1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật việt nam về nuôi con nuôicó yếu tố nước ngoài

79 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam pháp luật trong nước Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên với pháp luật một số nước trê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

TRẦN NGỌC KIỆT

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NUÔI CON NUÔI

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Ngành: Luật dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM KIM ANH

TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có

yếu tố nước ngoài” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa

học của TS Phạm Kim Anh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là độc lập, trung thực và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những nhận xét, đánh giá cũng như quan điểm của các tác giả khác đều được tác giả trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

TÁC GIẢ

Trần Ngọc Kiệt

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công ước Lahay 1993 Công ước Lahay số 33 ngày 29 tháng 5 năm 1993 về

bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

Công ước của Liên

19/2011/NĐ-CP

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm

2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi

Trang 4

Phụ lục 02 Bảng 2: Cơ quan trung ương về con nuôi nước ngoài của một

số quốc gia có quan hệ hợp tác hoặc trao đổi thông tin với Việt Nam Phục lục 03 Hình 1: Số lượng trẻ em Việt Nam được giải quyết làm con nuôi người nước ngoài từ năm 2011 đến năm 2017

Phụ lục 04 Hình 2: Nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài từ năm 2011 đến năm 2017

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan 2

Danh mục các chữ viết tắt 3

Danh mục các bảng biểu, hình vẽ, đồ thị 4

Phần Mở Đầu 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 14

1.1 Khái niệm con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 14

1.1.1 Khái niệm con nuôi và nuôi con nuôi 14

1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 17

1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 18

1.2.1 Đặc điểm của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 18

1.2.2 Ý nghĩa của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 20

1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 21

1.3.1 Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 21

1.3.2 Điều kiện xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 26

1.3.2.1 Điều kiện đối với người nhận con nuôi 26

1.3.2.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi 33

1.3.3 Trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 38

1.3.4 Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 44

Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 50

Trang 6

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt

Nam 50

2.1.1 Thực trạng nhận thức của xã hội về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 50

2.1.2 Thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 52

2.1.2.1 Ưu điểm 52

2.1.2.2 Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 58

2.1.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc 64

2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 66 KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nó góp phần quan trọng trong việc thực hiện quyền trẻ em (quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu,.v.v ), đặc biệt là đối với trẻ em mồ côi, bị tàn tật, bị cha mẹ bỏ rơi Việc nuôi con nuôi hiện nay không còn là vấn đề trong nước mà đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm Đặc biệt, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thực sự

đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu và đã được quy định tại các công ước quốc tế và pháp luật trong nước

Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng thì quan hệ nuôi con nuôi ngày càng thu hút được sự chú ý của xã hội Trong bối cảnh đó, về mặt pháp luật có thể thấy trước đây các quy định

về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, các Nghị định, thông tư và một số văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nên rất tản mạn, khó tiếp cận và áp dụng trên thực tế

Trước tình hình đó, Luật Nuôi con nuôi 2010 ra đời đã đánh dấu sự kiện quan trọng của quá trình pháp điển hoá các quy phạm pháp luật và thực tiễn giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng Luật này đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất và ổn định cho công tác quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi, đồng thời thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế của Nhà nước ta đã đưa ra khi tham gia Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, tôn trọng và bảo đảm các quyền trẻ em Ngoài ra, Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng bảo đảm việc nuôi con nuôi được tiến hành trên nguyên tắc nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, hài hòa với nội dung Công ước Lahay số 33 ngày 29 tháng 5 năm

1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

Trang 8

Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, nhất là việc Việt Nam đã tham gia Công ước Lahay số 33 ngày 29 tháng 5 năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, yêu cầu pháp luật Việt Nam phải hài hoà với pháp luật nhiều nước trên thế giới và thông lệ quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật cũng bộc lộ một số hạn chế và thực tiễn áp dụng pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn một số vướng mắc

Trước các lý do đó, học viên chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về nuôi con

nuôi có yếu tố nước ngoài” để thực hiện Luận văn Thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau, trong đó có thể điểm một số đề tài nghiên cứu như:

- Nguyễn Phương Lan (2011), ‘Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo

Luật Nuôi con nuôi Việt Nam’, Tạp chí Luật học, số 10/2011 Tác giả đã phân tích

những khía cạnh lý luận về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi và những điểm mới về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi

2010

- Nguyễn Thị Hiến (2013), ‘Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi – Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn’, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội

Tác giả đã phân tích các quy định của pháp luật nuôi con nuôi về hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi và một vài trường hợp cụ thể của vấn đề này; luận văn chỉ ra những điểm còn hạn chế và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hơn nữa hoạt động của các thiết chế trong việc thi hành pháp luật về hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi

- Lê Thị Hiền (2012), ‘Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt

Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài’, Luận văn thạc sỹ Luật

học, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã phân tích, so sánh những quy định của

Trang 9

pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam (pháp luật trong nước Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên) với pháp luật một số nước trên thế giới về các vấn đề cơ bản của nuôi con nuôi như: nguyên tắc, điều kiện, hệ quả pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Khi so sánh quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, luận văn chủ yếu so sánh với pháp luật của những nước đã là thành viên của Công ước Lahay số 33 ngày 29 tháng 5 năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi

- Bùi Thị Ngọc Phương (2013), ‘Pháp luật nuôi con nuôi của nước ngoài và

bài học kinh nghiệm cho Việt Nam’, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc gia

Hà Nội Tác giả đã phân tích các nội dung của Công ước Lahay số 33 ngày 29 tháng

5 năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, pháp luật của Cộng hòa Pháp, pháp luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, pháp luật của Vương quốc Tây Ban Nha, pháp luật của Hoa Kỳ và pháp luật Việt Nam về các vấn đề cơ bản của nuôi con nuôi như: nguyên tắc, điều kiện, hệ quả pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, giải quyết xung đột pháp luật của việc nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài Trên cơ sở đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Lưu Thị Phượng (2014), ‘Thực hiện Công ước Lahay và vấn đề nuôi con

nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam’, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc

gia Hà Nội Tác giả đã phân tích đánh giá quá trình thực hiện Công ước Lahay của Việt Nam từ khi tham gia Công ước, làm sáng tỏ những điểm mới trong quy định pháp luật về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên được tiến hành khi Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016 chưa ban hành; đồng thời tùy từng thời điểm lịch sử mà công trình nghiên cứu này vẫn chưa

