Với những cơ sở đó, luận văn xin đi sâu nghiên cứu về thực trạng dự thầu cung cấp thiết bị cho hệ thống dịch vụ gia tăng giá trị trên điện thoại di động tại Việt Nam của Công ty TN[r]
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiện nay nước ta đang phải đối mặt với sự thiếu hụt đội ngũ nhân lực chất lượng cao
Để đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của nền kinh tế, GDĐH bắt buộc phải gia tăng quy mô, trong khi đó nguồn lực lại hạn hẹp khiến cho chất lượng GDĐH bị đe dọa Một trong những phương hướng và giải pháp là đa dạng hóa các hình thức đào tạo đại học kết hợp với đa phương hóa cũng như tăng cường nguồn tài chính cho đào tạo đại học Sự đóng góp của nguồn vốn FDI vào GDĐH ngày càng trở nên quan trọng trong xu thế toàn cầu hóa giáo dục hiện nay Mặt khác, thị trường GDĐHVN được đánh giá là một trong những điểm đến triển vọng cho đầu tư
Trong khi đó, hình thức kêu gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào GDĐH lại đang rất khiêm tốn Nhiều nước châu Á đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc thu hút FDI vào GDĐH và đã áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư có hiệu quả, đang trở thành những điểm đến sôi động nhất toàn cầu về sự phát triển của các trường đại học FDI như Singapore, Trung Quốc, UAE, Malaysia
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước và áp
dụng cho thực tế tại Việt Nam, nên đề tài “Thu hút FDI vào lĩnh vực GDĐH ở một số nước thuộc châu Á và kinh nghiệm cho Việt Nam” được chọn để viết luận văn thạc sỹ
Quản trị kinh doanh
Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục thành 4 chương như sau:
- Chương 1: Lý luận chung về thu hút FDI vào lĩnh vực GDĐH và tầm quan trọng
của thu hút FDI vào lĩnh vực GDĐHVN
- Chương 2: Kinh nghiệm thu hút FDI vào lĩnh vực GDĐH ở một số nước châu Á
giai đoạn 2000 – 2011
- Chương 3: Thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực GDĐHVN giai đoạn 2000 -
2011
- Chương 4: Định hướng và một số giải pháp nhằm thu hút có hiệu quả FDI vào
Trang 2phát triển GDĐHVN đến năm 2020
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Tại thời điểm năm 2000, thị trường viễn thông Việt Nam gần như chưa có cạnh tranh bởi VNPT vẫn là doanh nghiệp chiếm thị phần áp đảo trong hầu hết các dịch vụ viễn thông Thời điểm đó, dịch vụ viễn thông của Việt Nam vẫn đang có mức cước cao
Cụ thể, điện thoại di động chia 3 vùng cước với mức cước nội vùng là 3.500 đồng/phút, liên vùng là 6.000 đồng/phút và cách vùng là 8.000 đồng/phút Với việc mở cửa thị trường viễn thông cho nhiều doanh nghiệp khác tham gia như Viettel, EVN Telecom, FPT Telecom, Gtel, Hanoi Telecom thị trường viễn thông Việt Nam liên tục tăng trưởng ở mức bùng nổ
Tuy nhiên, thị trường viễn thông Việt Nam đến nay đã có xu hướng bão hòa với các đợt khuyến mại nên việc lựa chọn công nghệ mới với các ứng dụng đang trở thành tiêu chí để khách hàng chọn nhà cung cấp Xu hướng di động toàn cầu trong thời gian tới được nhận định sẽ là các ứng dụng gia tăng trên mạng, thiết bị đầu cuối sẽ là các mẫu điện thoại thông minh, có nhiều chức năng, tiện ích trong ứng dụng dịch vụ gia tăng trên mạng Với đầu tư ngày một lớn của các nhà khai thác mạng vào các mạng 3G, 4G, khách hàng có thể truy cập Internet qua điện thoại di động, sử dụng các dịch vụ thương mại điện
tử, các dịch vụ giải trí, nhắn tin, tải nhạc, hình ảnh và xem truyền hình qua Mobile
Trước một xu thế phát triển khách quan của công nghệ viễn thông như vậy, đồng thời cũng là một xu hướng tiêu dùng, các nhà cung cấp thiết bị viễn thông cũng đầu tư rất nhiều cho việc nghiên cứu và phát triển các thiết bị tạo các tiện ích dịch vụ giá trị gia tăng trên điện thoại di động Thị trường viễn thông Việt Nam với tốc độ phát triển nhanh chóng trở thành một điểm nóng hấp dẫn cho các công ty viễn thông nhòm ngó tới như Nokia, Ericsson, Huawei, ZTE, Alcatel, Comverse,…
Hoạt động dự thầu vốn dĩ tại thị trường Việt Nam đó không phải dễ thắng thầu, nay càng khó khăn hơn với xu hướng của thị trường và đặc điểm của các nhà khai thác mạng Việt Nam
Với những cơ sở đó, luận văn xin đi sâu nghiên cứu về thực trạng dự thầu cung cấp thiết bị cho hệ thống dịch vụ gia tăng giá trị trên điện thoại di động tại Việt Nam của Công ty TNHH Công nghệ Huawei, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cho cơ hội thắng thầu
Trang 3Tên đề tài: “Đấu thầu cung cấp thiết bị cho dịch vụ gia tăng giá trị trên điện thoại
di động của Công ty TNHH Công nghệ Huawei tại Việt Nam”
Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề về đấu thầu và dự thầu mua sắm thiết bị ở Việt nam
- Chương 2: Thực trạng hoạt động dự thầu cung cấp thiết bị cho dịch vụ gia tăng
giá trị trên điện thoại di động của Công ty TNHH Công nghệ Huawei tại Việt nam
- Chương 3: Một số giải pháp giúp gia tăng cơ hội thắng thầu cung cấp thiết bị cho
dịch vụ GTGT trên ĐTDĐ của Công ty tại Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề mang tính lý luận về đấu
thầu và dự thầu cung cấp thiết bị, đồng thời nghiên cứu về thực trạng dự thầu cung cấp thiết bị tạo dịch vụ gia tăng giá trị trên điện thoại di động tại Việt Nam, có kết hợp với việc phân tích các đặc điểm của các nhà mạng tại Việt Nam và môi trường đấu thầu tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc tập trung nghiên cứu thực trạng
dự thầu trên lĩnh vực nghiên cứu của đề tài trong khoảng thời gian 3 năm gần đây
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: điều tra bản
câu hỏi, phỏng vấn, tổng hợp, thống kê, so sánh và phân tích, kết hợp với việc sử dụng
có chọn lọc các số liệu thống kê từ các báo chí, cơ quan, doanh nghiệp và trên Internet để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu