giữa các thành phần trong nền kinh tế với mục đích giành lấy thị phần, lợi thế cạnh tranh, lợi nhuận, địa vị và sự kiêu hãnh
* Khái niệm của năng lực cạnh tranh
Dựa trên những định nghĩa của các nhà nghiên cứu và tổ chức năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là: “Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường và tạo ra cơ hội thu nhập cao hơn và bền vững cho chủ thể cạnh tranh”
* Khái niệm của nâng cao năng lực cạnh tranh
Dựa trên khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh thì ta có thể hiểu nâng cao năng lực cạnh tranh bao gồm các hoạt động có mục đích của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức hoặc quốc gia nhằm tăng cường các nguồn lực, cải thiện và nâng cao các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ trên thị trường
2.1.2 Vai trò của cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó thúc đẩy quá trình phát triển của các hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá, dịch vụ
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần
Trang 102.1.3.2 Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Năng lực cạnh tranh của quốc gia được đánh giá thông qua mức độ và tốc độ tăng của mức sống, mức độ và tốc độ tăng của năng suất tổng thể, và khả năng thâm nhập của các doanh nghiệp vào các thị trường quốc tế thông qua xuất khẩu hoặc đầu
tư trực tiếp nước ngoài
2.1.3.3 Năng lực cạnh tranh cấp ngành
Từ những định nghĩa của các nhà nghiên cứu tác giả định nghĩa năng lực cạnh tranh cấp ngành là “khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế về một sản phẩm cụ thể mà ngành đó cung cấp ra thị trường”
2.2 Năng lực cạnh tranh của ngành gạo
2.2.1 Đặc điểm của ngành lúa gạo
Thứ nhất, tính thời vụ
Thứ hai, mặt hàng gạo thường nhạy cảm với thời tiết
Thứ ba, sản xuất, canh tác nhỏ lẻ, manh mún
2.2.2 Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo
Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo đóng vai trò quan trọng đối với quốc gia, nền kinh tế, doanh nghiệp và người nông dân
Đối với doanh nghiệp và người nông dân, việc nâng cao năng lực cạnh tranh tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp, nông dân trong ngành lúa gạo phải thường xuyên đổi mới, sáng tạo, để đáp ứng nhu cầu đa dạng trên thị trường cũng như cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường
Đối với nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành lúa gạo nói riêng và cả nền kinh
tế nói chung
Đối với quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo yêu cầu nông dân phải đổi mới, tự nâng cao năng lực sản xuất và kiến thức về ngành lúa gạo
2.2.3 Quan điểm về đánh giá năng lực cạnh tranh cấp ngành
Thứ nhất: Năng lực cạnh tranh của ngành được thể hiện thông qua năng lực
cạnh tranh riêng rẽ của các doanh nghiệp trong ngành
Thứ hai: Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng cạnh tranh của toàn
ngành đó của một quốc gia so với các quốc gia khác
2.3 Nội dung đánh giá năng lực cạnh tranh cấp ngành
2.3.1 Năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất là một trong những nội dung quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Năng lực sản xuất thường được thể hiện qua các nhân tố như: Nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực, công nghệ sản xuất, quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm…
Trang 118
Năng suất của ngành lúa gạo của một quốc gia được tính như sau:
lúa gạo của, S là tổng diện tích trồng lúa
Ngoài ra để đánh giá sự phát triển năng suất của ngành lúa gạo của các quốc gia có thể sử chỉ tiêu mức tăng trưởng của năng suất ngành lúa gạo theo các giai đoạn Công thức cụ thể như sau:
(
) ( )
PCiy n là năng suất ngành lúa gạo của nước i trong năm y thứ n, PCiy là là năng suất ngành lúa gạo của nước i trong năm y
Ngoài yếu tố năng suất, năng lực sản xuất của ngành còn được thể hiện qua chất lượng sản phẩm của ngành đó [94] Chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng đánh giá cao thể hiện năng lực sản xuất của quốc gia đó là cao Nói cách khác, nó phản ánh rằng ngành gạo của quốc gia đó có năng lực cạnh tranh cao so với các đối thủ khác trên thị trường
2.3.2 Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất cũng là một trong những nội dung quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành Chi phí sản xuất bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi Trong đó chi phí cố định là những khoản chi dù có sản xuất hay không thì người nông dân, thương lái hay doanh nghiệp vẫn phải chi trả như là các khoản lãi phải trả, chi phí thuê văn phòng, chi phí thuê đất, chi phí đăng ký… Chi phí thứ hai là chi phí biến đổi là những khoản chi phụ thuộc vào sản lượng hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh như là: chi phí đầu vào của nông dân bao gồm hạt giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; chi phí liên quan tới máy móc, dịch vụ bao gồm: bơm, tưới tiêu, thuê máy làm đất, thuê máy gặt, đập ; chi phí thuê lao động bao gồm: gieo/ cấy, làm cỏ, rải phân, phun thuốc; chi phí chi trả cho các lao động trong gia đình; và các khoản chi phí khác…
