Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và quản lý đối với các DN sau CPH, phân tích thực trạng hoạt động quản lý của PVN đối với các DNNN sau cổ ph[r]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là nội dung cơ bản trong công cuộc cải cách kinh tế ở nước ta Một trong những giải pháp chủ yếu của đổi mới DNNN là cổ phần hóa (CPH) CPH làm thay đổi cơ bản về quan hệ sở hữu nên nó đòi hỏi hoạt động quản lý cũng phải điều chỉnh sao cho phù hợp
Ở PVN mặc dù đã CPH được 2/3 số doanh nghiệp nhưng về cơ bản thì phương thức quản lý cũ vẫn còn ngự trị Thay đổi phương thức quản lý nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp sau cổ phần hóa là giải pháp cơ bản, có ảnh hưởng quyết định đối với thành công của quá trình đổi mới doanh nghiệp
2 Mục tiêu của đề tài
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
và quản lý đối với các DN sau CPH, phân tích thực trạng hoạt động quản lý của PVN đối với các DNNN sau cổ phần hóa và đề xuất một số giải pháp đổi mới hoạt động quản lý nhằm thúc đẩy sự phát triển các DN sau CPH ở PVN trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động quản lý của PVN đối với các DNNN sau CPH, PVN nắm giữ trên 51% vốn điều lệ
Phạm vi nghiên cứu: Mối quan hệ quản lý của PVN đối với các doanh nghiệp trực thuộc đã cổ phần hóa và đang niêm yết trên các sàn giao dịch Thời gian khảo sát từ khi bắt đầu có CPH ở PVN đến hết năm 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp quy nạp, phân tích, logic, so sánh, tổng hợp, thống kê đánh giá các vấn đề đặt ra trong luận văn
Trang 2Thông tin được thu thập từ các nguồn như: Tài liệu của công ty (báo cáo tài chính, bản công bố thông tin, bản cáo bạch, kế hoạch năm, báo cáo tổng kết năm), các bài viết trên báo, internet
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đổi mới DNNN và vấn đề CPH đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay với nhiều quy mô và góc độ khác nhau Tuy nhiên vấn đề quản lý DN sau cổ phần hóa
ít được nghiên cứu và nếu có thì thường được nghiên cứu như là một phần của cổ phần hóa Các công trình nghiên cứu trong nước cũng đã đề cập khá toàn diện các khía cạnh khác nhau về tập đoàn kinh tế
Ở PVN, do mới triển khai CPH từ năm 2003 đến nay nên vấn đề “Đổi mới hoạt động quản lý của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt nam đối với các doanh nghiệp sau cổ phần hóa” chưa được đề cập một cách hệ thống trong công trình khoa học nào
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP SAU CỔ PHẦN HÓA
1.1 Một số vấn đề lý luận
1.1.1 Quan niệm về tập đoàn kinh tế
“Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau theo nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực với liên kết chủ yếu
là công ty mẹ - công ty con Công ty mẹ và các công ty con (hay công ty thành viên) có tư cách pháp nhân, công ty mẹ là hạt nhân liên kết, thường nắm quyền kiểm soát, chi phối hoạt động của các công ty con Các công ty thành viên cũng có những liên kết với nhau xuất phát từ lợi ích và chiến lược của bản thân mỗi công ty” [15, tr.21-22]
Trang 31.1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
- Tập đoàn kinh tế có quy mô lớn về vốn, lao động, doanh thu và phạm vi hoạt động
- Các tập đoàn kinh tế đều kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực
- Các tập đoàn kinh tế đều đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu
- Các tập đoàn kinh tế là tổ chức không có tư cách pháp nhân
1.1.3 Quan điểm hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
- Phải gắn liền và phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý của nền kinh tế quốc dân
- Nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, xã hội cao hơn
- Phải nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.4 Những khác biệt của mô hình tập đoàn kinh tế với mô hình tổng công ty 91
- Trong mô hình TCT 91, địa vị pháp lý chưa được xác định rõ ràng về đại diện chủ sở hữu của Chủ tịch Hội đồng quản trị cũng như của Tổng giám đốc và các đơn vị thành viên
- Mô hình TCT 91, thể chế quản lý mang nặng tính hành chính chỉ huy
- Mô hình TCT 91 chưa tạo ra mối quan hệ kinh tế dính kết, quan hệ giữa tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên là quan hệ hành chính
1.1.5 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước sau CPHa
Khái niệm: là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, vậy nên quyền kiểm soát doanh nghiệp thuộc về Nhà nước
Trang 4Đặc điểm: là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.1.6 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ các loại hình công ty khác sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước (100% vốn nhà nước) thành công ty cổ phần
1.1.7 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa
* Quyền sở hữu: Chuyển đổi từ đơn sở hữu sang đa sở hữu
* Quyền quản lý: CPH cho phép tách biệt quyền quản lý với quyền sở hữu
* Kế thừa những ưu, nhược điểm của doanh nghiệp trước CPH
* Cơ hội tái cấu trúc và phát huy lợi thế của công ty cổ phần
1.1.8 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa
Doanh nghiệp nhà nước sau CPH cùng với hệ thống các DNNN tiếp tục là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhưng đã có sự huy động thêm nguồn lực xã hội (vốn)
Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đang chiếm vị trí quan trọng đã và sẽ trở thành lực lượng sản xuất chủ đạo của nền kinh tế
1.1.9 Hoạt động quản lý và tác động của quản lý đến phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hóa
* Mối quan hệ quản lý theo mô hình tập đoàn
Có ba dạng cơ bản là:
+ Cơ cấu tổ chức hình tháp (hợp nhất): Có mức độ tập trung quyền lực cao,
sự liên hệ mật thiết trong nội bộ tập đoàn
Trang 5+ Cơ cấu tổ chức phân cấp (công ty mẹ nắm giữ vốn): Phân định theo các cấp quản lý, Cấp I chỉ quản lý cấp II, cấp II chỉ quản lý cấp III
+ Cơ cấu tổ chức mạng lưới (đa trung tâm): Phát triển theo sơ đồ mạng lưới, dần dần hình thành các trung tâm độc lập
* Mối quan hệ quản lý Công ty mẹ - công ty con
Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó;
b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;
c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó
1.2 Kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp sau CPH của Trung Quốc
+ Cho phép thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp chung đối với công ty
mẹ và các công ty con có quan hệ chặt chẽ (100%)
+ Chính sách thúc đẩy liên doanh, hợp tác kinh doanh với nước ngoài
+ Không nên cho phép công ty con đầu tư ngược lại công ty mẹ
+ Để đảm bảo tính chi phối hoặc điều phối của mình, công ty mẹ trực tiếp cử đại diện của công ty vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp thành viên tương ứng với quyền chi phối hoặc quyền điều phối
+ Thực hiện một số chính sách ưu đãi nhằm giảm nợ; tăng vốn chủ sở hữu cho các doanh nghiệp nhà nước; chính sách chuyển nợ cho vay thành đầu tư; chuyển khoản cho vay thành đầu tư của Chính phủ; chuyển vốn tích lũy trước đây của các doanh nghiệp thành viên thành vốn đầu tư của Nhà nước tại công ty mẹ khi
Trang 6hình thành tập đoàn; chuyển nợ ngân hàng thành vốn chủ sở hữu dưới dạng cổ phần
Trang 7CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP SAU CỔ PHẦN
HÓA
2.1 Khái quát về Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam
Ngày 9-9-1977, thành lập Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam Năm
1990, thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng Từ 14-4-1992, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng
Ngày 29-5-1995, thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam
Ngày 29-8-2006 thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
2.1.2 Mô hình tổ chức
PVN là một tổ hợp kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau theo nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực với liên kết chủ yếu là công ty
mẹ - công ty con
Cơ cấu tổ chức của PVN hiện nay bao gồm 30 đơn vị thành viên (4 đơn vị trực thuộc, 5 Công ty PVN giữ 100% vốn, 14 Công ty PVN nắm cổ phần chi phối,
7 đơn vị liên kết)
2.1.3 Bộ máy quản lý
Một điểm bất hợp lý so với các mô hình quản lý thông thường là Hội đồng quản trị đã can thiệp sâu xuống hoạt động của các Ban/ Văn phòng và các đơn vị thành viên
2.1.4 Chức năng nhiệm vụ
Trang 8- Nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, vận chuyển dầu khí, làm dịch vụ về dầu khí;
- Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị dầu khí, sản phẩm dầu khí, hóa dầu;
- Kinh doanh, phân phối các sản phẩm dầu, khí, các nguyên liệu hóa phẩm dầu khí;
- Khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí, dân dụng, tư vấn đầu tư xây dựng, thiết kế các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí, dân dụng; sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng;
- Đầu tư, kinh doanh bất động sản; Đầu tư, sản xuất, kinh doanh điện;
- Hoạt động tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm;
- Các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật
2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn dầu khí
Hàng năm, tổng số thu nộp ngân sách nhà nước của Tập đoàn dầu khí chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước Với nguồn thu lớn như vậy
và chủ yếu bằng ngoại tệ mạnh, vai trò mũi nhọn và trụ cột của nền kinh tế đã được phát huy tích cực, hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Kể từ khi có cổ phần hóa thì doanh thu và mức nộp ngân sách của PVN có mức tăng trưởng rất cao, đặc biệt là năm 2008 với 31,2% tăng trưởn doanh thu và 41,7% tăng nộp ngân sách
2.3 Quá trình cổ phần hóa ở Tập đoàn dầu khí
Được bắt đầu từ năm 2005 với 2 công ty thí điểm, năm 2006, 2007 với việc đưa ra thị trường những doanh nghiệp hấp dẫn như Công ty khoan, Bảo hiểm dầu khí Cổ phiếu dầu khí trở thành tâm điểm chú ý của thị trường Có thể nói tiến
Trang 9trình cổ phần hoá ở PVN đã thành công rực rỡ và đã đem lại nguồn thu rất lớn từ thặng dư đấu giá cổ phần
Tính đến cuối năm 2007 PVN đã cổ phần hóa được 11 đơn vị thành viên, bán đấu giá thành công ra thị trường 289.512.288 cổ phần (đạt 94,2% số chào bán), tương đương 2.895 tỷ đồng giá trị mệnh giá, thu về 14.960 tỷ đồng Trước khi chuyển đổi, vốn nhà nước tại 11 doanh nghiệp là 8.896 tỷ đồng Sau khi cổ phần hóa là 7.535 tỷ đồng, trong đó nhà nước chỉ còn nắm giữ 4.611 tỷ đồng
Từ năm 2008 đến nay, PVN không cổ phần hóa được thêm doanh nghiệp nào vì một số lý do: Hiện tại PVN chỉ còn 5 đơn vị chưa cổ phần hóa, sự suy giảm của thị trường chứng khoán, quy mô của các doanh nghiệp quá lớn, các doanh nghiệp mới thành lập, các dự án chưa đem lại hiệu quả nên chưa hấp dẫn được nhà đầu tư
2.4 Thực trạng hoạt động quản lý của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đối với các doanh nghiệp sau cổ phần hóa
2.4.1 Hoạt động điều phối, tăng cường liên kết nội ngành:
Các doanh nghiệp cổ phần hóa ở PVN có một số đặc điểm chung trong quan
hệ với PVN là: đều là các doanh nghiệp nòng cốt của Tập đoàn dầu khí trước đây
và có mối quan hệ làm việc truyền thống, lâu dài với nhau và với Tập đoàn dầu khí
Tuy nhiên với một quan hệ truyền thống như vậy nhưng đến nay mối liên kết giữa các doanh nghiệp này vẫn rất lỏng lẻo thậm chí có thể nói còn lỏng lẻo hơn so với trước cổ phần hóa Để có được sự liên kết toàn diện thì cần có hoạt động tích cực từ phía Tập đoàn, đây cũng là một trong những lý do chính cần chuyển đổi mô hình quản lý từ Tổng công ty sang Tập đoàn
