Điều này đã gây ra sự thiếu thốn nguồn lực ngân sách để thực hiện các mục tiêu kế hoạch, nguồn lực ngân sách được sử dụng không hiệu quả dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí, trong [r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Kế hoạch phát triển giáo dục có một vị trí quan trọng trong hệ thống kế hoạch xã hội Vì thế, lập kế hoạch phát triển giáo dục tốt đồng nghĩa với việc trong tương lai sẽ có một nguồn nhân lực có chất lượng, có trình độ, đáp ứng được sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
Tỉnh Ninh Bình đã và đang trên đà tập trung cho công tác xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục tuy nhiên tỉnh đã gặp phải không ít những hạn chế trong quá trình thực hiện kế hoạch Và một trong những nguyên nhân của những hạn chế đó là do chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác lập kế hoạch phát triển ngành giáo dục với nguồn lực ngân sách Điều này đã gây ra sự thiếu thốn nguồn lực ngân sách để thực hiện các mục tiêu kế hoạch, nguồn lực ngân sách được sử dụng không hiệu quả dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí, trong khi đó mục tiêu kế hoạch đặt ra lại không đạt được, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển ngành giáo dục nói riêng và quá trình phát triển tổng thể của cả tỉnh nói chung
Chính vì vậy, từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Đổi mới công tác lập kế hoạch phát
triển giáo dục tại tỉnh Ninh Bình theo hướng gắn với nguồn lực ngân sách” với mong
muốn từ việc phân tích thực trạng công tác lập kế hoạch phát triển giáo dục tại tỉnh theo hướng gắn với nguồn lực ngân sách sẽ có được một bản kế hoạch đầy đủ và khoa học trong việc gắn kết với nguồn lực này
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển giáo dục tại tỉnh Ninh Bình theo hướng gắn với nguồn lực ngân sách thông qua việc phân tích sự gắn kết giữa công tác lập KHPT và lập ngân sách phát triển giáo dục tại tỉnh Ninh Bình
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ khung lý thuyết của lập kế hoạch phát triển ngành giáo dục gắn với nguồn lực ngân sách
- Đánh giá được mức độ gắn kết giữa công tác lập kế hoạch phát triển giáo dục với nguồn lực ngân sách tại tỉnh Ninh Bình và những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết đó
Trang 2- Tìm ra được những giải pháp đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển giáo dục tại tỉnh Ninh Bình theo hướng gắn với nguồn lực ngân sách
Về khung lý thuyết lập KHPT giáo dục gắn với nguồn lực ngân sách
Kế hoạch hóa là phương thức quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân của nhà nước theo mục tiêu, là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật
xã hội và tự nhiên, đặc biệt là quy luật kinh tế để tổ chức quản lý các đơn vị kinh tế, các ngành, các lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế Quốc dân theo những mục tiêu thống nhất; dự kiến trước phương hướng cơ cấu, tốc độ phát triển và có những biện pháp tương ứng bảo đảm thực hiện, nhằm đạt hiệu quả kinh tế- xã hội cao” (trang 469, Từ điển Bách khoa Việt Nam 2- NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002)
Như vậy, Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân nếu hiểu theo góc độ quy trình thực hiện, bao gồm các hoạt động: (1) soạn lập kế hoạch; (2) tổ chức thực hiện kế hoạch; (3) theo dõi, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch với những yếu tố mới phát sinh trong môi trường kinh tế-xã hội Trong tất cả các bước của quy trình trên thì bước Soạn lập kế hoạch là bước thể hiện được sự gắn kết hay không gắn kết với nguồn lực ngân sách Còn các bước còn lại của quy trình kế hoạch hóa là tổ chức thực hiện kế hoạch và TDĐG kế hoạch là hai bước đánh giá được sự gắn kết đó trong thực tiễn
Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội là công cụ quản lý kinh tế của nhà nước theo
