Phần lớn các đơn vị được khảo sát đánh giá những người đi học về có trình độ chuyên môn, áp dụng tốt kiến thức mới vào công tác quản lý, giảng dạy, nghiên cứu;. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ[r]
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
NGUYễN TUấN ANH
Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ
cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
Chuyên ngành: kinh tế phát triển
Mã số: 62 31 01 05
Hà nội, năm 2016
Trang 2TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học:
1 Pgs.ts Phan thÞ nhiÖm
2 Pgs.ts nguyÔn thÞ minh
Phản biện 1: GS.TSKH Nguyễn Quang Thái
Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng
Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 3: TS Phạm Thị Bích Ngọc
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Vào hồi 16h00 ngày 29 tháng 8 năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Từ năm 2000, Chính phủ triển khai “chương trình đào tạo cán bộ khoa học, kỹ
thuật ở nước ngoài bằng NSNN” (Đề án 322, 356, 911 và 599) Theo một số đánh giá
và nhận định, việc gửi người đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN sau 15 năm triển khai thực hiện tương đối thuận lợi và đi đúng hướng Tuy nhiên, dư luận xã hội đang đặt ra một số câu hỏi liên quan đến tính phù hợp và những đóng góp của các Đề án
Để trả lời các câu hỏi, cần có những công trình nghiên cứu chuyên sâu Cho đến nay, chưa có bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu các vấn đề dư luận đặt
ra Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ KHKT đào
tạo ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030” làm đề tài luận án tiến sỹ khoa học
kinh tế là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng cho nâng cao hiệu quả và hoàn thành mục tiêu của các chương trình, đề án đào tạo người Việt Nam ở nước ngoài bằng nguồn vốn NSNN
2 Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu chung: Nghiên cứu góp phần định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030
- Làm rõ các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN
- Đề xuất quan điểm, xây dựng định hướng cho việc đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN đến năm 2030
- Đề xuất giải pháp thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Định hướng gửi người đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN bao gồm những nội dung gì và tiêu chí để đánh giá thực hiện định hướng đấy?
- Đánh giá việc sử dụng cán bộ KHKT đi học nước ngoài về dựa trên những tiêu chí nào?
- Những nhân tố nào tác động đến việc thực hiện định hướng đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN?
- Những nhân tố nào tác động đến việc sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT đào tạo
ở nước ngoài bằng NSNN sau khi tốt nghiệp?
- Làm thế nào để có định hướng đào tạo tốt, cần phải có những thay đổi gì trong tương lai để giúp có định hướng đào tạo tốt và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực được đào tạo này?
Trang 44 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN; Việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng người tốt nghiệp về nước trong khuôn khổ các chương trình, đề án gửi người đi học nước ngoài bằng NSNN do Bộ GD&ĐT quản lý Điều đó có nghĩa là không đề cập trong nghiên cứu việc gửi người đi học nước ngoài bằng nguồn vốn ngoài ngân sách, không nghiên cứu việc gửi người đi học nước ngoài bằng nguồn vốn ngân sách địa phương; Xem xét các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đã tốt nghiệp về nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn để phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến nguồn vốn con người, phát triển nguồn vốn con người và vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển của một quốc gia, định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT
đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN
- Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm khảo sát, điều tra cán bộ KHKT đi học theo đề án 322/356; các cơ quan, đơn vị cử người đi học và sử dụng họ khi về nước Phương pháp này sẽ đặt cơ sở và hướng đi hợp lý cho các phân tích định lượng
- Phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định những nhân tố ảnh hưởng và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ hài lòng của người đi học đối với chương trình, quyết định học tiếp và quyết định quay về công tác