Trang 10

thể nào đề cập một cách tổng quan và đầy đủ nhất về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Do đó, trên cơ sở những nghiên cứu nêu trên, học viên tiếp thu, kế thừa những thành quả đã có, nhằm nghiên cứu những quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, trọng tâm là những quy định trong Luật Nuôi con nuôi

2010 và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, xem xét những ưu điểm và hạn chế của các quy định này Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.2 Nhiệm vụ của luận văn:

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo Luật Nuôi con nuôi 2010 thông qua việc nghiên cứu làm rõ các khái niệm con nuôi, nuôi con nuôi, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, để từ đó phân tích đặc điểm, ý nghĩa, quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trang 11

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam hiện nay Chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong quá trình áp dụng và nguyên nhân khách quan, chủ quan của những tồn tại, vướng mắc đó

Thứ ba, đề xuất các giải pháp cụ thể, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:

4.1 Cơ sở lý luận:

Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, so sánh, chuyên gia,…, cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để phân tích, tổng hợp những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Qua đó, tác giả rút ra những khó khăn, tồn tại của hệ thống pháp luật hiện nay về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để so sánh quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài với pháp luật một

số nước trên thế giới và khu vực, Công ước Lahay số 33 ngày 29 tháng 5 năm 1993

Trang 12

về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, từ đó, tác giả đưa

ra nhận xét về sự phù hợp và chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, làm cơ sở cho các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu của thực tiễn khách quan

- Phương pháp lịch sử được tác giả sử dụng để làm rõ sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Phương pháp thống kê được tác giả sử dụng để thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu và tính toán các số liệu về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như độ tuổi của trẻ em, tình trạng sức khoẻ, số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi nước ngoài,… nhằm phục vụ cho quá trình phân tích thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

5.1.Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng như các thiết chế đảm bảo thực thi việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

5.2 Về phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các quy định của pháp luật điều chỉnh về vấn đề con nuôi có yếu tố nước ngoài như nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, điều kiện để người nước ngoài được nhận trẻ

em Việt Nam làm con nuôi, điều kiện để trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi Luận văn chỉ tập trung vào các trường hợp có yếu tố nước ngoài, không nghiên cứu các trường hợp con nuôi trong nước

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

Những kết quả nghiên cứu của luận văn là những bổ sung vào lý luận về pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong hoàn cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Những đề xuất, giải pháp của luận

Trang 13

văn có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc giải quyết các tình huống phát sinh trên thực tế mà pháp luật chưa điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa cụ thể Đề tài cũng là một tài liệu tham khảo hữu dụng khi tiến hành áp dụng Luật Nuôi con nuôi 2010 và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi vào các tình huống thực tế

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn

có nội dung chính gồm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, giải pháp hoàn thiện pháp luật

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm con nuôi và nuôi con nuôi

Theo từ điển Black’s Law, con nuôi là con không phải con tự nhiên của cha

mẹ chúng mà là con được công nhận bởi một hành vi pháp lý; có thể được công nhận như người thừa kế hợp pháp1 Một người được người không sinh ra mình nhận nuôi dưỡng, chăm sóc và được xem là con nuôi của người nuôi dưỡng, chăm sóc khi được pháp luật công nhận trên cơ sở mong muốn xác lập quan hệ cha mẹ và con của người nhận con nuôi đối với người được nhận làm con nuôi Vì vậy, không phải bất cứ trường hợp nào việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em đều làm cho trẻ em được nhận nuôi dưỡng trở thành con nuôi của người nuôi dưỡng (ví dụ: trẻ em được nuôi dưỡng tại một gia đình có họ hàng với trẻ, cơ sở bảo trợ xã hội,.v.v ) Yếu tố mong muốn xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên là điều kiện quan trọng nhất để người được nhận nuôi trở thành con nuôi Việc xác lập mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi được thực hiện trên cơ sở tình cảm, mong muốn, nhu cầu của cả hai bên, tuy nhiên chỉ được pháp luật công nhận khi việc nuôi con nuôi được đăng ký theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

Khoản 3 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “Con nuôi là người

được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” Như vậy, khái niệm con nuôi bao hàm một số nội dung cơ bản như

1 Henry Campbell Black (1910), Black's Law Dictionary, 2nd edition, West Publishing, truy cập lần cuối

ngày 12 tháng 6 năm 2018, từ <https://thelawdictionary.org/adopted-child/>

Trang 15

- Con nuôi có thể có huyết thống trong phạm vi nhất định với người nhận nuôi nhưng không do người nhận nuôi sinh ra (ví dụ: cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu ruột làm con nuôi)

- Người được nhận nuôi chỉ được giải quyết cho làm con nuôi khi đáp ứng được các điều kiện của người được nhận nuôi theo quy định của pháp luật như điều kiện về độ tuổi, ý chí,.v.v

- Người được nhận nuôi được công nhận là con nuôi khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Con nuôi được hưởng mọi quyền lợi và có nghĩa vụ đối với chamẹ nuôi như con đẻ

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận con nuôi (cha mẹ nuôi) với người được nhận làm con nuôi2 Mục đích nhằm tạo ra những tình cảm gắn bó giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người con nuôi được thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt

Khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập

quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.” Khái niệm này nhằm tạo ra một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về nuôi con

nuôi mà không nhằm đưa ra một cách hiểu khác về nuôi con nuôi ở Việt Nam Theo

đó, nuôi con nuôi được hiểu là việc một người đi làm con nuôi ở gia đình khác trong cùng một nước hay ở nước ngoài nhằm mục đích xác định mối quan hệ cha

mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận nuôi con nuôi3 Tất cả quyền lợi của người được nhận làm con nuôi và của người nhận nuôi đều được pháp luật quy định và được

2 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa – Nhà

xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr.68

3

Điều 2 và Khoản 2 Điều 4 Luật Nuôi con nuôi 2010

Trang 16

bảo đảm thực hiện phù hợp với truyền thống, đạo lý của dân tộc và phù hợp với ý chí của Nhà nước

Việc nuôi con nuôi phải đăng ký và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận (bằng giấy chứng nhận hoặc quyết định nuôi con nuôi), các nghi thức nhận nuôi con nuôi khác (như giấy tờ viết tay giữa cha mẹ đẻ cho con đẻ của mình làm con nuôi người khác hay nhặt được trẻ bị bỏ rơi mang về nuôi mà không khai báo, không đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) đều không có giá trị pháp lý và không được Nhà nước công nhận, giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi không có các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật Như vậy, quan hệ cha, mẹ, con giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận làm con nuôi được hình thành từ quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc và phải được Nhà nước công nhận