mục tiêu, được thể hiện bằng những mục tiêu định hướng phát triển KTXH phải đạt được trong khoảng thời gian nhất định của một quốc gia hoặc của một địa phương và những giải pháp, chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra một cách có hiệu quả và cao nhất [3, trang 12]
Kế hoạch phát triển ngành được các ngành xây dựng theo định hướng chiến lược
và kế hoạch cấp quốc gia về phát triển ngành, là định hướng phát triển từng ngành trong từng thời kỳ (hàng năm và 5 năm) KHPT ngành là một bộ phận của KHPT KTXH, phải nằm trong kế hoạch tổng thể phát triển KTXH của cả nước và KHPT KTXH của địa phương [3, trang 12]
Kế hoạch phát triển giáo dục là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế hoạch xã hội, nó hướng hoạt động giáo dục theo các mục tiêu xác định trước, cân đối phối hợp
Trang 3nhịp nhàng các hoạt động giáo dục, bảo đảm các hoạt động giáo dục đạt được mục đích tốt nhất hoặc giành được hiệu quả cao nhất [2, trang 405]
Sự gắn kết với nguồn lực ngân sách trong quy trình lập KHPT ngành giáo dục thể hiện ở khâu cung cấp và nhận thông tin về NLNS một cách chính xác Bộ KH&ĐT, Bộ Tài Chính sẽ cung cấp thông tin về trần ngân sách trung ương, Bộ GD&ĐT cung cấp những thông tin về nguồn ngân sách cho các chương trình mục tiêu quốc gia và định hướng phát triển ngành, UBND tỉnh cung cấp thông tin về trần ngân sách địa phương và định hướng phát triển của toàn tỉnh, cuối cùng các Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT cung cấp thông tin về nhu cầu nguồn lực
Nội dung kế hoạch phát triển ngành giáo dục bao gồm 4 phần chính: đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm trước; xác định mục tiêu, chỉ tiêu KH; xây dựng kế hoạch hoạt động và dự toán ngân sách nhà nước
Phần phân tích thực trạng, phần này trả lời cho câu hỏi “ngành đang ở đâu?” Phần này cần xác định được các vấn đề còn tồn tại của ngành (có thể sử dụng công cụ hỗ trợ phân tích là cây vấn đề) và quan trọng hơn là phải xác định được các vấn đề ưu tiên cần giải quyết (sử dụng phương pháp so sánh cặp đôi) Các vấn đề ưu tiên đó sẽ là cơ sở để xác định các mục tiêu ưu tiên của ngành trong năm kế hoạch
Phần mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch, phần này trả lời cho câu hỏi “ngành muốn đi đến đâu?” Việc xác định mục tiêu dựa vào các vấn đề còn tồn tại của ngành kết hợp với định hướng phát triển của ngành, và mục tiêu ưu tiên sẽ được xác định căn cứ vào các vấn đề
ưu tiên cần giải quyết Hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch sẽ được xác định từ các mục tiêu
kế hoạch Các chỉ tiêu kế hoạch phải được tính chính xác, hợp lý thông qua các phương pháp tính toán khoa học, thống nhất
Phần xây dựng kế hoạch hoạt động, phần này trả lời cho câu hỏi “làm thế nào để
đi đến đích?” Các hoạt động này được xác định dựa trên các chỉ tiêu KH định lượng
Các tiêu chí đánh giá sự gắn kết giữa KHPT ngành giáo dục với nguồn lực ngân sách
Trang 4Sự phù hợp giữa chỉ tiêu phát triển ngành giáo dục với dự toán ngân sách Sự phù
hợp này thể hiện ở hai khía cạnh Thứ nhất là mục tiêu, chỉ tiêu KH phải hợp lý, vừa phải với trần ngân sách, thứ hai là việc dự toán ngân sách nhà nước cho giáo dục phải hoàn toàn dựa trên hệ thống các chỉ tiêu phát triển định lượng của ngành
Mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực thể hiện ở sự đồng nhất hoặc khác nhau giữa
kế hoạch ngân sách và thực hiện ngân sách Nếu như có sự đồng nhất giữa kế hoạch ngân sách và thực hiện ngân sách thì mọi mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch đề ra sẽ đạt được bởi sẽ
có đủ nguồn lực để thực hiện
Gắn kết giữa giải pháp và nguồn lực thực hiện giải pháp phát triển Hệ thống giải
pháp trong bản kế hoạch phát triển chính là sự cụ thể hóa của các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch, nói cách khác nếu như những giải pháp đó khả thi, có thể thực hiện được một cách thành công trong thực tế, thì các mục tiêu, chỉ tiêu KH đương nhiên sẽ đạt được Một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo tính khả thi của các giải pháp là có đủ nguồn lực