- Phương pháp chuyên gia hỗ trợ tác giả tập trung chính xác vào các yếu tố có vai trò quan trọng trong việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT
đào tạo bằng NSNN tại nước ngoài
Phương pháp thu thập dữ liệu: Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm dữ liệu thứ
cấp và dữ liệu sơ cấp Dữ liệu thứ cấp thu thập qua các tài liệu, báo cáo, cơ sở dữ liệu của các cơ quan có liên quan (Bộ GD&ĐT, Cục Đào tạo với nước ngoài) Dữ liệu sơ cấp thu thập từ phát phiếu điều tra khảo sát thu thập ý kiến của những lưu học sinh (LHS) đã tốt nghiệp về nước và đánh giá từ các cơ quan có người đi học theo chương trình học bổng 322/356 về tình hình sử dụng và làm việc của người học tại cơ quan, đơn vị sử dụng người học
6 Những đóng góp mới của luận án
- Xây dựng cơ sở lý luận, khung nghiên cứu về định hướng đào tạo và sử dụng cán
bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN Đưa ra các khái niệm, quan niệm về định hướng đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN
- Đánh giá toàn diện việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài trong thời gian qua
Trang 5- Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT được đào tạo bằng NSNN ở nước ngoài
- Chỉ ra được những bất cập, hạn chế trong định hướng đào tạo và sử dụng cán
bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN của Nhà nước theo đuổi
- Khuyến cáo định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN trong tương lai (ví dụ: định hướng ngành nghề đào tạo ưu tiên, kinh phí đào tạo, số lượng đào tạo, phân bổ kinh phí đào tạo, nước và cơ sở cử đi đào tạo, )
- Đề xuất các giải pháp để thực hiện các định hướng gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN, tránh lãng phí, tiết kiệm NSNN, phát huy năng lực đội ngũ được đào tạo
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ
khoa học kỹ thuật gửi đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về định hướng đào tạo và sử
dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Chương 3: Thực trạng thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa
học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trong những năm qua
(nghiên cứu đề án 322/356)
Chương 4: Định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật gửi đi
học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đến năm 2030
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO
VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC
Ở NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Các nghiên cứu về cán bộ khoa học kỹ thuật và vai trò của cán bộ khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển của quốc gia
Nguồn nhân lực KHKT có những đặc trưng cơ bản: Thứ nhất, được đào tạo trình độ cao; Thứ hai, có kỹ năng nghề nghiệp nhất định về một lĩnh vực chuyên môn
nghiệp vụ được phân công thực hiện (OECD, 1975; UNESCO, 2011)
Theo Temple (2001), sự gia tăng vốn con người dẫn tới mức năng suất cao, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Okoh (1980) cho rằng một nguồn nhân lực đông đảo
có trình độ cao đã trở thành điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội P.A.Samuelson - (nhà kinh tế học người Mỹ) cho rằng, có bốn nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế là: (1) nhân lực, (2) tài nguyên thiên nhiên, (3) cấu thành tư bản và (4) kỹ thuật - công nghệ
Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản : i) áp dụng công nghệ mới; ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại; và iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất chính là đội ngũ nhân lực được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có trình độ và kỹ năng nghề cao
Trang 61.2 Các nghiên cứu về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Theo Bennett (1993), các du học sinh ra nước ngoài học tập không chỉ tiếp thu được những tinh hoa KHKT của các nước tiên tiến, mà còn tiếp thu được sự đa dạng
về văn hóa, phát triển năng lực, cơ hội việc làm và khả năng thích ứng của mỗi cá nhân trong môi trường hội nhập quốc tế Jinyoung Kim (1998) cho rằng, đối với các nước đang phát triển, việc cử người đi đào tạo ở nước ngoài sẽ đóng góp tiếp nhận kiến thức tiên tiến và do đó giúp tăng trưởng kinh tế