Ngoài ra, vấn đề nuôi con nuôi thực tế (nuôi con nuôi chưa đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) đã tồn tại từ lâu như một hiện tượng khách quan ở nước ta Qua các thời kỳ, tuy pháp luật đã quy định đầy đủ về thủ tục đăng ký nuôi con nuôi, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay còn nhiều trường hợp nuôi con nuôi thực tế chưa đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Theo quy định tại Điều 50 Luật Nuôi con nuôi 2010 và Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau phát sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 mà chưa đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 5 năm, tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 Nếu sau ngày 31 tháng 12 năm 2015, các bên quan hệ không tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế thì việc nuôi con nuôi đó sẽ không được công nhận, người nuôi không được coi là cha, mẹ nuôi; người được nhận nuôi không được coi là con nuôi; việc nuôi con nuôi sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nuôi và người được nuôi; các tranh chấp phát sinh liên quan đến cha mẹ nuôi và con nuôi, giữa con nuôi với thành viên gia đình của

Trang 17

cha mẹ nuôi (như nghĩa vụ cấp dưỡng, quyền thừa kế…) sẽ không được pháp luật bảo hộ

1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, công dân của mỗi quốc gia không chỉ tham gia các quan hệ xã hội khép kín trong phạm vi quốc gia mình mà còn hướng tới các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Việc công dân của các quốc gia khác nhau xác lập các quan hệ dân sự với nhau dần trở nên phổ biến Cũng từ đó, các quan hệ dân sự - hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài càng có nhiều điều kiện phát triển, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng nằm trong khuynh hướng

đó Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định:“Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc

nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.” 4

Về “yếu tố nước ngoài” 5

, có ba loại yếu tố nước ngoài Đó là:

- Thứ nhất, có người nước ngoài, hoặc người Việt Nam ở nước ngoài tham gia

- Thứ hai, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài

- Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (ví dụ: hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở Pháp)

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng là một quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài, bao gồm chủ thể, khách thể, sự kiện pháp lý Có thể thấy nội hàm của khái niệm “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” trong chừng mực nào đó tương đương với khái niệm “nuôi con nuôi quốc tế” Nuôi con nuôi quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Lahay 1993, theo đó, việc nuôi con nuôi được thực hiện giữa một hoặc hai người là vợ chồng cùng thường trú tại nước ngoài xin nhận một trẻ em thường trú ở nước khác làm con nuôi, có sự di chuyển trẻ em từ

Trang 18

nước này sang nước khác, hoặc theo tư pháp quốc tế của một số nước khác trên thế giới, việc nhận một trẻ em có quốc tịch khác làm con nuôi được coi là việc nuôi con nuôi quốc tế.6

1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Đặc điểm của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Phương pháp điều chỉnh: phương pháp điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất7 Hai phương pháp này được kết hợp hài hoà và tác động tương hỗ với nhau trong điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho các bên trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

+ Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp)

là phương pháp sử dụng các quy phạm xung đột nhằm lựa chọn hệ thống pháp luật thích hợp để điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể Quy phạm xung đột chỉ quy định các quy tắc giúp xác định hệ thống pháp luật cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Nội dung quan hệ cụ thể

đó được giải quyết như thế nào sẽ do hệ thống pháp luật mà quy phạm xung đột đó dẫn chiếu đến điều chỉnh8 Do đó, quy phạm xung đột là quy phạm có chức năng giúp xác định hệ thống pháp luật cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Quy phạm xung đột không trực tiếp quy định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài này sẽ được điều chỉnh như thế nào mà chỉ ấn định việc lựa chọn quy định pháp luật nước nào cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ thể đó Quy phạm xung đột được ghi nhận cả trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Ví dụ: Điều 30 Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình

và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Ba

6

Bộ Tư pháp (2009), ‘Bản thuyết minh về dự án Luật Nuôi con nuôi’, truy cập lần cuối ngày 12/6/2018, từ

<http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=426&TabI ndex=2&TaiLieuID=475>

Trang 19

Lan ngày 22 tháng 03 năm 1993 quy định “Việc nhận con nuôi phải tuân theo pháp

luật của nước ký kết mà người nhận con nuôi là công dân”

+ Phương pháp thực chất (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp)

là phương pháp sử dụng các quy phạm pháp luật thực chất nhằm giải quyết nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài9 Quy phạm pháp luật thực chất quy định về quyền và nghĩa

vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Các quy phạm pháp luật thực chất điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng được quy định cả trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

- Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài luôn gắn chặt với chính sách đối ngoại Việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có lợi thế mang lại một gia đình vững bền cho người được nhận làm con nuôi trong trường hợp không thể tìm được một gia đình phù hợp cho người được nhận làm con nuôi tại Nước gốc của mình Dựa trên các quy định của Công ước Lahay 1993, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ

em, đặc biệt những quy định nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, nước ta luôn chú trọng tăng cường hợp tác với các nước về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thông qua các hiệp định hợp tác song phương, thỏa thuận hợp tác về nuôi con nuôi

- Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đề cao vấn đề nhân quyền, bảo vệ quyền con người trước hết là bảo vệ quyền lợi của trẻ em Điều 21 Công ước của

Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định: “Các Quốc gia thành viên mà thừa nhận

hoặc cho phép việc nhận làm con nuôi phải bảo đảm rằng những lợi ích tốt nhất của trẻ em là mối quan tâm cao nhất…” Phù hợp với tinh thần của Công ước, Luật

Nuôi con nuôi 2010 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định, mục đích của việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình

9

Mai Hồng Quỳ (chủ biên, 2013), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, tr 21-24

Trang 20

- Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài với mục đích hình thành gia đình thay thế10

Khác với nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đòi hỏi sự điều chỉnh của pháp luật phải rõ ràng, chặt chẽ, cụ thể; cần có cơ chế phối hợp và bảo vệ giữa các nước có liên quan bằng Hiệp định song phương, đa phương Mục đích cốt yếu là bảo đảm quyền và lợi ích của các bên, đặc biệt là quyền và lợi ích của người được nhận làm con nuôi

1.2.2 Ý nghĩa của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Đối với Nhà nước: hoạt động nuôi con nuôi đảm bảo sự ổn định, phát triển của đất nước, là biện pháp tích cực giúp đỡ trẻ em bị bỏ rơi, lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa có mái ấm gia đình, được chăm sóc và phát triển trong điều kiện tốt nhất; giảm đi gánh nặng đối với ngân sách Nhà nước vì không phải đưa các

em vào cơ sở bảo trợ xã hội; hạn chế trẻ em có thể có hành vi vi phạm pháp luật hay mắc các tệ nạn xã hội do thiếu sự quan tâm, giáo dục… Bên cạnh đó, hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là cơ sở để tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nước ta với các nước trên thế giới

- Đối với các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em: việc trẻ em được nhận làm con nuôi người nước ngoài giúp giảm gánh nặng cho các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em mà vẫn đảm bảo được lợi ích tốt nhất cho trẻ em được nhận làm con nuôi; mặt khác điều đó phù hợp với chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại của nước ta, đáp ứng nhu cầu hội nhập và giao lưu quốc tế

- Đối với người nhận con nuôi: đem lại cho người nhận nuôi đứa con phù hợp với ý chí, nguyện vọng của họ, cuộc sống gia đình cũng trọn vẹn hơn Đặc biệt đối với những cặp vợ chồng vô sinh, việc nhận con nuôi giúp họ thực hiện quyền làm cha mẹ của mình, họ được chăm lo, được thể hiện tình cảm của những người làm cha mẹ với con

- Đối với người được nhận làm con nuôi: được cơ hội sống trong môi trường gia đình thay thế để phát triển hài hòa về thể chất, nhân cách và tinh thần, đặc biệt

10

Khoản 9 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: Gia đình thay thế là gia đình nhận trẻ em làm con nuôi

Trang 21

đối với người được nhận làm con nuôi là người khuyết tật, có bệnh hiểm nghèo sẽ

có điều kiện chữa trị phục hồi chức năng tốt hơn Ngoài ra, Luật Nuôi con nuôi

2010 quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi đã bảo vệ và giữ vững được các mối quan

hệ gia đình đối với người con11

1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 1.3.1 Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Với mục đích thiết lập quan hệ pháp lý lâu dài, bền vững giữa cha mẹ nuôi

và con nuôi như quan hệ giữa cha, mẹ và con ruột, pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam đã được xây dựng trên những nguyên tắc mang tính xuyên suốt đó là phải phù hợp với các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi và quyền lợi chính đáng của người nhận con nuôi

Xuất phát từ mục đích nêu trên, kế thừa những ưu thế của pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, trong suốt thời gian qua, trên tinh thần nội luật hóa pháp luật quốc tế về lĩnh vực này, các nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi áp dụng cho cả việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước hay con nuôi có yếu tố nước ngoài, bao gồm:

“1 Khi giải quyết việc nuôi con nuôi cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc

2 Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

3 Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước.” 12

Trang 22

- Nguyên tắc thứ nhất: Khi giải quyết việc nuôi con nuôi cần tôn trọng

quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc

+ Đây là một trong những nguyên tắc được xây dựng trên cơ sở thống nhất với nguyên tắc bảo đảm quyền được sống chung với cha, mẹ của trẻ em đã được quy định tại Luật Trẻ em 2016, đồng thời đảm bảo tính hài hòa các quy định của pháp luật quốc tế liên quan tới quyền của trẻ em mà Việt Nam đã tham gia, cụ thể

như Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Tin tưởng rằng, gia đình, với ý

nghĩa là tế bào xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em, cần được sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết để đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng”

+ Môi trường gia đình là môi trường tốt nhất bảo đảm cho sự phát triển về nhân cách, trí tuệ và vun đắp những truyền thống tương thân tương ái, gắn bó yêu thương của gia đình Việt Nam cho trẻ Trẻ em là tương lai của đất nước, gia đình là hạt nhân của xã hội Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình, đề cao vai trò gia đình, đảm bảo cho trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất ngay trong chính gia đình gốc của mình Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có quyền tách rời trẻ em ra khỏi gia đình gốc của mình

+ Đối với trẻ em không còn cha mẹ hoặc cha mẹ ruột không còn khả năng nuôi dưỡng, vì lợi ích tốt nhất của trẻ, việc chăm sóc và giáo dục trẻ em sẽ được ưu tiên chuyển giao cho họ hàng thân thích nhằm tiếp tục duy trì môi trường quen thuộc và an toàn nhất đối với trẻ em Tuân thủ nguyên tắc này, việc giải quyết cho trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi làm con nuôi họ hàng thân thích như cô, cậu, dì, chú, bác ruột hoặc cha dượng, mẹ kế sẽ được ưu tiên và áp dụng thủ tục đơn giản hơn nhiều đối với việc cho nhận con nuôi trong nước hoặc con nuôi có yếu tố nước ngoài thông thường

+ Nguyên tắc tôn trọng quyền được sống trong môi trường gia đình gốc khi giải quyết nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng còn tạo cơ hội nâng cao ý thức trách nhiệm, đề cao truyền thống lá lành đùm lá rách

Trang 23

của từng thành viên trong gia đình, họ hàng nội ngoại của trẻ em Trước khi đặt trách nhiệm chăm sóc thay thế đối với những trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, những thành viên trong gia đình mở rộng của trẻ như cô, cậu, dì, chú, bác, ông, bà… sẽ là những người được ưu tiên giao quyền giám hộ đối với trẻ Chỉ khi không thể tìm được thân nhân nuôi dưỡng, trẻ em mới được đưa vào các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp hoặc được giải quyết làm con nuôi Nguyên tắc này phù hợp với quy định

Công ước Lahay 1993: “Mỗi quốc gia cần phải ưu tiên tiến hành các biện pháp

thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”.

- Nguyên tắc thứ hai: Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp

pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

+ Trong xã hội hiện đại có rất nhiều hình thức chăm sóc được pháp luật quy định nhằm đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đối với những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không được sống trong môi trường gốc của mình Bên cạnh các hình thức chăm sóc thay thế13 như chăm sóc thay thế bởi người thân thích, chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình không phải là người thân thích, chăm sóc thay thế tại cơ sở trợ giúp xã hội, chăm sóc thay thế bằng hình thức nhận con nuôi được coi

là hình thức chăm sóc thay thế mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và có tính ưu việt vượt trội bởi nó tạo cho trẻ một môi trường nuôi dưỡng ổn định, bền chặt với tình yêu thương hài hòa của cha, mẹ nuôi và những người họ hàng thân thích Tuy nhiên, bất kỳ hình thức chăm sóc nào trước khi được thực hiện hoặc được pháp luật thừa nhận đều phải đảm bảo nguyên tắc căn bản là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em cũng như vì quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi

+ So với thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi trước đây, nguyên tắc này đã quan tâm hơn đến quyền, lợi ích hợp pháp của người nhận con nuôi Lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi phải là mục đích, là ưu tiên hàng đầu nhưng không phải là duy nhất trong quan hệ nuôi con nuôi mà còn phải tính đến lợi ích

13

Điều 61 Luật Trẻ em 2016

Trang 24

hợp pháp của người nhận con nuôi Quan hệ nuôi dưỡng chỉ có thể phát triển tốt đẹp, bền chặt khi cả hai bên chủ thể được bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện Người được nhận làm con nuôi được yêu thương, chăm sóc, giáo dục bởi cha mẹ nuôi, ngược lại, cha mẹ nuôi cũng có nhu cầu được yêu thương, kính trọng, gắn bó từ đứa con mà mình đã đón nhận về Sợi dây tình cảm này chỉ có thể bền chặt khi cả hai cùng được pháp luật bảo vệ và được xây dựng trên nền tảng bình đẳng và tự nguyện

+ Sự tự nguyện tham gia quan hệ nuôi con nuôi chỉ có thể là kết quả của một quá trình nhận thức đầy đủ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cả cha mẹ nuôi lẫn người được nhận làm nuôi (đối với trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên) Tự nguyện có nghĩa là

sự chấp nhận vô điều kiện, thông suốt về tư tưởng, vui vẻ về tinh thần, không chịu bất kỳ sự ép buộc hay bị ảnh hưởng nào (bị lừa dối, hiểu lầm, cưỡng ép, trao đổi lợi ích…) của những người tham gia quan hệ nuôi con nuôi Thực tế cho thấy, thiếu sự

tự nguyện, người được nhận làm con nuôi có thể trở thành hàng hóa của một quá trình trao đổi lợi ích, mục đích của việc nuôi con nuôi sẽ mất đi bản chất nhân đạo

và trở thành hành vi thiếu đạo đức, trục lợi cần phải ngăn chặn và lên án

+ Một nguyên tắc khác cần đặc biệt chú trọng khi giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là không phân biệt nam nữ, bình đẳng, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Đây cũng là nguyên tắc chung khi xác lập các quan hệ dân sự Tuy nhiên, nguyên tắc này đặc biệt quan trọng khi đối tượng của quan hệ dân sự là con người, là yếu tố trung tâm của mọi vận động xã hội và là nguồn nhân lực tương lai của mỗi quốc gia Mục đích của việc giải quyết nuôi con nuôi là tìm một mái ấm cho người được nhận làm con nuôi, do vậy, người được nhận làm con nuôi có quyền lựa chọn những gia đình phù hợp nhất với đặc điểm, điều kiện của mình chứ không phải là đối tượng để các cặp vợ chồng lựa chọn, cân nhắc khi nhận con nuôi Xuất phát từ mục tiêu này, một trong những điều cấm của pháp luật về nuôi con nuôi của tất cả các nước là người nhận con nuôi không được lựa chọn giới tính của trẻ em Tất cả những người nhận con nuôi, không phân biệt giới tính, hoàn cảnh

Trang 25

kinh tế, nguồn gốc gia đình, trình độ học vấn, khi đáp ứng những điều kiện luật định đều có cơ hội bình đẳng như nhau để được nhận nuôi con nuôi

+ Việc nhấn mạnh khía cạnh hợp pháp, đạo đức xã hội trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi là nhằm ngăn ngừa khả năng buôn bán, bóc lột sức lao động người được nhận làm con nuôi hay lợi dụng các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với những người có công thông qua hình thức nuôi con nuôi Cuộc sống là tổng hòa của nhiều mối quan hệ, lợi ích, vì vậy, khi giải quyết nuôi con nuôi, dù xuất phát từ lợi ích của người được nhận làm con nuôi, các cơ quan có thẩm quyền cũng phải suy xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính hợp pháp, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, không đi ngược với truyền thống, đạo đức xã hội Việc nhận nuôi con nuôi trong mọi trường hợp cũng không được làm đảo lộn ngôi thứ trong gia đình, ảnh hưởng tới thứ bậc trong quan hệ huyết thống như ông bà không thể nhận cháu làm con nuôi, anh chị em không thể nhận nhau làm cha, mẹ, con nuôi Quy định của

nguyên tắc này phù hợp với Điểm c, Điều 4 Công ước Lahay 1993: “Đảm bảo

rằng: những cá nhân, tổ chức và các nhà chức trách mà việc nuôi con nuôi cần phải có sự đồng ý của họ đã được tham khảo ý kiến ở mức độ cần thiết và đã được thông báo kỹ lưỡng về những hệ quả mà sự đồng ý của họ có thể đem lại, đặc biệt

là về việc vẫn giữ hay cắt đứt mối quan hệ pháp lý giữa trẻ em và gia đình gốc do việc nuôi con nuôi; những cá nhân, tổ chức và các nhà chức trách nói trên đã đồng

ý một cách tự nguyện theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi và những sự đồng

ý này được thể hiện hoặc xác nhận bằng văn bản.”

- Nguyên tắc thứ 3: Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể

tìm được gia đình thay thế ở trong nước

+ Nguyên tắc này vừa thể hiện sự thống nhất về tư tưởng, tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc như đã nêu ở nguyên tắc thứ nhất, vừa thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc chung của cộng đồng quốc tế ghi nhận tại

Công ước Lahay 1993: “mỗi quốc gia cần phải ưu tiên tiến hành các biện pháp

thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình.” Chỉ sau

Trang 26

khi đã nỗ lực tìm kiếm các gia đình nhận nuôi trong cộng đồng, trong địa bàn hay trên phạm vi toàn quốc mà không thể thành công thì mới tính đến việc giải quyết cho làm con nuôi người ở nước ngoài

+ Để thực hiện nguyên tắc này, Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng đã quy định đầy đủ về trách nhiệm, trình tự, thủ tục tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ

em Khi một trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, việc tiếp tục nuôi dưỡng trẻ cần ưu tiên dành cho những người cùng sống trong cộng đồng, sau đó mở rộng đến phạm vi tỉnh/thành, toàn quốc, quốc tế Như vậy, yếu tố văn hóa, dân tộc, truyền thống, tập quán đã được đặt thành những tiêu chí ưu tiên hàng đầu khi tìm kiếm gia đình nuôi dưỡng thay thế đối với người được nhận làm con nuôi

1.3.2 Điều kiện xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 1.3.2.1 Điều kiện đối với người nhận con nuôi

Pháp luật về điều kiện cho và nhận nuôi con nuôi ở mọi quốc gia nhìn chung không tương đồng Tuy nhiên, trường hợp việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

được xác lập trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì:“Người Việt

Nam định cư ở nước ngoài 14 , người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú” 15

Đồng thời, người nhận con nuôi còn phải tuân thủ các điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:

- Điều kiện về năng lực chủ thể: người nhận nuôi con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ16 Theo Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 thì: “Năng lực hành vi

dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực

14

Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) xác định người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài

15 Điều 29 Luật Nuôi con nuôi 2010

16

Điểm a Khoản 1 Điều 14, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010

Trang 27

hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Tất cả mọi người “thành niên” (tức người từ đủ 18

tuổi trở lên) đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các Điều 22, 23 và 24 Bộ luật Dân sự 201517 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên vì đây là độ tuổi tối thiểu để một người đạt đến sự phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, có thể tự chăm sóc cho bản thân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình

- Điều kiện về khoảng cách tuổi: người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ

20 tuổi trở lên18

: + Hai cá nhân chênh lệch nhau hai mươi tuổi có thể tạo ra khoảng cách tuổi giữa hai thế hệ, giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi cần thiết phải ở hai thế hệ khác nhau, vì trong mối quan hệ nuôi con nuôi có sự chăm sóc nhau giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, không phải quan hệ chăm sóc giữa những người ngang hàng nhau Sự chênh lệch tuổi này tạo ra trong nhận thức của người được nhận làm con nuôi rằng mình ở địa vị của con cái, được nhận sự chăm sóc, yêu thương của cha mẹ, và trong nhận thức của người nhận con nuôi cũng nhận thấy người được nhận làm con nuôi ở lứa tuổi của con cái mình

+ Quy định người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên cũng làm cho gia đình thay thế gần giống với gia đình gốc về cơ cấu độ tuổi, giúp cho sự hòa nhập vào gia đình thay thế dễ dàng hơn cho người được nhận làm con nuôi Theo quy định chênh lệch tuổi này thì độ tuổi nhỏ nhất của người nhận con nuôi là từ hai mươi tuổi khi nhận trẻ em làm con nuôi Ở độ tuổi từ hai mươi trở lên, một cá nhân đã phát triển hoàn thiện về nhận thức cũng như tâm sinh lý, đã đủ tuổi lao động và có khả năng có việc làm với thu nhập đủ để nuôi sống bản thân và người được nhận làm con nuôi Một cá nhân hai mươi tuổi cũng đã tích lũy kinh nghiệm sống đủ để nhận lấy trách nhiệm làm cha, làm mẹ Mặt khác, quy định người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên còn hạn chế được tình trạng người nhận con nuôi lạm dụng tình dục người được nhận làm con nuôi

Trang 28

+ Một số quốc gia có quy định khoảng cách chênh lệch tuổi giữa người nhận con nuôi và người được nhận con nuôi Ví dụ như pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định người nhận con nuôi phải lớn hơn con nuôi 15 tuổi, El Salvador quy định mức chênh lệch này là 5 tuổi19 Luật Nuôi con nuôi của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 quy định người đàn ông độc thân chỉ được phép nhận trẻ em gái làm con nuôi nếu hơn trẻ em đó từ 40 tuổi trở lên (Điều 9)

- Người nhận con nuôi phải có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi20

: + Chăm sóc con cái luôn là một trong những vấn đề quan trọng trong gia đình Đó là công việc hao tốn rất nhiều công sức của cha mẹ và công việc đó không phải là một công việc đơn giản Sự thành đạt của con cái sau này trên đường đời phần lớn là nhờ sự giáo dục của cha mẹ Ngay cả trong quan hệ giữa cha mẹ và đứa con do họ sinh ra thì công việc này vẫn gặp nhiều khó khăn Muốn chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nên người không chỉ cần có tình thương yêu của cha mẹ mà còn cần phải có công sức, sự nhẫn nại, thời gian ở bên con, kinh tế ổn định để đáp ứng được các nhu cầu vật chất cơ bản cho sự phát triển của con

+ Khi người được nhận làm con nuôi trở thành con nuôi trong gia đình thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi có thể sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là vì không

có mối quan hệ huyết thống ràng buộc, do đó cần phải có các yếu tố khác bù đắp cho sự thiếu hụt này Vì vậy, người nhận con nuôi phải có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi thì mới có thể bảo đảm được rằng con nuôi sẽ nhận được sự quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt

- Người nhận con nuôi phải có tư cách đạo đức tốt21:

Trang 29

+ Người làm cha mẹ nuôi sẽ có trách nhiệm thay thế cha mẹ ruột chăm sóc, nuôi dưỡng người được nhận làm con nuôi Tư cách của cha mẹ nuôi sẽ là chuẩn mực cho con nuôi noi theo trong quá trình phát triển Việc đặt ra điều kiện về tư cách đạo đức của người nhận con nuôi là yêu cầu cần thiết cho sự phát triển tốt đẹp của con nuôi Tuy nhiên, khái niệm có tư cách đạo đức tốt có rất nhiều cách diễn giải khác nhau, tùy theo suy nghĩ của mỗi người, quan niệm của mỗi vùng miền, quan niệm của xã hội đương thời

+ Trong mối quan hệ của một gia đình có cha mẹ nuôi và con nuôi thì có thể hiểu cha mẹ nuôi có tư cách đạo đức tốt là những bậc cha mẹ có trách nhiệm với gia đình, yêu thương con nuôi, không có các thói xấu như rượu chè bê tha, cờ bạc, nghiện hút, hay gây gỗ với người khác, coi thường pháp luật… Cha mẹ nuôi trước hết phải là những người có tư cách đạo đức tốt thì mới có thể giáo dục con nuôi nên người

- Cũng cần lưu ý: Luật Nuôi con nuôi 2010 có quy định một trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác, ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại Điểm b, c Khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi22

Theo

đó, khi cha dượng nhận con riêng của vợ; mẹ kế nhận con riêng của chồng; cô, cậu,

dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì tuổi của người nhận con nuôi có thể hơn tuổi người được nhận làm con nuôi không quá hai mươi tuổi; điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở cũng không đặt ra Sở dĩ có trường hợp ngoại lệ này vì để tăng

cơ hội cho trẻ em được nhận làm con nuôi trong các gia đình thay thế có họ hàng,

người thân thích Quy định này cũng phù hợp với nguyên tắc “tôn trọng quyền của

trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc” Khi nhận con nuôi trong các

trường hợp nêu trên, giữa người nhận và người được nhận đã có mối quan hệ gia đình hay quan hệ họ hàng, như vậy việc hòa nhập vào gia đình thay thế sẽ trở nên

