Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang những đặc điểm chính: tỷ lệ vốn pháp định của dự án đạt mức độ tối thiểu tùy thuộc theo luật đầu tư của từng quốc gia; các nhà đầu tư nước ngoài trực t[r]
Trang 1Thu hút FDI là một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ sự phát triển của thương mại quốc tế, liên kết kinh tế quốc tế Trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ đặc biệt là các nước chậm và đang phát triển lại không cần FDI và coi đó là nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế
Với tính chất là vùng lãnh thổ hoạt động theo quy chế riêng trong môi trường đầu tư chung của cả nước, KCN trở thành công cụ hữu hiệu thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI Thông qua việc thu hút FDI, KCN du nhập kỹ thuật công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty tư bản nước ngoài, đồng thời tạo ra nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp Nhờ những ưu đãi vượt trội, cơ chế quản lý thông thoáng, KCN có điều kiện thuận lợi trong vận chuyển, sản xuất, lưu thông và xuất khẩu hàng hóa Khu vực này chính là cầu nối nền kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, có tác dụng lan tỏa, dẫn dắt trong việc phát triển kinh tế đất nước
Là một tỉnh miền núi có nhiều khó khăn, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, Phú Thọ cần có các cơ chế, chính sách nhằm thu hút, tăng cường các nguồn vốn vào tỉnh để phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển Đặc biệt là việc xúc tiến, đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu công nghiệp của tỉnh
Để thúc đẩy mạnh thu hút FDI vào các Khu công nghiệp của tỉnh, Phú Thọ cần đánh giá thực trạng đầu tư FDI vào KCN trong thời gian qua, phân tích ưu điểm, nhược điểm và làm rõ nguyên nhân Trên cơ sở đó kết hợp với việc so sánh, đánh giá những kết quả đạt được của các tỉnh lân cận, đưa ra các
Trang 2giải pháp phù hợp và vận dụng những bài học kinh nghiệm, góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương Đây là công việc có ý nghĩa thiết thực và cần được thực hiện ngay để tăng cường thu hút và triển khai các dự án FDI trong thời gian tới Việc nghiên cứu đề tài “Đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ” có tính cấp thiết, đáp ứng những đòi hỏi đặt ra trong thực tiễn
Trong thời gian qua, có rất nhiều đề tài viết về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, một số đề tài viết về tăng cường thu hút triển khai các dự
án FDI vào các tỉnh Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào đề cập sâu đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN của tỉnh Phú Thọ
Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng thu hút đầu tư FDI vào các KCN của Phú Thọ và đề ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu, hiện nay chưa có công trình khoa học nào thực hiện
Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút và triển khai các dự án FDI tại các KCN của tỉnh Phú Thọ, luận văn chỉ ra những ưu điểm và những hạn chế trong việc thu hút, triển khai các dự án FDI tại các KCN tỉnh Phú Thọ và sẽ
đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI tại tỉnh và cụ thể là tại các KCN
Tác giả sẽ tổng hợp những vấn đề: hệ thống các lý thuyết về Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cụ thể là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu công nghiệp; phân tích thực trạng thu
Trang 3hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu công nghiệp của Phú Thọ; trên
cơ sở đó, đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao nhằm giúp Phú Thọ thu hút được nhiều dự án FDI và triển khai đúng tiến độ dự kiến
Luận văn được xây dựng bằng phương pháp dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, được xây dựng
hệ thống, lôgíc nhờ các phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu thông qua các công cụ thống kê toán Luận văn cũng sử dụng phương pháp só sánh, đối chiếu các vấn đề thực tiến trong thu hút và triển khai các dự án FDI tại KCN các tỉnh trong vùng Luận văn tổng hợp một cách tương đối hệ thống những vấn đề lý luận về FDI, các dự án FDI, thu hút đầu tư FDI, KCN Đánh giá thực trạng, tổng kết những ưu điểm và tồn tại của việc xúc tiến đầu tư FDI vào các KCN Phú Thọ, so sánh với các địa bàn lân cận, rút ra bài học Đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI tại tỉnh và cụ thể là tại các KCN
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận có kết cấu 3 chương:
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO KHU CÔNG NGHIỆP
Trong nội dung Chương I, luận văn tập trung vào việc trình bày khái niệm, đặc điểm và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, Khu công nghiệp và thu hút đầu tư trực tiếp vào KCN đối với quá trình phát triển công nghiệp của địa phương Bên cạnh
đó luận văn cũng nêu lên những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về Đầu tư trực tiếp nước ngoài
có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một lĩnh vực nhất định, trực tiếp quản lý điều hành để thu lợi nhuận trong kinh doanh Hoạt động FDI được thực hiện thông qua dự án gọi là dự án FDI.”
Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra có tính chất khách quan và chịu sự tác động của quy luật cung cầu về vốn giữa các quốc gia, chính sách thu hút đầu tư của các nước, quá trình tự do hóa đầu tư theo các nguyên tắc quốc tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang những đặc điểm chính: tỷ lệ vốn pháp định của dự án đạt mức độ tối thiểu tùy thuộc theo luật đầu tư của từng quốc gia; các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà họ đã bỏ vốn đầu tư; kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phân chia cho các bên theo tỷ lệ tùy thuộc vào tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định của doanh nghiệp sau khi đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ về thuế đối với nước sở tại; đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện thông qua việc thành lập doanh nghiệp mới, mua
Trang 5lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau; Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư
Khác với các dự án đầu tư trong nước hoặc các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra có tính chất khách quan và chịu sự tác động của quy luật cung cầu về vốn giữa các quốc gia, chính sách thu hút đầu tư của các nước, quá trình tự do hóa đầu tư theo các nguyên tắc quốc tế Các đặc trưng cơ bản của các dự án FDI là sự hợp tác theo nguyên tắc thỏa thuận của nhiều quốc gia với quốc tịch, ngôn ngữ, pháp luật, văn hoá, truyền thống, trình độ phát triển khác nhau làm cho các dự án FDI trở nên hết sức phức tạp trong quá trình soạn thảo, triển khai và vận hành
Theo Luật Đầu tư năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật khác
có liên quan, ở Việt Nam hiện nay có các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài: Hình thức đầu tư 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp liên doanh, Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT, Đầu tư phát triển kinh doanh, Đầu tư theo hình thức mua
cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư, Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
Hoạt động thu hút FDI chịu sự tác động đồng thời của nhiều nhân tố
Có nhiều cách phân loại nhân tố tác động đến thu hút FDI như: phân loại theo phạm vi lãnh thổ quốc gia (có nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài), theo chủ thể gây ra nhân tố (có nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan), theo các mối liên hệ (có nhân tố chính trị, cung cầu, môi trường đầu tư, quy mô và tính chất thị trường )
Trang 6Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa về Khu công
nghiệp như sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ
Theo như phân tích nêu trên, thể nhận nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của Khu công nghiệp: Khu công nghiệp là một khu có ranh giới địa lý xác định; Trong khu công nghiệp được phân doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
và doanh nghiệp dịch vụ cho ngành sản xuất công nghiệp; Các doanh nghiệp đầu tư trong Khu công nghiệp có thời gian hoạt động tối đa không quá 50 năm và không quá thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng Khu công nghiệp; Các doanh nghiệp đầu tư trong Khu công nghiệp được thuê lại đất trong Khu công nghiệp theo quy định hiện hành để xây dựng nhà xưởng
và các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, được sử dụng có trả tiền các công trình kết cấu hạ tầng, các tiện nghi tiện ích công và các dịch vụ trong Khu công nghiệp; Các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp được hỗ trợ đầu
tư bởi cơ chế chính sách của từng tỉnh; Các doanh nghiệp đầu tư trong Khu công nghiệp được Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban quản lý các Khu công nghiệp của tỉnh hỗ trợ trong lĩnh vực nguồn lao động (ví dụ như thành lập Trung tâm dịch vụ việc làm), đảm bảo điều kiện sinh hoạt, dịch vụ kèm theo cho công nhân lao động trong Khu công nghiệp
Hiện nay, phát triển các KCN đang là mục tiêu hướng tới của nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước nhằm thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp theo quy hoạch và thay đổi cơ cấu kinh tế của các địa phương Phát triển các KCN cũng thúc đẩy việc hình thành và phát triển các đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích quốc gia, trong đó
Trang 7việc tăng thu nhập và tạo việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-
kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho sự phát triển đất nước Các tỉnh phía Bắc nước
ta gồm nhiều vùng kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau, tạo nên khu vực kinh tế tổng hợp gồm Trung du và miền núi phía Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng Bắc Trung bộ Việc phát huy thế mạnh của mỗi vùng kinh tế sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy kinh tế khu vực này phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai Đặc biệt, những
nỗ lực cho phát triển các KCN ở khu vực này sẽ nhanh chóng tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển công nghiệp trong vùng và góp phần tăng trưởng kinh tế của
cả nước Các KCN phía Bắc có khó khăn riêng của mình do chí phí san lấp cao, giải phóng, đền bù lớn Vì vậy, muốn đẩy mạnh các KCN phía Bắc phải