để thực hiện Việc gắn kết các giải pháp tài chính ưu tiên với khả năng đáp ứng của nguồn lực ngân sách nhà nướcsẽ đảm bảo đầy đủ nguồn lực để thực hiện các giải pháp ưu tiên đó, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực NSNN Để có thể gắn kết được giải pháp
và nguồn lực cần để thực hiện thì các giải pháp đó phải được cụ thể hóa đến mức chi tiết thành các hoạt động
Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập KHPT ngành giáo dục gắn kết với nguồn lực ngân sách
Môi trường thể chế, quá trình phân cấp và dân chủ cơ sở Đó là một môi trường với
khung pháp luật và đồng bộ các chính sách tạo điều kiện cho quá trình phân cấp và dân chủ cơ sở diễn ra mạnh mẽ Hệ thống các chính sách, luật pháp đó vừa phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả, việc nào, cấp nào sát với thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn thì giao cho cấp đó thực hiện; vừa phải đảm bảo thực quyền của cấp lãnh đạo chính quyền trong việc thực hiện các nhiệm vụ
Tư duy đổi mới và sự cam kết của lãnh đạo Quy trình lập KH luôn bắt đầu từ các
quyết định, chỉ thị của cấp trên rồi mới đến quá trình thực hiện của cấp dưới, chính vì vậy
Trang 5mà những người lãnh đạo có một vai trò rất quan trọng, tư duy lập kế hoạch của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác lập KH của cả một hệ thống
Cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin Thực chất công tác lập kế hoạch phát triển
giáo dục không phải là công việc chỉ của riêng cơ quan giáo dục mà đó phải là sự phối hợp, tham gia xây dựng của nhiều cơ quan đồng cấp như: cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch…Vì thế sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống thông tin giữa các cơ quan là hết sức quan trọng
Năng lực và sự đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ liên quan đến công tác lập KHPT
Bộ phận nòng cốt trong công tác lập KHPT chính là đội ngũ cán bộ, công chức làm kế hoạch Do vậy, chỉ có đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc, với đầu óc tư duy, nhạy bén mới có thể tiếp thu, học hỏi nhanh chóng những phương pháp lập KH mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phục vụ công tác lập KH ngày càng đổi mới Bên cạnh đó, cần phải có chế độ đãi ngộ hợp lý, xứng đáng
Đánh giá sự gắn kết giữa KHPT ngành giáo dục tỉnh Ninh Bình với nguồn lực ngân sách
Sự phù hợp giữa chỉ tiêu phát triển ngành giáo dục với dự toán ngân sách
Nhìn chung, dự toán NSNN ngành giáo dục tỉnh Ninh Bình chưa căn cứ vào các chỉ tiêu
KH phát triển của ngành, do đó không có gì đảm bảo NLNS mà ngành giáo dục tỉnh được cấp hàng năm được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, hỗ trợ thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu
KH đặt ra
Mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực Kế hoạch ngân sách thì được dự toán một
cách đơn thuần dựa vào các số liệu thực hiện năm trước sau đó gia tăng thêm một số phần trăm nhất định, trong khi đó thực hiện ngân sách lại theo những quy định có căn cứ của UBND tỉnh, do đó có sự chênh lệch giữa kế hoạch ngân sách và thực hiện ngân sách phát triển giáo dục tỉnh Ninh Bình
Gắn kết giữa giải pháp và nguồn lực thực hiện giải pháp phát triển Hệ thống giải
pháp trong KHPT giáo dục tỉnh Ninh Bình chưa có sự gắn kết với nguồn lực thực hiện do
kế hoạch hoạt động khá chung chung, khái quát chưa được chi tiết hóa Như vậy, theo 3
Trang 6tiêu chí trên, có thể nói KHPT ngành giáo dục tỉnh Ninh Bình chưa gắn kết chặt chẽ với nguồn lực NSNN
Đánh giá chung
Nhìn chung, công tác lập KHPT ngành giáo dục tỉnh Ninh Bình chưa có sự gắn kết với NLNS cả về mặt quy trình, nội dung và phương pháp
