Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là đánh giá thực trạng CCTM Việt Nam và nhìn nhận đúng về mối quan hệ giữa TGHĐ và CCTM trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam, để từ đó đ[r]
Trang 1MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cán cân thương mại (CCTM) là một trong những biến số kinh tế vĩ mô quan trọng, việc hoạch định các giải pháp nhằm cải thiện CCTM trong điều hành kinh tế vĩ mô
có ý nghĩa quan trọng với mỗi quốc gia Thực tiễn CCTM Việt Nam giai đoạn 2000 –
2011 liên tục ở trạng thái thâm hụt, điển hình là năm 2008 với mức độ thâm hụt chiếm gần 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Thâm hụt thương mại gia tăng và kéo dài thể hiện sự yếu kém của nền kinh tế, là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn kinh tế vĩ mô
Hiệu quả của chính sách tỷ giá trong mục tiêu cải thiện CCTM vẫn còn tồn tại nhiều góc nhìn trái chiều, cho thấy sự thiếu một câu trả lời thực sự rõ ràng, mạnh mẽ và đáng tin cậy về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái (TGHĐ) và CCTM trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam
Trước tình hình đó, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang trong quá trình mở cửa nền kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng thì việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện và đáng tin cậy về vấn đề nêu trên là rất cần thiết, để từ đó có những chính
sách, hướng đi phù hợp trong thời gian tới Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn thạc sĩ Tác giả hy vọng sẽ góp phần làm rõ thực trạng CCTM và chính sách TGHĐ của Việt Nam trong thời gian qua; đánh giá, nhìn nhận mối quan hệ giữa TGHĐ
và CCTM trong điều kiện kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm cải thiện CCTM của Việt Nam trong thời gian tới
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là đánh giá thực trạng CCTM Việt Nam và nhìn nhận đúng về mối quan hệ giữa TGHĐ và CCTM trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam, để từ đó đề xuất được những giải pháp phù hợp góp phần cải thiện xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thực trạng CCTM và chính sách tỷ giá của
Trang 2Việt Nam, mối quan hệ giữa TGHĐ và CCTM trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn tập trung vào mối quan hệ tác động của TGHĐ
lên CCTM thông qua một số mô hình lý thuyết đã được thừa nhận và vận dụng vào điều kiện thực tế của Việt Nam Số liệu sẽ được sử dụng trong phân tích thực nghiệm có tần suất theo quý, từ quý 1 năm 2000 đến quý 1 năm 2016, được thu thập từ cơ sở dữ liệu lịch sử của Tổng cục Thống kê (GSO), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trang mạng http://vietstock.vn/, và Datastream của Thomson Reuters
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định lượng trong nghiên cứu Với gợi ý từ các mô hình lý thuyết, tác giả xây dựng mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa TGHĐ và CCTM và áp dụng với số liệu thực nghiệm của Việt Nam Tác giả sử dụng cách tiếp cận trễ phân phối tự hồi quy (ARDL) trong nghiên cứu, nhằm đánh giá chính xác hơn mối quan hệ giữa TGHĐ với CCTM
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được trình bày theo 3 chương như sau:
Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN
CÂN THƯƠNG MẠI VÀ TỔNG QUAN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ
GIÁ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2016
Chương 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VỚI SỐ LIỆU CỦA VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN
2000 – 2016
Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN
CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ TỔNG QUAN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong phần đầu chương 1, tác giả trình bày các nội dung cơ bản về TGHĐ và CCTM, cơ sở lý thuyết về tác động của TGHĐ lên CCTM Tác giả tiếp cận CCTM theo
Trang 3cách tiếp cận co dãn; tác động của TGHĐ lên CCTM theo cách tiếp cận này được thể hiện thông qua điều kiện Marshall – Lerner và Hiệu ứng đường cong J