Jovanovic và Rob (1989), Rustichini và Schmitz (1991) và Tamura (1991) chỉ ra rằng có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa khoảng trống kiến thức và lợi ích đem lại đối với người thụ hưởng quá trình đào tạo.Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển mà có trình độ vốn con người quá thấp thì có thể không hưởng lợi từ việc nhập khẩu kiến thức thông qua cử người đi đào tạo ở nước ngoài vì việc cử đi đào tạo sẽ rất tốn kém Mặt khác, cũng có một số quan điểm cho rằng sinh viên đến từ các nước đang phát triển được cử đi đào tạo ở nước ngoài chỉ đơn thuần tiếp cận các giá trị và suy nghĩ của phương Tây, những giá trị này không có liên quan đến thực tế phát triển của đất nước họ Việc học tập ở nước ngoài đóng một vai trò không liên quan, hoặc thậm chí có tác động tiêu cực đến việc tiếp nhận kiến thức tiên tiến để thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển (Jinyoung Kim, 1998)
1.3 Các nghiên cứu về sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước trở về sau khi tốt nghiệp
Cai (2003) cho biết, mấu chốt để thu hút người học ở nước ngoài trở về nước làm việc đó là phải xây dựng được môi trường làm việc để những người trở về có thể phát huy năng lực khả năng của mình
Kwok và Leland (1982) cũng cho rằng thiếu cơ hội việc làm, cơ hội phát triển nghề nghiệp, mức lương thấp và tâm lý thích ở nước ngoài là những yếu tố quyết định việc ở lại của sinh viên tốt nghiệp Khả năng và mức độ gắn kết hoạt động và các mối quan hệ trong nước được quyết định bởi chính mục tiêu và quan điểm cá nhân của người trở về (Dean Xu, 2009)
Zweig (2006) liệt kê có ít nhất 5 vấn đề hàng đầu đối với việc sử dụng những người trở về nước sau tốt nghiệp Đó là: i) không có có hội phát triển sự nghiệp; ii) thiếu thốn cơ sở vật chất trang thiết thiết bị hiện đại nên điều kiện làm việc khó khăn; iii) môi trường làm việc không tạo cơ hội cho phát triển nghề nghiệp, không có cơ hội thay đổi công việc; iv) điều kiện sống thấp, không có tương lai tốt hơn cho người thân bằng khi ở lại nước ngoài, và v) ít cơ hội trao đổi với học giả quốc tế
Zeng Fanqing (2005) cho rằng có 3 vấn đề chính cần lưu ý khi thu nhận và sử dụng những người được đào tạo ở nước ngoài trở về nước làm việc Một là, cần có mục tiêu rõ ràng khi việc sử dụng họ Hai là, cần kết hợp sử dụng đồng thời cả người được đào tạo ở nước ngoài và người không được đào tạo ở nước ngoài Ba là, cần quan tâm giữ chân người giỏi được đào tạo nước ngoài
1.4 Đánh giá tổng quan nghiên cứu
1.4.1 Những nội dung nghiên cứu đã thống nhất làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án
Nhìn chung, các nghiên cứu đã tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thống nhất các khái niệm liên quan đến cán bộ KHKT; vai trò của
cán bộ KHKT và chiến lược đào tạo cán bộ KHKT trong phát triển kinh tế-xã hội đối với một quốc gia
Trang 7Thứ hai, những nội dung kinh tế và xã hội của giáo dục và đào tạo được biểu
hiện thông qua nguồn vốn con người; đầu tư giáo dục đào tạo là đầu tư vào nguồn vốn con người, là đầu tư cho phát triển và cho tương lai; vai trò của giáo dục và khoa học trong phát triển quốc gia đối với tất cả các nước, kể cả phát triển và đang phát triển
Thứ ba, quốc tế hóa và toàn cầu hóa giáo dục đại học là một xu hướng không
thể đảo ngược trong bối cảnh của toàn cầu hóa kinh tế Hiện tượng sinh viên ra nước ngoài học tập thể hiện sự chuyển dịch giáo dục đại học qua biên giới và là một nội dung của phân công lao động quốc tế đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hậu công nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức
Thứ tư, xu hướng gửi người đi học nước ngoài là tất yếu và có xu thế gia tăng;
lợi ích quốc gia của việc gửi học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập và nghiên cứu
và lý do ưu tiên NSNN đầu tư đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài bằng NSNN
Thứ năm, những vấn đề có tính nguyên tắc về sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở
nước ngoài bằng NSNN sau khi về nước; những khía cạnh hiệu quả sử dụng những người học ở nước ngoài khi trở về nước ở những quốc gia đang phát triển; quan điểm
sử dụng, các nhân tố ảnh hưởng và xu hướng quá trình sử dụng
1.4.2 Các vấn đề chưa nghiên cứu và còn tranh luận
Thứ nhất, chưa có các nghiên cứu lý thuyết chuyên sâu về định hướng đào tạo
cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN cả ở trong nước và ở nước ngoài
Thứ hai, chưa có nghiên cứu nào của tác giả nước ngoài đánh giá về đào tạo và
sử dụng cán bộ KHKT gửi đi học ở nước ngoài bằng NSNN của Việt Nam; ở trong nước cũng chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào, phần lớn chỉ dừng lại ở các báo cáo của Bộ GD&ĐT
Thứ ba, một số bài viết chuyên khảo chưa đưa ra được nhận xét chính xác hoặc
có nhưng còn chưa rõ nét, cơ sở chưa vững chắc, hạn chế về dung lượng, phạm vi, nội dung và phương pháp tiếp cận Hầu như các bài viết chỉ nêu hiện tượng và dừng lại ở góc độ tranh luận, nêu quan điểm hay khai thác thông tin nên chưa góp phần hệ thống hóa thành cơ sở lý luận đặt nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế để nâng cao hiệu quả việc đưa cán bộ KHKT đi đào tạo ở nước ngoài và sử dụng nguồn cán bộ này sau khi tốt nghiệp về nước
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT GỬI ĐI HỌC NƯỚC NGOÀI BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Bối cảnh gửi cán bộ khoa học kỹ thuật đi đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
2.1.1.1 Toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa giáo dục đại học
Quốc tế hóa và toàn cầu hóa GDĐH đã tạo tiền đề và làm ngày càng phong phú hơn các chương trình và chính sách đưa sinh viên của một nước này sang học tập ở một nước khác Việc ngày càng có nhiều người đi ra nước ngoài học tập được cho là gắn liền với quá trình quốc tế chương trình GDĐH như kết quả của quá trình toàn
Trang 8cầu hóa, của sự tăng cường mở rộng liên kết các hoạt động kinh tế và văn hóa - xã hội của các quốc gia trên thế giới
2.1.1.2 Những đòi hỏi về phát triển đất nước và khả năng tài chính quốc gia
Việc mở rộng quy mô gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tài chính quốc gia Nói chung, việc cân nhắc mức độ đầu tư về tài chính đối với gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phải được đặt trong bối cảnh kinh tế tổng thể của mỗi nước; sự lựa chọn chính trị giữa các ưu tiên trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của quốc gia Việc cung cấp tài chính cho gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo có vai trò nổi bật trong kế hoạch xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực trình độ, chất lượng cao của hầu hết các nước trên khắp thế giới
2.1.1.3 Sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học trong nước
Tại các nước đang phát triển, những nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến việc gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo là hệ thống GDĐH trong nước và nhu cầu đòi hỏi về đội ngũ cán bộ KHKT để phát triển đất nước Hệ thống GDĐH của các nước này đang phải đối mặt với nhiều thách thức Thách thức lớn nhất là việc mở rộng quy mô đào tạo, dẫn đến tình trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng dạy trình độ cao được đào tạo kỹ lưỡng Như một kết quả, các cơ sở giáo dục ĐH gặp rất nhiều khó khăn trong việc thiết kế chương trình và vì vậy, nói chung rất ít thực hiện một cách nhất quán tiêu chuẩn đào tạo cao
2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc gửi cán bộ khoa học kỹ thuật ra nước ngoài đào tạo bằng ngân sách nhà nước
Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN không chỉ giải quyết những vấn đề KH&CN, mà còn tác động to lớn tới toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH, hình thành nền kinh tế tri thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các nước đang phát triển
Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN giúp các nước đang phát triển rút ngắn khoảng cách trình độ phát triển với các nước công nghiệp trên cơ sở xây dựng hoặc bổ sung năng lực hệ thống giáo dục ĐH mỗi nước thông qua việc cung cấp cơ hội học hỏi thêm các môn học không có ở trong nước; đồng thời tạo lập
sự kết nối, giao lưu giữa các nền văn hóa, góp phần xây dựng sự hiểu biết và tin cậy giữa các quốc gia, giúp đẩy nhanh quá trình hội nhập, chuyển giao và tiếp thu KH&CN, đồng thời quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu và GDĐH
2.1.3 Xu hướng tất yếu của việc gửi người đi học nước ngoài ở các nước đang phát triển
Gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo đã trở thành một xu thế thế giới không thể đảo ngược vì những lý do chính sau đây:
Thứ nhất, có tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, diễn ra từ nhiều thế kỷ
trước kéo dài đến nay
Thứ hai, không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển mà còn ở cả các nước đã
phát triển
Thứ ba, ngày càng có xu hướng được mở rộng về quy mô
Thứ tư, tập trung vào một số ngành/lĩnh vực chủ yếu, bao gồm: GD&ĐT;
nghiên cứu khoa học; quản lý công và tư vấn chính sách; kỹ thuật-công nghệ cao và
Trang 9những ngành công nghiệp mũi nhọn; phát triển môi trường kinh tế tư nhân và kinh tế tri thức
2.1.4 Định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
2.1.4.1 Khái niệm và nội hàm
Định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng
NSNN: là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu cần đạt được cho việc
gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài và việc sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT tốt nghiệp vể nước cùng với cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế, cơ hội để đạt được mục tiêu đặt ra phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước và đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong một khoảng thời gian nhất định nói chung, của mỗi ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất và dịch vụ nói riêng
Nội dung định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN bao gồm:
- Các quan điểm và mục tiêu của định hướng
- Hệ thống chỉ tiêu gửi cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài (bao gồm: quy mô,
cơ cấu ngành nghề đào tạo, cơ cấu đối tượng đào tạo, cơ cấu trình độ đào tạo, và cơ cấu nước gửi đi đào tạo) và để sử dụng hiệu quả cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài tốt nghiệp về nước (bao gồm: tỷ lệ người tốt nghiệp, số lượng người được bổ nhiệm chức danh, chức vụ, vị trí công tác cao hơn sau tốt nghiệp, số lượng công trình nghiên cứu, sách tham khảo, bài báo công bố, các đề tài nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tham gia, giải thưởng nghiên cứu khoa học sau tốt nghiệp về nước, sáng chế, giải pháp hữu ích)
- Hệ thống chính sách, giải pháp để thực hiện định hướng
2.1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT gửi đi học nước ngoài bằng NSNN
- Các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đào tạo: i) Xu thế phát triển và chính sách quốc gia; ii) Khả năng ngân sách; iii) Nhu cầu, khả năng của đối tượng đào tạo; iv) Đặc điểm, chuyên môn ngành nghề đào tạo, và v) Các điều kiện đảm bảo thực hiện (Kinh phí đào tạo; cơ sở đào tạo; quản lý chương trình, thủ tục giải quyết đi học, )
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng: i) Chính sách sử dụng người học sau tốt nghiệp; ii) Môi trường, điều kiện làm việc; iii) Lương, thưởng và phúc lợi; iv) Cơ hội nghề nghiệp, thăng tiến; v) Chính sách quản lý, thu hút sử dụng; vi) Chính sách tạo động lực phi vật chất; vii) Mức độ thỏa mãn của người lao động
2.1.5 Đánh giá thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Trang 102.1.5.2 Đánh giá các yếu tố tác động
Để đánh giá các yếu tố tác động đến định hướng, sử dụng phương pháp chuyên gia, phương pháp định tính và định lượng Phương pháp chuyên gia để hỗ trợ việc tập trung xác định chính xác các yếu tố có vai trò tác động đến định hướng đào tạo và sử dụng cán bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN; Phương pháp định tính nhằm đánh giá mức độ hài lòng của người học đối với chương trình và điều chỉnh sự phù hợp giữa điều kiện thực tế với thang đo nhị phân (0 và 1) và thang đo Likert 7 mức thu thập thông tin về sự hài lòng của LHS, được sắp xếp từ thấp đến cao (1: hoàn toàn không hài lòng và 7: hoàn toàn hài lòng) Phương pháp định lượng nhằm kiểm định mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ hài lòng của của người học với chương trình học bổng, việc quyết định đi học tiếp, lý do quay trở về công tác,… để
từ đó nghiên cứu đánh giá các yếu tố tác động đến định hướng đào tạo và sử dụng cán
bộ KHKT đào tạo ở nước ngoài bằng NSNN
Nghiên cứu định lượng được tiến hành trên cơ sở kết quả nghiên cứu định tính