22

Khoản 3 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010

Trang 30

dễ dàng, các điều kiện về chênh lệch độ tuổi và điều kiện chăm sóc thực tế sẽ không cần thiết phải đặt nặng

Ngoài ra, những người đang ở trong những tình trạng sau đây cũng không được phép nhận con nuôi:

- Người nhận nuôi con nuôi là người đang bị hạn chế một số quyền của cha

mẹ đối với con chưa thành niên23: người nhận con nuôi lâm vào tình trạng như trên

sẽ bị hạn chế khả năng chăm sóc người được nhận làm con nuôi, vì một số quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên bị hạn chế, việc chăm sóc vì vậy sẽ phải trông cậy vào sự giúp đỡ của người khác Do đó, con nuôi sẽ không được bảo đảm

có sự chăm sóc chu đáo và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi không còn nữa Vì lý do

đó, những người trong tình trạng này không được phép nhận con nuôi

- Người nhận nuôi con nuôi là người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh24

: người đang chấp hành quyết định xử

lý hành chính tại cơ sở giáo dục sẽ không thể có thời gian ở bên cạnh con nuôi để chăm sóc Tương tự như vậy, người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở chữa bệnh cũng không bảo đảm điều kiện về sức khỏe và điều kiện ở gần bên để chăm sóc con nuôi Nếu cho những người đang chấp hành các quyết định nêu trên nhận con nuôi thì ngay sau khi được nhận, con nuôi sẽ không có người chăm sóc, không đáp ứng được yêu cầu của việc nhận con nuôi

- Người nhận nuôi con nuôi là người đang chấp hành hình phạt tù25: người đang chấp hành hình phạt tù thì sự tự do của người đó đang bị hạn chế rất nhiều Người đó không thể nào có thể có mặt ở gia đình để có thể chăm sóc con nuôi Và việc quyết định cho một người được làm con nuôi của một người đang chấp hành hình phạt tù còn ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của người được nhận làm con nuôi, dẫn đến việc hòa nhập vào gia đình thay thế trở nên khó khăn Người được nhận làm con nuôi có thể sẽ cảm thấy bất hạnh vì cha (mẹ) của mình đang phải ở

23 Điểm a Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010

24 Điểm b Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010

25

Điểm c Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010

Trang 31

trong tù Như vậy, không thể tạo một môi trường tốt cho sự phát triển của người được nhận làm con nuôi

- Người nhận con nuôi là người chưa được xóa án tích về một trong các tội

cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em26:

+ Những người mà ngay cả đối với họ hàng, người thân thích với mình, người nuôi dưỡng mình mà vẫn có những hành vi bạo ngược, hung hãn, xâm phạm thì việc họ xâm phạm những người khác là hoàn toàn có thể xảy ra Nếu những người này nhận con nuôi thì không có gì bảo đảm rằng con nuôi sẽ được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt

+ Con nuôi của những người này nếu biết được những hành vi bạo lực, trái pháp luật của họ cũng sẽ có tâm lý e ngại, lo sợ, như vậy sẽ có một bức tường vô hình ngăn cách giữa con nuôi và cha mẹ nuôi Quan hệ nuôi con nuôi vì thế mà gặp nhiều trắc trở, không đem lại ý nghĩa tốt đẹp như mong muốn Những người đang

có án tích về các tội có liên quan đến việc xâm phạm trẻ em, người chưa thành niên thì để bảo đảm họ không tiếp tục có những hành vi tương tự, pháp luật quy định những người này không được nhận con nuôi nhằm bảo vệ người được nhận làm con nuôi khỏi các nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm

Cần lưu ý trong trường hợp người nhận nuôi là một cặp vợ chồng, pháp luật quy định cả vợ và chồng đều phải thỏa mãn các điều kiện trên và vợ, chồng phải là những người khác giới có quan hệ hôn nhân Một số quốc gia như Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ hay một số vùng lãnh thổ của một số quốc gia công nhận quan hệ hôn nhân của người đồng giới và quyền nhận con nuôi của các cặp vợ chồng đồng giới Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng

26

Điểm d Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010

Trang 32

giới tính27 vì điều này không phù hợp với truyền thống hôn nhân và thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.

Khi một trong hai bên vợ chồng không thỏa mãn những điều kiện để nhận con nuôi thì sẽ gây ra sự cản trở lẫn nhau giữa hai vợ chồng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi, làm ảnh hưởng cho sự phát triển của con nuôi Nếu hai vợ chồng là những người cùng giới tính sẽ tạo ra sự nhận thức lệch lạc về giới tính do ảnh hưởng từ các quan niệm lệch lạc của cha, mẹ nuôi không giống với các chuẩn mực xã hội thông thường Do đó, pháp luật Việt Nam không giải quyết cho người nước ngoài có quan hệ hôn nhân cùng giới nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi Tương tự như vậy, một người nước ngoài độc thân có quan hệ đồng tính thì cũng không được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi (đối với một số quốc gia và vùng lãnh thổ công nhận hôn nhân đồng giới, trong trường hợp cấp giấy phép cho người độc thân nhận con nuôi, có yêu cầu người xin nhận con nuôi còn phải tuyên thệ không phải là người đồng tính; giấy phép này dùng để phục vụ cho việc xin trẻ

em Việt Nam làm con nuôi)

Luật Nuôi con nuôi 2010 không cho phép những người đồng giới nhận nuôi con nuôi28 vì sống trong một môi trường hôn nhân đồng giới thì việc phát triển tâm sinh lý của trẻ sẽ bị ảnh hưởng Trẻ sẽ có thể nhầm lẫn giữa các cặp khái niệm

“cha” và “mẹ”, “vợ” và “chồng”, “nam” và “nữ” Trẻ cũng có thể bị ảnh hưởng trong việc nhận dạng và định hình giới tính của mình Việc “gia đình” trong đó

“cha” và “mẹ” chỉ có một giới tính sẽ ít nhiều làm cho nhận thức về giới tính của trẻ

bị sai lệch Như vậy, ý nghĩa tạo ra một môi trường giáo dục tốt cho trẻ của việc nuôi con nuôi không được bảo đảm Việc nuôi con nuôi trong một môi trường hôn nhân đồng giới không được bảo đảm đi đúng mục đích của việc nuôi con nuôi là tạo

ra một điều kiện sống tốt hơn cho người được nhận làm con nuôi

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài muốn nhận đích danh trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì ngoài điều kiện quy