Điều kiện Marshall – Lerner được biểu diễn như sau:
Hoặc:
Với lần lượt là hệ số co dãn của cầu hàng hóa xuất khẩu và cầu hàng hóa
nhập khẩu theo tỷ giá Theo điều kiện Marshall – Lerner, để việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới CCTM, thì tổng giá trị tuyệt đối của độ co dãn của cầu hàng hóa xuất khẩu theo tỷ giá và giá trị tuyệt đối của độ co dãn cầu hàng hóa nhập khẩu theo tỷ giá
phải lớn hơn 1
Hiệu ứng đường cong J hàm ý phá giá nội tệ sẽ làm CCTM xấu đi trong ngắn hạn
và CCTM có thể sẽ được cải thiện trong trung hạn và dài hạn Hay nói cách khác, trong ngắn hạn, độ co dãn của cầu khá nhỏ, thậm chí bằng 0, nên điều kiện Marshall – Lerner khó được thỏa mãn Trong trung và dài hạn, hệ số co dãn của cầu lớn hơn nên điều kiện Marshall – Lerner được đáp ứng
Trong chương này, tác giả cũng dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đi trước nhằm xây dựng mô hình thực nghiệm đánh giá tác động của TGHĐ tới CCTM
Cụ thể, mô hình hồi quy dạng tĩnh có dạng như sau:
Với TB là CCTM, được đại diện bởi tỷ số giữa tổng kim ngạch xuất khẩu chia cho tổng kim ngạch nhập khẩu của nước phá giá nội tệ; Y là thu nhập thực tế trong nước của nước phá giá nội tệ; REER là tỷ giá hữu hiệu thực tế; Y f
là thu nhập thực tế của các đối tác nước ngoài có quan hệ thương mại với nước phá giá nội tệ
Hệ số ước lượng được kỳ vọng là một giá trị âm, ước lượng kỳ vọng là giá trị dương Dấu của hệ số ước lượng của sẽ tùy thuộc vào độ co dãn của cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu theo tỷ giá Nếu cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu co dãn mạnh theo tỷ giá, tức việc đồng nội tệ mất giá giúp cải thiện CCTM thì ước lượng của được kỳ vọng có
Trang 4giá trị dương, và ngược lại Hay nói cách khác, điều kiện Marshall – Lerner được đáp ứng
khi hệ số của biến lnREER lớn hơn 0
Mô hình hồi quy dạng động nhằm đánh giá cả tác động trễ của các biến lên CCTM
ở dạng trễ phân phối tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag – ARDL) như sau:
Mô hình hồi quy dạng động cho phép đánh giá tác động của TGHĐ cũng như các biến số khác lên CCTM không chỉ ở thời điểm phá giá, mà cả ở các thời kỳ trễ sau đó Qua đây, ta hoàn toàn có thể đánh giá ảnh hưởng của các biến số trong ngắn hạn và ảnh
hưởng cân bằng trong dài hạn
Mối quan hệ dài hạn: Hệ số tác động cân bằng dài hạn của LnY, LnREER, LnY f lên
LnTB lần lượt là:
(1.21)
Mối quan hệ ngắn hạn: Chuyển mô hình ARDL về dạng sai phân ta được mô hình dạng ECM (Error Correction Model – ECM) như sau:
Với EC - error correction, là phần hiệu chỉnh sai số, và:
Trang 5Hay:
Hệ số thể hiện tốc độ điều chỉnh sai số kỳ trước trong kỳ hiện tại
Trong mô hình dạng ECM, , , , với k nhỏ sẽ cho biết tác động trong ngắn
hạn của các biến lên tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu Khi phá giá nội tệ, diễn biến của
CCTM tuân theo hiệu ứng đường cong J nếu nhận giá trị âm với k nhỏ (ngắn hạn), và nhận giá trị dương nếu k lớn (trung và dài hạn)
Phần cuối chương 1, tác giả trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài nước Từ đó tác giả rút ra những điểm mạnh và những điểm cần giải quyết của các nghiên cứu đi trước, nhằm kế thừa và hiệu chỉnh cho nghiên cứu của mình
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH SÁCH
TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2016
Chương 2 trình bày về thực trạng quá trình hội nhập quốc tế, thực trạng CCTM và chính sách tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2016 Qua đó, tác giả đưa ra những phân tích trực quan về mối quan hệ giữa chính sách tỷ giá với diễn biến CCTM Việt Nam
Chương 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VỚI SỐ LIỆU CỦA VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 2000 – 2016
Chương 3 dựa trên mô hình thực nghiệm dạng động để đánh giá tác động của
Trang 6TGHĐ đến CCTM với số liệu thực tế của Việt Nam Mô hình sẽ được điều chỉnh nhằm khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước và phù hợp hơn với thực tiễn nền kinh tế Việt Nam
Có bốn biến kinh tế vĩ mô được sử dụng trong phân tích thực nghiệm, bao gồm:
CCTM của Việt Nam – TB, được đại diện bởi tỷ số giữa tổng giá trị xuất khẩu
chia cho tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam (đơn vị: tỷ USD);
Thu nhập thực tế trong nước của Việt Nam – Y, được đại diện bởi tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) thực tế của Việt Nam theo giá năm 2010 (đơn vị: tỷ USD);
Tỷ giá hữu hiệu thực tế - REER được tính dựa trên 20 đồng tiền của 20 đối tác
thương mại chính của Việt nam, bao gồm: Pháp, Đức, Italy, Hà Lan, Australia, Hong Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Nga và Brazil;
Thu nhập thực tế của nước ngoài - Y f
, được đại diện bởi trung bình có trọng số
của GDP thực tế theo giá 2010 của 20 quốc gia được lựa chọn trong rổ tính
REER, với trọng số chính là tỷ trọng thương mại của nước i trong mối quan hệ
với Việt Nam (đơn vị: tỷ USD)
Các biến số đều được thống kê theo quý, trong giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 1 năm 2016
Kết quả kiểm tra tính dừng cho thấy các biến lnTB, lnREER, lnY đều không dừng, lnY f dừng với mức ý nghĩa 5%; sai phân bậc nhất của các biến đều dừng với mức ý nghĩa 1%
Để phù hợp hơn với thực trạng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, cũng như là thực trạng các biến số đã được đề cập trong chương 2, tác giả hiệu chỉnh mô
hình bằng cách thêm các biến WTO và T Với WTO là biến giả, nhận giá trị bằng 0 trong
giai đoạn 2000Q1 – 2006Q4 (trước khi Việt Nam gia nhập WTO), và nhận giá trị bằng 1
trong giai đoạn 2007Q1 – 2016Q1 (sau khi Việt Nam gia nhập WTO); T là biến xu thế
thời gian
Trang 7Mô hình ARDL với số liệu đa phương được lựa chọn tự động theo tiêu chuẩn AIC
là ARDL(1,2,3,0)
Kết quả ước lượng tác động dài hạn theo mô hình ARDL(1,2,3,0) cho thấy các
biến số lnY, lnREER, lnY f
đều ảnh hưởng ngược chiều lên lnTB; tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu của Việt Nam giảm đi sau khi gia nhập WTO và xu thế trung bình là tăng sau mỗi
quý
Thu nhập thực tế có tác động ngược chiều đến CCTM quốc gia, phù hợp so với kỳ vọng Khi thu nhập thực tế trong nước tăng lên 1%, các yếu tố khác là không đổi thì trung bình tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu giảm xuống 0.68%
Hệ số ước lượng của biến lnY f
âm, hàm ý thu nhập thực tế phía nước ngoài tăng sẽ
làm xấu đi CCTM Việt Nam Mặc dù điều này không phù hợp với lý thuyết kinh tế, nhưng có thể hiểu do chất lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam còn nhiều hạn chế, khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường còn yếu kém
Hệ số của biến WTO ước lượng được là một giá trị âm, thể hiện sau khi trở thành
thành viên của WTO thì CCTM của Việt Nam trở nên xấu đi Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi nền kinh tế Việt Nam còn nhiều hạn chế, còn phụ thuộc lớn vào phía nước ngoài Sau mỗi bước hội nhập kinh tế quốc tế, hàng hóa Việt Nam có thị trường rộng mở hơn, đồng
thời Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa nước ngoài Hệ số ước lượng của WTO
âm thể hiện sức cạnh tranh, khả năng chiếm lĩnh thị trường của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế còn yếu; ngược lại, Việt Nam lại phụ thuộc nhiều vào nguồn hàng nhập khẩu nước ngoài, bao gồm cả hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất
Hệ số ước lượng của T lớn hơn 0 thể hiện xu thế trung bình của CCTM là tăng theo thời gian
Hệ số ước lượng của lnREER bằng -0.362804 cho thấy điều kiện Marshall –
Lerner không được đáp ứng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam Hay nói cách khác, phá
giá nội tệ không giúp cải thiện CCTM: một điểm phần trăm tăng lên của tỷ giá hữu hiệu thực tế dễn đến tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu giảm 0.36 phần trăm
Trang 8Hệ số ước lượng của các biến lnY, WTO, T đều có ý nghĩa thống kê ở mức chặt; hệ
số ước lượng của lnREER, lnY f không có ý nghĩa thống kê
Kết quả ước lượng tác động ngắn hạn cho thấy phá giá nội tệ đều có tác động tiêu
cực tới CCTM trong ngắn hạn và trung hạn Hệ số ước lượng của các biến D(lnREER(-k)), (k = 0, 1, 2) đều nhận giá trị âm chứng tỏ điều kiện Marshall – Lerner đều không