Về quy trình lập KHPT ngành, do không được cung cấp nguồn thông tin đầy đủ về trần ngân sách địa phương từ UBND tỉnh Ninh Bình, thông tin về nguồn lực NSNN cho các chương trình mục tiêu quốc gia từ Bộ GD&ĐT, nhu cầu nguồn lực từ các đơn vị cấp dưới, do đó Sở GD&ĐT không có cơ sở tương đối chính xác để mục tiêu, chỉ tiêu KH đặt
ra phù hợp với dự toán ngân sách
Về nội dung lập KHPT ngành, nội dung các bước trong KHPT ngành chưa có sự kết nối, liên quan logic với nhau Đánh giá thực trạng ngành chưa tạo nên những căn cứ
rõ ràng để đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu cho năm kế hoạch; mục tiêu, chỉ tiêu KH lại dàn trải, không xác định được thứ tự ưu tiên để có phương án phân bổ và sử dụng nguồn lực NSNN hợp lý, giải pháp và kế hoạch hoạt động không những hoàn toàn không lấy mục tiêu KH làm căn cứ lại chung chung, mơ hồ, khái quát, không chi tiết hóa thành các hoạt động nhỏ để có thể gắn kết được với nguồn kinh phí thực hiện, do đó nội dung KHPT ngành thực sự chưa gắn kết với NLNS Ngoài ra, KHPT ngành chưa có một hệ thống TDĐG hiệu quả
Về phương pháp lập KHPT ngành, phần đánh giá thực trạng ngành chưa xác định được vấn đề ưu tiên, cốt lõi cần giải quyết trong năm KH, bởi vậy KHPT ngành không xác định được thứ tự ưu tiên của các mục tiêu Hệ thống chỉ tiêu KH và dự toán NSNN cho GD&ĐT vừa không logic với nhau vừa không được tính toán, dự báo bằng các phương pháp khoa học mà đơn thuần chỉ là việc ước tính sự gia tăng hoặc giảm bớt một con số phần trăm nhất định nào đó
Nguyên nhân
KHPT ngành giáo dục tỉnh Ninh Bình chưa gắn kết chặt chẽ với NLNS là do bốn nguyên nhân chủ yếu sau:
Trang 7Một là, môi trường thể chế chưa hỗ trợ cho quá trình phân cấp diễn ra triệt để, những bất cập về phạm vi quản lý chuyên môn của Sở GD&ĐT đã dẫn đến những khó khăn trong quá trình lập kế hoạch
Hai là, tư duy lập KH vẫn còn nặng tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào nguồn lực NSNN, cho rằng nó có thể giải quyết được mọi vấn đề của ngành, do vậy ngành không có những phương án tập trung tìm cách khai thác và phát huy hết tiềm năng của các nguồn lực sẵn có
Ba là, cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin chưa công khai, minh bạch và tin cậy lẫn nhau, chính vì vậy khâu thu thập thông tin là hết sức khó khăn mà đây lại là khâu có vai trò hết sức quan trọng, làm tiền đề phục vụ cho công tác lập KHPT ngành
Bốn là, năng lực đội ngũ cán bộ lập KH ngành chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng đổi mới của công tác lập KHPT, khả năng phân tích và xử lý các thông tin khó còn hạn chế
Do vậy, tập trung giải quyết được bốn nguyên nhân trên sẽ tạo điều kiện cho KHPT ngành gắn kết chặt chẽ với nguồn lực NSNN
Về giải pháp đổi mới công tác lập KHPT ngành giáo dục gắn với nguồn lực ngân sách tại tỉnh Ninh Bình
Về quy trình Tỉnh và ngành có thể đề ra một số phương án để khắc phục tình
trạng đó Sau khi đưa ra quyết định triển khai công tác lập KHPT đến các Sở KH&ĐT,
Sở Tài Chính và các Sở quản lý ngành thì UBND tỉnh Ninh Bình có thể tổ chức một buổi họp bàn để hướng dẫn chi tiết và cung cấp thêm thông tin cần thiết cho các Sở Tiếp đó,
Sở GD&ĐT nên tổ chức riêng một buổi hội nghị, thành phần tham gia là đại diện các Sở KH&ĐT, Sở Tài Chính, phòng GD&ĐT và các trường để phổ biến, hướng dẫn chi tiết về công tác lập KH, cung cấp các thông tin cần thiết về trần NSNN Những buổi họp bàn đó vừa có ý nghĩa cung cấp, trao đổi thông tin, làm cơ sở để gắn kết công tác lập KHPT ngành với nguồn lực ngân sách lại vừa tăng cường sự tham gia trong công tác lập KH
Về nội dung
Trang 8Phần đánh giá tình hình thực hiện KH năm trước, quá trình đánh giá kế hoạch
năm trước phải chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu khi thực hiện mục tiêu, các chương trình, chính sách phát triển ngành trên địa bàn tỉnh Cần phải xác định những vấn đề lớn cần ưu tiên tập trung nguồn lực để phải giải quyết trong năm kế hoạch tiếp theo
Phần xác định mục tiêu, chỉ tiêu KH Hệ thống mục tiêu KH khái quát, toàn diện,