số liệu thống kê mô tả và kiểm định các thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha; đồng thời tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để khai thác các thành phần chính Cuối cùng, tác giả
sử dụng các mô hình Binary Logistic (Fisher đề xuất 1936) đánh giá mức độ phụ thuộc giữa sự hài lòng,và quyết định tiếp tục học lên và quyết định về nước
Các bước nghiên cứu bao gồm:
i) Phân tích tương quan với bảng số liệu định tính
Tiến hành kiểm định 2
về tính độc lập của 2 dấu hiệu định tính A và B với các thuộc tính tương ứng: A1, A2, … , Ah và B1, B2, … , Bk bằng việc sử dụng bảng Crosstable có 2 dấu hiệu định tính A và B với cặp giả thuyết:
A và B độc lập
A và B phụ thuộc Khi n khá lớn, tiêu chuẩn kiểm định cho cặp giả thuyết sẽ là:
; 1
2 2
2 2
k h m
n
n n
W
h
i k
ij
Kiểm định phi tham số trên đây chỉ xác định được giữa 2 dấu hiệu định tính có quan hệ với nhau hay không Để đo mức độ liên hệ giữa 2 dấu hiệu đó, tác giả sử dụng hệ số liên hợp Pearson (P):
2 2
) 1 , 1 min(
: 1
0
H H
Trang 11Kiểm định thang đo của các biến số, tác giả sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha () để loại trừ sự vô lý nếu có trong các câu trả lời
Giả định chúng ta cần tính một đại lượng gộp của K thành phần: X Y1 Y2 Y k thì hệ số Cronbach’s Alpha được định nghĩa:
2
1 2
1 1
K Y i X
i
K K
Mô hình Binary Logistic là mô hình hồi quy 1 biến nhị phân (chỉ nhận hai giá trị 0 và 1) theo các biến độc lập và có cấu trúc:
2.2 Kinh nghiệm quốc tế về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực khoa học
kỹ thuật ở nước ngoài và bài học cho Việt Nam
Từ nghiên cứu thực tiễn của một số quốc gia trên thế giới, luận án rút ra được một số bài học cụ thể để Việt Nam có thể tham khảo được như sau:
Một là, gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phải được xem là một xu thế,
định hướng chính; một cấu phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển GDĐT
và KHCN Cần tăng cường đầu tư kinh phí đào tạo để tăng quy mô, số lượng người gửi đi đào tạo nước ngoài bằng NSNN
Hai là, cần có định hướng rõ ràng, cụ thể về cơ cấu đào tạo bao gồm bậc đào
tạo, nước gửi đi đào tạo, ngành nghề đào tạo
Ba là, chương trình học bổng quốc gia cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với
nhiều cơ sở GDĐH trên thế giới, các tổ chức giáo dục quốc tế, các cơ quan quản lý giáo dục các nước để có thỏa thuận hợp tác cùng cấp học bổng nhằm tăng cơ hội học tập tại các nước và tiết kiệm kinh phí đào tạo
Bốn là, việc gửi cán bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo phải gắn với định hướng
phát triển KT-XH của từng giai đoạn,
Năm là, đẩy mạnh phát triển các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học hiện
hữu ở trong nước; xây dựng một số trường ĐH và các ngành/lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu then chốt đạt trình độ tiên tiến quốc tế
Sáu là, có nhận thức và quan điểm đúng đắn về sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT
được đào tạo ở nước ngoài trở về
Trang 12CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐÀO TẠO Ở NƯỚC NGOÀI
BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA
(NGHIÊN CỨU ĐỀ ÁN 322/365) 3.1 Tổng quan các Đề án, Chương trình đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đã triển khai do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý
3.1.1 Các Đề án, chương trình đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý
Từ năm 2000 đến năm 2014, nhà nước đã triển khai 8 chương trình, đề án gửi cán
bộ KHKT ra nước ngoài đào tạo bằng NSNN dưới 2 hình thức: Cấp phát NSNN trực tiếp và xử lý nợ Trình độ đào tạo ưu tiên là đại học và sau đại học (bao gồm TS, Th.S và ĐH) Tổng số đã gửi là 16.149 người, trong đó gần một nửa (7.246 người) đi theo đường hiệp định Số còn lại nhận học bổng NSNN cấp phát trực tiếp (8.903 người)
3.1.2 Tổng quan tình hình sử dụng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý
Dựa trên phân tích thực trạng và kết quả khảo sát, luận án rút ra được những nhận xét chính như sau:
Thứ nhất, cán bộ KHKT tốt nghiệp về nước đã bổ sung thêm vào đội ngũ cán
bộ có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, nghiên cứu, quản
lý của các cơ quan và trở thành các cán bộ nòng cốt trong cơ quan
Thứ hai, sinh viên, cán bộ KHKT đi học theo các Đề án đào tạo ở nước ngoài