được đáp ứng trong ngắn hạn và trung hạn Như vậy, cũng không tìm thấy bằng chứng về
sự tồn tại hiệu ứng đường cong J khi phá giá nội tệ tại Việt Nam
Hệ số của thành phần EC(-1) – error correction nhận giá trị ước lượng âm và có ý
nghĩa thống kê với độ tin cậy cao Giá trị này cho biết khoảng 67.5% sai số (sự mất cân bằng) của quý trước được hiệu chỉnh trong quý hiện tại
Ước lượng mô hình với số liệu song phương cho thấy, hệ số ước lượng cân bằng
dài hạn của lnRER i dương và có ý nghĩa thống kê trong các trường hợp Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan; hàm ý rằng trong những trường hợp này, phá giá VND sẽ
có tác động tích cực tới CCTM song phương giữa Việt Nam và các đối tác Hay nói cách khác, điều kiện Marshall – Lerner trong những trường hợp này được thỏa mãn Ngược lại, đối với các quốc gia như Pháp, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Philippines thì điều kiện
Marshall – Lerner lại không được đáp ứng, hệ số ước lượng của lnRER i là các giá trị âm
và có ý nghĩa thống kê Mỹ cũng là nước có tỷ trọng thương mại quốc tế cao với Việt Nam thì tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ giá thực và CCTM, tuy nhiên, mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê Với Trung Quốc, một đối tác thương mại chính của Việt Nam, TGHĐ song phương thực tế có ảnh hưởng ngược chiều tới CCTM, đồng nội tệ giảm giá sẽ làm suy giảm CCTM song phương
Về tác động ngắn hạn, tác giả tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại hiệu ứng tuyến J trong mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam với Pháp, Hàn Quốc Ảnh hưởng ngắn hạn của phá giá nội tệ đến CCTM có vẻ như đi theo quỹ đạo tuyến J ngược trong trường hợp Nhật Bản và Thái Lan Với các quốc gia còn lại, diễn biến CCTM khi phá giá nội tệ không tuân theo một mẫu hình cụ thể nào
Như vậy, với Việt Nam, có thể nói phá giá nội tệ không hẳn là một biện pháp hữu
Trang 9hiệu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý những mặt tiêu cực mà chúng ta phải đối diện khi giá trị đồng nội tệ sụt giảm
Trong phần cuối chương 3, tác giả khuyến nghị một số điểm cần lưu ý trong các quyết sách về tỷ giá và CCTM Cụ thể như sau:
i Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển nên có nhu cầu cao về nhập khẩu máy móc, thiết bị và các nguyên, nhiên, vật liệu sản xuất Do vậy, phá giá VND sẽ không giúp hạn chế nhập khẩu
ii Ảnh hưởng tới CCTM của việc điều chỉnh giảm tỷ giá sẽ không lớn như kỳ vọng
iii Việc giảm giá tiền đồng có thể là nguyên nhân dẫn đến lạm phát
iv Giảm giá tiền đồng sẽ làm cho gánh nặng nợ nước ngoài tăng lên
v Nên chú trọng hơn đến các giải pháp dài hạn làm tăng giá trị gia tăng của hàng Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam một cách bền vững
vi Chính sách thương mại quốc tế cũng cần quan tâm cụ thể tới từng mối quan hệ song phương, đặc biệt là những đối tác thương mại chính của Việt Nam, như vậy sẽ cho những quyết sách phù hợp hơn
KẾT LUẬN
Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết là cách tiếp cận co dãn đối với CCTM nhằm xây dựng mô hình kinh tế lượng kiểm chứng điều kiện Marshall Lerner đối với Việt Nam trong khoảng thời gian từ quý 1 năm 2000 đến quý 1 năm 2016
Điểm mới của nghiên cứu là tác giả đã tính toán được thu nhập thực tế của Việt Nam, thu nhập thực tế của phía nước ngoài, và đặc biệt là tỷ giá hữu hiệu thực tế của Việt Nam và đưa vào phân tích định lượng Trong mô hình thực nghiệm, tác giả cũng đã
hiệu chỉnh mô hình bằng cách đưa thêm vào biến xu thế thời gian, biến giả thể hiện quá trình mở cửa hội nhập của Việt Nam
Trang 10Mặc dù, trên thực tế, động thái phá giá tiền đồng của Chính phủ không chỉ đơn thuần nhằm vào mục tiêu “tăng xuất khẩu”, nhƣng kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở khoa học cho việc ra các quyết sách về tỷ giá
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và khắc phục những khó khăn trong nghiên cứu, song nghiên cứu vẫn còn tồn tại hạn chế, kết quả thu đƣợc có thể chƣa thực sự đầy đủ và hoàn chỉnh