đề cập đến tất cả các lĩnh vực của giáo dục, nhưng phải quy định rõ thứ tự ưu tiên khi thực hiện, đây là điểm mấu chốt để gắn kết KH với nguồn lực ngân sách Hệ thống các chỉ tiêu này cần được tính một cách chính xác, phù hợp với thực tiễn bằng các phương pháp tính toán khoa học
Phần xây dựng kế hoạch hoạt động Kế hoạch hoạt động không được khái quát,
chung chung mà phải rõ ràng, cụ thể hóa đến mức chi tiết tạo điều kiện thuận lợi cho việc định lượng nhu cầu nguồn lực cần có để thực hiện
Phần dự báo NSNN cho giáo dục và đào tạo Dự toán NSNN cho GD&ĐT phải
phù hợp với chỉ tiêu phát triển ngành, hay nói cách khác, mục tiêu phát triển ngành phải phù hợp, không được vượt quá giới hạn trần NSNN
Phần xây dựng các chỉ số TDĐG thực hiện KH, đây là một nội dung mới, chưa có
tiền lệ trong nội dung các bản KHPT giáo dục trước đây Ngành nên xây dựng một
hệ thống TDĐG toàn diện dựa trên kết quả, với một hệ thống chỉ số đơn giản nhưng tập trung, phù hợp với thực trạng phát triển của ngành
Về phương pháp
Ngoài các phương pháp lập KHPT giáo dục hiện đại như trong chương 1 đã trình bày, phương pháp tăng cường sự tham gia của các bên hữu quan trong lập kế hoạch là một phương pháp đổi mới đặc biệt quan trọng Các đơn vị tham gia vào quá trình lập KHPT ngành có thể thông qua việc cung cấp thông tin phục vụ cho đánh giá Bên cạnh
sự tham gia của các cấp, các ngành ở tỉnh, có thể huy động sự tham gia của các tổ chức tư vấn, các cơ quan nghiên cứu (các trường đại học lớn)…
Kiến nghị
Về môi trường thể chế Tỉnh nên có thêm những quy định để hỗ trợ cho quá trình
phân cấp diễn ra triệt để Nguyên tắc “việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp
Trang 9thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và nhân dân thì giao cho cấp đó thực hiện” cần được thực hiện triệt để Phân cấp cần tuân thủ nguyên tắc đảm bảo đồng bộ
Về tư duy lập kế hoạch Nhận thức, tư duy phải được đổi mới theo hướng coi
KHPT ngành thực sự là công cụ định hướng phát triển cho toàn ngành, có trách nhiệm trong khâu xây dựng kế hoạch với tính chủ động, sáng tạo cao, tránh tư tưởng trông chờ,
ỷ lại quá nhiều vào nguồn lực NSNN Ban lãnh đạo Sở GD&ĐT nên chủ động xây dựng
những dự án kết hợp với nước ngoài với nội dung nâng cao nhận thức, năng lực công chức, cán bộ làm công tác KH, khuyến khích sự tham gia đầy đủ của đội ngũ lãnh đạo Sở đến các cán bộ trực tiếp làm công tác xây dựng KH Việc làm này diễn ra thường xuyên dần dần sẽ thay đổi nhận thức của họ bởi tư duy, nhận thức một khi đã được hình thành theo lối cũ thì cần quá trình nỗ lực mới có thể thay đổi triệt để được
Về cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin Chính vì vậy, cần phải xây dựng một hệ
thống cơ sở dữ liệu ngay từ giai đoạn đầu Các trang thiết bị phục vụ cho công tác lập KH phải được đồng loạt kết nối internet, tạo thuận lợi khi giao dịch với các cơ quan đồng cấp, các đơn vị trực thuộc, các trường để trao đổi, cung cấp số liệu Bên cạnh đó, cần xây dựng được các phần mềm hỗ trợ cho công tác xử lý thông tin số liệu trong quá trình lập
KH
Về đội ngũ cán bộ lập KH Cần phải đầu tư nâng cao cho họ cả về kỹ năng, trình
độ chuyên môn lẫn trình độ sử dụng máy vi tính đặc biệt là các phần mềm chuyên dụng
để tính toán và dự báo Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn sẽ giúp họ có những kỹ
năng cần thiết để có thể xử lý thông tin, phân tích số liệu, đáp ứng nhu cầu công việc Nâng cao trình độ sử dụng máy vi tính, đặc biệt là các phần mềm chuyên dụng là một hoạt động rất cần thiết, nó là điều kiện đủ để một cán bộ KH có thể làm việc độc lập, chủ
động và sáng tạo Để có thể có được đội ngũ cán bộ, công chức KH với những phẩm chất
như vậy, tỉnh có thể thông qua cơ chế tuyển dụng thi đầu vào đối với những người mới, hoặc có thể đào tạo nâng cao năng lực nghiệp vụ chuyên môn thông qua các lớp tập huấn, các buổi hội thảo hợp tác với các dự án nước ngoài đối với những cán bộ trong biên chế
nhà nước