có sự hỗ trợ và thống nhất cao của lãnh đạo ở tỉnh, ban ngành địa phương
Trang 8CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ THỌ
Tỉnh Phú Thọ thuộc trung du miền Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, tỉnh Hoà Bình, phía Nam giáp tỉnh Hà Tây và phía Ðông giáp tỉnh Vĩnh Phúc; cách sân bay quốc
tế Nội Bài 50 km, cách Thủ đô Hà Nội 80 km và cách thành phố Hải Phòng
170 km Với vị trí "ngã ba sông"- điểm giao nhau của sông Hồng, sông Ðà và sông Lô, là cửa ngõ phía tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ là đầu mối trung chuyển, giao lưu kinh tế giữa các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và hai tỉnh Quảng Tây, Vân Nam Trung Quốc Nằm trong vành đai của các tuyến trục giao thông quan trọng: đường bộ có quốc lộ 2, đường cao tốc Vân Nam, Côn Minh (Trung Quốc)- Hà Nội, Hải Phòng, đường Hồ Chí Minh, đường sắt có tuyến đường xuyên Á, đường sông chạy từ Trung Quốc qua các tỉnh phía Tây vùng Ðông Bắc đều qui tụ về Phú Thọ rồi mới toả đi Hà Nội, Hải Phòng và các khu vực khác
Tổng GDP của Phú Thọ năm 2006 đạt 4.934 tỷ VNĐ; Tốc độ tăng trưởng kinh tế là 10,7% Trong đó ngành nông nghiệp tăng 6,6%, ngành công nghiệp xây dựng tăng 12,48% và ngành dịch vụ thương mại tăng 9,12%
Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp- xây dựng: 38,7%; Nông lâm- thuỷ sản: 27%; Dịch vụ: 34,3%
Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố, 1 Thị xã và 10 huyện với tổng số 274 xã, phường, thị trấn Có 23 dân tộc và 2 tôn giáo chính
là đạo phật, đạo công giáo
Trang 9Là một tỉnh còn gặp nhiều khó khăn ít lợi thế so sánh về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhờ nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, Phú Thọ đã tích cực cải thiện môi trường đầu tư và đã thu hút được số lượng dự án có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài đáng kể So với cả nước, Phú Thọ xếp thứ 15 về thu hút đầu tư và dẫn đầu các tỉnh miền núi phía Bắc Hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 26,7% vốn đầu tư phát triển trên địa bàn, các doanh nghiệp
dã tạo ra 12% GDP, 27,82% giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp 70,4% giá trị kim ngạch xuất khẩu, 10% thu ngân sách tỉnh và giải quyết việc làm cho trên 15 nghìn người
Các doanh nghiệp FDI đã góp phần đa dạng hóa ngành nghề, sản phẩm, nâng cao tình độ công nghệ, quản lý sản xuất, khả năng cạnh tranh hội nhập, tạo ra năng lực sản xuất mới Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cơ bản đảm bảo đúng pháp luật, sản xuất ổn định có đóng góp quan trong vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Hầu hết các doanh nghiệp triển khai dự án đảm bảo mức vốn đầu tư đăng ký, hệ số sử dụng đất khá cao, thu hút được nhiều lao động, giải quyết việc làm và đảm bảo thu nhập chung trên địa bàn cho người lao động
Nhìn chung, các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu hút phù hợp với quy hoạch và định hướng đầu tư của tỉnh Việc cấp giấy chứng nhận đầu tư đã hướng tập trung vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và tận dụng các quỹ đất theo quy hoạch ngoài KCN, chú trọng đến các địa bàng theo định hướng phát triển kinh tế của tỉnh
Ban quản lý các Khu công nghiệp Phú Thọ đảm nhiệm hướng dẫn trợ giúp miễn phí các nhà đầu tư trong và ngoài nước hình thành dự án đầu tư vào Khu công nghiệp; tiếp nhận, thẩm định hồ sơ dự án, cấp, điều chỉnh và thu hồi
Trang 10giấy phép đầu tư, quyết định phê duyệt dự án, chấp thuận dự án đầu tư, tổ chức thực hiện dự án đầu tư và quản lý hoạt động của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp
Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 03 KCN tập trung được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính Phủ, hoạt động theo quy chế KCN, khu chế xuất và khu công nghệ cao (KCN Thụy Vân, Khu công nghiệp Trung Hà và KCN Phù Ninh) Tổng diện tích quy hoạch gần 600 ha Trong đó đã có 02 KCN tập trung được triển khai đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng và đi vào hoạt động, đó là Khu công nghiệp Thụy Vân và Khu công nghiệp Trung Hà
Bên cạnh đó, Ban quản lý các KCN Phú Thọ còn được UBND tỉnh giao quy hoạch và quản lý các cụm công nghiệp: Cụm công nghiệp Bạch Hạc, Cụm công nghiệp xi măng Yến Mao và KCN Tam Nông, với tổng diện tích gần 300 ha
UBND tỉnh đã ban hành chính sách ưu đãi đầu tư trực tiếp nước ngoài và các dự án đầu tư trong nước vào tỉnh Phú Thọ và cũng đã bổ xung, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế:
Quyết định số 1730/2001/QĐ-UB ngày 14/6/2001, Quyết định số 2054/QĐ-UB ngày 04/07/2002, Quyết định số 1654/2003/QĐ-UB ngày 05/06/2003 “ về quy định, điều chỉnh, bổ xung một số chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài và các dự án đầu tư trong nước vào tỉnh Phú Thọ”
Để tăng cường thu hút đầu tư vào các KCN đối với điều kiện hội nhập hiện nay, Ban Quản lý các Khu công nghiệp Phú Thọ đã có Quyết định số 239/HC ngày 6/9/2007 về việc cung cấp thông tin về các cụm, khu công nghiệp Phú Thọ Tại Quyết định này, Ban Quản lý các KCN Phú Thọ đã cung cấp các thông tin về quy hoạch các Cụm, khu công nghiệp đã đầu tư xây