bằng NSNN khi trở về có trình độ ngoại ngữ tốt, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu và quản lý, phát huy được năng lực, kiến thức chuyên môn được đào tạo, có mối quan hệ chặt chẽ với cơ sở đào tạo đã học tập, số lượng công trình nghiên cứu hợp tác với nước ngoài, số bài báo khoa học quốc tế tăng lên đáng kể
Thứ ba, cơ chế ưu đãi để thu hút và sử dụng đối tượng sinh viên đi học nước
ngoài sau tốt nghiệp còn chưa được các cơ quan nhà nước quan tâm, đặc biệt là số sinh viên đi học trở về nước rất ít được các cơ quan nhà nước tuyển dụng do bị hạn chế về chỉ tiêu và điều kiện tuyển dụng cán bộ
Thứ tư, đối tượng người học đã có cơ quan công tác trước khi đi học, việc trở
về nước làm việc chủ yếu người làm việc tại cơ quan nhà nước Tuy nhiên, nhiều trường hợp khi trở về cũng chưa được thu nhận hết Những người muốn vào làm cơ quan nhà nước gặp khó khăn về biên chế và chưa có chủ trương khuyến khích các cơ quan nhà nước tiếp nhận người tốt nghiệp nước ngoài về nước
Thứ năm, việc điều tra, thu thập ý kiến về tình hình công tác của LHS đã tốt
nghiệp và ý kiến từ các cơ quan có LHS theo chương trình học bổng Việt Nam về tình hình làm việc của người học tốt nghiệp tại cơ quan và sử dụng cán bộ của cơ quan còn gặp khó khăn và hạn chế
3.2 Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo và sử dụng của Đề
Trang 13đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc CNH, HĐH đất nước
3.2.1.2 Định hướng đào tạo của Đề án
a) Quy mô, chỉ tiêu đào tạo
Theo kế hoạch, giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010, tổng số chỉ tiêu tuyển sinh gửi đi đào tạo nước ngoài bằng nguồn vốn NSNN theo đề án là 4.000, bao gồm 2.000 chỉ tiêu đào tạo tiến sỹ; 1.000 chỉ tiêu đào tạo thạc sỹ; 500 chỉ tiêu đào tạo kỹ
sư, cử nhân và 500 chỉ tiêu thực tập sinh khoa học
b) Đối tượng đào tạo
Đề án tập trung đào tạo và bồi dưỡng các đối tượng là cán bộ KHKT tại các trường ĐH trọng điểm, các viện nghiên cứu đầu ngành, các phòng thí nghiệm trọng điểm và khu công nghệ cao; cán bộ KHKT đang trực tiếp chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tham gia hoạch định chính sách phát triển KT-XH; cán bộ, công chức và sinh viên có thành tích xuất sắc
c) Cơ cấu ngành nghề, trình độ, nước gửi đi đào tạo
Đề án ưu tiên cho những ngành KHCN trọng điểm như công nghệ thông tin; công nghệ sinh học; công nghệ vật liệu và các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế -
xã hội mà trong nước chưa có điều kiện đào tạo hoặc chưa đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng đào tạo Các trình độ đào tạo bao gồm: TS, Th.S, Kỹ sư, cử nhân; Thực
tập sinh khoa học Nơi gửi đi đào tạo chủ yếu là các nước phát triển
3.2.1.3 Định hướng sử dụng của Đề án
Đề án xây dựng và phát triển nguồn nhân lực KHKT có chất lượng chuyên môn cao, hoạt động trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, có khả năng tiếp nhận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại của thế giới đồng thời có khả năng nghiên cứu giải quyết những vấn đề của Việt Nam và khi trở về sẽ cùng với đội ngũ cán bộ KHKT trong nước tham gia xây dựng hệ thống pháp luật, hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, đàm phán quốc tế, phát triển khoa học-công nghệ, giáo dục, y tế,… Những cán bộ KHKT này sẽ là nhân tố đóng vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng của các trường đại học, viện nghiên cứu đầu ngành, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia
3.2.2 Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo cán bộ khoa học
kỹ thuật đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước theo đề án 322/356
3.2.2.1 Phân tích thực trạng thực hiện định hướng đào tạo theo số liệu thứ cấp (theo báo cáo của Đề án)
a) Quy mô, chỉ tiêu đào tạo
Tính đến tháng 12/2012 tổng số LHS thực tuyển là 6.821 người, so với kế hoạch đề ra tăng 70,52% (tăng 2.821 người)
b) Đối tượng đào tạo
LHS trúng tuyển để gửi đi đào tạo ở nước ngoài trong khuôn khổ đề án là người của gần 300 cơ quan, đơn vị; trong đó, hơn 200 là các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu khoa học Điểm đáng chú ý là trong tổng số lượng LHS trúng tuyển là cán
bộ, giảng viên các trường ĐH, CĐ và các viện nghiên cứu chiếm xấp xỉ 80% và chiếm khoảng 90% tổng số người được gửi đi đào tạo trình độ TS