2.3.3 Giá bán
Biến động mức giá thực là tiêu chí đo lường sự thay đổi của mức giá trung bình của ngành lúa gạo theo thời gian so với mức giá tiêu dùng chung Giá cả là một trong những nhân tố quan trọng để xác định năng lực cạnh của ngành trên thị trường Giá cả của các sản phẩm trên thị trường thế giới được hình thành dựa trên quy luật cung cầu hàng hóa quốc tế
2.3.4 Thị phần xuất khẩu
Một trong những cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành là thị phần xuất khẩu của ngành đó trên thị trường Để đánh giá thị phần xuất khẩu (ESij) của một
ngành giữa quốc gia i và sản phẩm j ta sẽ đánh giá thông qua tỷ lệ giữa kim ngạch
xuất khẩu (Xij) sản phẩm j bởi các doanh nghiệp thuộc quốc gia i so với tổng giá trị
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đó của toàn thế giới Thị phần xuất khẩu được tính theo công thức dưới đây:
ESij = 100*(Xij / ∑iXij) Trong đó:
Trang 129
ESij là thị phần xuất khẩu của ngành j thuộc quốc gia i
Xij là kim ngạch xuất khẩu của ngành j thuộc quốc gia i
∑iXij là tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành j trên toàn thế giới
Ngoài ra, thị phần xuất khẩu còn được tính cho từng loại mặt hàng trong ngành lúa gạo như gạo trong trấu, gạo trấu nâu, gạo xay không vỡ, gạo xay vỡ
2.3.5 Lợi thế cạnh tranh trên thị trường Quốc tế
Lợi thế cạnh tranh trên thị trường Quốc tế đóng vai trò quan trọng trong phát triển sản phẩm của bất kỳ quốc gia nào Chỉ số này nhằm đo lường lợi thế cạnh tranh của một mặt hàng của một quốc gia trên thị trường quốc tế Theo Balassa (1965) [10] chỉ số này phản ánh sự khác biệt về nguồn lực nhân tố giữa các quốc gia, năng lực cạnh tranh của họ trên thị trường quốc thế Cụ thể, chỉ số RCA được tính như sau:
∑ ∑ Trong đó:
- RCApi là lợi thế cạnh tranh của mặt hàng p của nước i
- Xpi: giá trị xuất khẩu mặt hàng mặt hàng p của nước i
- ∑ : tổng xuất khẩu của nước i
- Xwi: giá trị xuất khẩu mặt hàng mặt hàng p của toàn bộ các nước trên thế giới
- ∑ : tổng xuất khẩu của toàn bộ các nước trên thế giới
Theo Balassa (1965) [10], chỉ số RCA có thể được nhận định như sau:
- 0 < 1 : mặt hàng p của nước i không có lợi thế so sánh
- 1 < 2 : mặt hàng p của nước i có lợi thế so sánh ở mức thấp
- 2 < 4 : mặt hàng p của nước i có lợi thế so sánh ở mức trung bình
- 4 < : mặt hàng p của nước i có lợi thế so sánh ở mức cao
2.3.6 Mức độ dạng hóa xuất khẩu
Sự đa dạng trong hàng hóa xuất khẩu cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo trên thị trường lớn, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Để đánh giá sự đa dạng hóa về mặt hàng xuất khẩu tác giả sử dụng công thức của Herfindahl-Hirschman như sau:
khẩu của mặt hàng thứ p, and Xlà tổng xuất khẩu
Chỉ số này có giá trị từ 0 đến 1 Nếu việc mặt hàng xuất khẩu trong ngành là
đa dạng thì chỉ số này có giá trị là 0 Ngược lại , nếu xuất khẩu chỉ tập trung một mặt hàng chỉ số này có giá trị là 1, mô tả sự tập trung
Theo Bonnal (2010) [11], chỉ số đa dạng hóa thị trường xuất khẩu được phát triển bởi Herfindahl-Hirschman như sau:
Trang 1310
xuất khẩu của nước i
Chỉ số này có giá trị từ 0 đến 1 Nếu việc xuất khẩu đa dạng ở khắp các thị trường thì chỉ số này có giá trị là 0 Ngược lại , nếu xuất khẩu chỉ tập trung ở một thị trường thì chỉ số này có giá trị là 1, mô tả sự tập trung
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành
Theo Porter (1990) [22], chất lượng môi trường kinh doanh được đánh giá qua bốn đặc tính tổng quát, đó là: (a) các điều kiện nhân tố sản xuất, (b) các điều kiện nhu cầu; (c) các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan và (d) bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp Những nhân tố này tạo nên bốn góc của một hình thoi và thường được gọi là Mô hình Kim cương Porter Bên cạnh đó cũng cần nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế; định hình nhu cầu và thiết lập các tiêu chuẩn cho cạnh tranh nhằm hướng đến việc cải thiện năng suất
Sơ đồ 2.1 Mô hình kim cương Porter
Nguồn: Anh (2011) [1]
2.4.1 Nhóm yếu tố bên trong
2.4.1.1 Điều kiện sản xuất kinh doanh ngành lúa gạo
Thời tiết khí hậu
Kết cấu hạ tầng
Trình độ nguồn nhân lực
Diện tích đất sản xuất