2.4.2 Quản lý tài chính, điều phối vốn
Trang 10Tập đoàn đã và đang tiến hành chuyển đổi từ liên kết theo kiểu hành chính sang liên kết bằng cơ chế đầu tư tài chính là chủ yếu Với các công ty cổ phần, vì không còn chế độ cấp vốn nữa nên việc hỗ trợ vốn từ phía tập đoàn là không thể Như vậy các doanh nghiệp buộc phải tập trung vào hướng huy động vốn xã hội do
đó việc đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia vào quá trình điều phối vốn nội ngành cũng là vô lý nếu quá trình này không làm lợi cho doanh nghiệp
Bên cạnh đó thì chủ trương thoái vốn của Tập đòan tại các doanh nghiệp cũng là một vấn đề nan giải bởi việc thoái vốn với số lượng lớn sẽ ảnh hưởng tích cực cho đổi mới hoạt động quản trị nhưng lại tiêu cực cho việc huy động vốn xã hội của doanh nghiệp Sau nhiều lần thoái vốn trực tiếp trên sàn giao dịch chứng khoán với hiệu quả không cao, hiện nay PVN đang có chủ trương thí điểm thoái vốn thông qua đấu giá Tuy mới chỉ là chủ trương thí điểm nhưng theo đánh giá của tác giả thì đây cũng không phải là giải pháp tối ưu
2.4.3 Hoạt động đầu tư
Gần đây Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam có tốc độ tăng trưởng đầu tư rất cao, nhưng có hai điểm đáng bàn về tốc độ tăng trưởng đầu tư này là:
Tốc độ đầu tư gia tăng quá nhanh, quá mạnh là một điều đáng lo hơn đáng mừng bởi nó không cân đối với tốc độ gia tăng nguồn lực khác như con người, vốn, năng lực quản trị
Cách thức triển khai các dự án rời rạc
2.4.4 Quản lý các công ty cổ phần thông qua người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp:
Tất cả các công ty cổ phần hóa trong PVN đều do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, thậm chí phần đa là trên 65% Tiếng nói của PVN gần như là quyết định tuyệt đối đối với tất cả các doanh nghiệp thành viên
Trang 11Thiếu vắng sự ảnh hưởng của các cổ đông khác là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc không có sự đổi mới ở doanh nghiệp sau cổ phần hoá
Trong số lãnh đạo chủ chốt tại các doanh nghiệp thì duy nhất PVD có hai thành viên hội đồng quản trị do các đơn vị ngoài ngành đề cử
Với vai trò chủ sở hữu, Cổ đông lớn Tập đoàn cần tìm kiếm các biện pháp quản lý hữu hiệu, đảm bảo lợi ích của phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà không làm mất đi tính độc lập, tự chủ của doanh nghiệp
2.5 Kết quả hoạt động SXKD của các công ty sau CPH
Tổng Công ty cổ phần Khoan & Dịch vụ khoan DK (PVDrilling): Mức tăng trưởng cao ở hầu hết các chỉ số, đặc biệt ấn tượng ở mức tăng trưởng lợi nhuận so với mức tăng chung của các chỉ tiêu vốn, nợ,
Tổng Công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (PTSC): PTSC cũng là một trong những doanh nghiệp đầu đàn của dầu khí với hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng ổn định ở mức cao
Tổng Công ty CP Vận tải Dầu khí (PV Trans): Mức tăng tổng nợ đột biến cùng với hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp và hầu như không có tăng trưởng là điều đáng lo ngại đối với PVT
Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khí (PVFC): Năm 2008 là một năm hết sức khó khăn đặc biệt là với ngành tài chính, mức lợi nhuận khiêm tốn 50 tỷ đồng trên vốn điều lệ 5000 tỷ cũng cho thấy nỗ lực to lớn của PVFC trong khủng hoảng
Kỳ vọng với đội ngũ quản lý trẻ, năng động, PVFC sẽ có những bước phát triển lớn trong những năm tiếp theo
Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí (PVI): So với mức tăng vốn chủ sở hữu và tổng tài sản thì hiệu quả sử dụng vốn của PVI là rất thấp đặc biệt năm 2008 thì lợi nhuận chưa được 4% tổng tài sản