Trang 33

định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010, tùy từng trường hợp cụ thể, phải thỏa mãn thêm điều kiện khác như điều kiện về thời gian cư trú tại Việt Nam (trường hợp nhận con nuôi thuộc Điểm đ, Khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi 2010), mối quan hệ với trẻ em được nhận làm con nuôi (trường hợp nhận con nuôi thuộc Điểm

a, b, c Khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi 2010)

Nhìn chung, các điều kiện đối với người nhận con nuôi theo pháp luật Việt Nam cơ bản phù hợp với điều kiện mà Điều 15 Công ước Lahay 1993 quy định:

“Nếu Cơ quan Trung ương của Nước nhận cho rằng những người xin con nuôi đáp ứng các điều kiện và thích hợp để nuôi con nuôi thì phải làm một báo cáo bao gồm những thông tin về nhân thân, tư cách pháp lý và sự phù hợp để nuôi con nuôi, về tình trạng cá nhân, gia đình và lý lịch y tế, về môi trường xã hội, về những lý do xin con nuôi, về khả năng đảm nhận việc nuôi con nuôi quốc tế cũng như các đặc điểm của trẻ em mà họ thấy thích hợp để nhận nuôi.” Theo quy định

của Công ước cũng như pháp luật Việt Nam, người nhận con nuôi phải là những người có tư cách đạo đức tốt, có sức khỏe, điều kiện kinh tế phù hợp để có thể hòa nhập tốt nhất với trẻ em

1.3.2.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi

Theo tinh thần của Luật Nuôi con nuôi 2010 và Nghị định số

19/2011/NĐ-CP thì người được nhận làm con nuôi đủ điều kiện để cho làm con nuôi nước ngoài khi đáp ứng được các điều kiện của người được nhận làm con nuôi quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010 và được Sở Tư pháp xác nhận đủ điều kiện để cho làm con nuôi nước ngoài theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 Luật Nuôi con nuôi

2010 Theo đó, người được nhận làm con nuôi nước ngoài phải đáp ứng đủ các điều kiện như sau:

- Điều kiện về độ tuổi: về nguyên tắc, người được nhận làm con nuôi phải là trẻ em dưới 16 tuổi29:

29

Khoản 1 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010

Trang 34

+ Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định người được nhận làm con nuôi phải là trẻ em dưới 16 tuổi Quy định này một mặt tạo sự thống nhất trong quy định về độ tuổi của trẻ em trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta (vì Luật Trẻ

em 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi); mặt khác, giúp mở ra thêm cơ hội cho những trẻ em cần tìm gia đình thay thế Trẻ em dưới 16 tuổi chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa thể nhận thức một cách đầy đủ mọi hành vi do mình thực hiện, cũng như chưa thể hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hành vi của mình Khả năng tự lao động để nuôi sống mình ở độ tuổi này cũng còn nhiều hạn chế về mặt sức khỏe và trình độ tay nghề Trong độ tuổi này, trẻ em cần được cha

mẹ hoặc người giám hộ quan tâm chăm sóc, cần được đến trường học tập để có kiến thức, có nền tảng phát triển sau này

+ Ngoài ra, xuất phát từ mục đích bảo vệ, giữ vững các mối quan hệ gia đình

và quan hệ họ hàng, Luật Nuôi con nuôi 2010 có quy định một số trường hợp ngoại

lệ, đó là trường hợp người được nhận làm con nuôi từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi, được một trong những người sau đây nhận làm con nuôi: cha dượng,

mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột30

Ở một thời điểm nhất định nào đó, một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng Bởi vậy, một người đã từng là con nuôi của một người hoặc của cả hai vợ chồng, để có thể được làm con nuôi của người khác, người được nuôi phải ở trong tình trạng chấm dứt quan hệ cha mẹ nuôi - con

Trang 35

nuôi đã xác lập trước đây với người khác, nghĩa là phải ở trong các trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi được ghi nhận tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi 2010

Theo Điều 33 Luật Nuôi con nuôi 2010, Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra

hồ sơ, tiến hành lấy ý kiến của những người quy định tại Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010 về việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài:

- Trẻ em muốn được nhận làm con nuôi nước ngoài phải trải qua quy trình tìm gia đình thay thế trong nước32 Theo đó, một trẻ em chưa trải qua giai đoạn tìm gia đình thay thế trong nước thì chưa thể được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phải thực hiện lần lượt theo thứ tự tìm gia đình trong nước sau đó mới tìm gia đình thay thế ở nước ngoài Trong những trường hợp đặc biệt, pháp luật cho phép không cần tiến hành biện pháp tìm gia đình thay thế trong nước mà được ưu tiên giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài theo

thủ tục nhận con nuôi đích danh Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “Người Việt

Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây: là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi; là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi; nhận trẻ

em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.” 33

- Đối với các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được cho làm con nuôi nước ngoài thì phải có xác nhận của Công an cấp tỉnh về việc trẻ bị bỏ rơi và không xác định được cha, mẹ đẻ Nếu xác định được cha, mẹ đẻ của trẻ thì phải có ý kiến của cha,

mẹ đẻ về việc cho trẻ em làm con nuôi

Trang 36

- Ý kiến của người có liên quan về việc đồng ý cho làm con nuôi nước ngoài,

Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý

của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó 34 ” Như vậy, ý kiến của người có liên quan về việc đồng ý

cho làm con nuôi là bắt buộc và không có ngoại lệ Trong mọi trường hợp, khi người có liên quan chưa có ý kiến về việc đồng ý cho làm con nuôi thì việc cho làm con nuôi chưa được giải quyết Bên cạnh đó, sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác Sự đồng ý phải được thể hiện bằng văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến35

- Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh

ra ít nhất 15 ngày tuổi (Khoản 4 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010) Pháp luật quy định mức thời gian 15 ngày tuổi là để cho cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ có thời gian suy nghĩ về việc có cho trẻ làm con nuôi hay không Thông thường ngay sau khi sinh, tâm lý của gia đình và nhất là của người mẹ có sự thay đổi, trong giai đoạn này nếu có sự tác động tiêu cực từ phía những phần tử xấu muốn hưởng lợi từ việc cho con nuôi thì người mẹ và gia đình rất dễ bị ảnh hưởng, vì lý do đó mà pháp luật quy định một khoảng thời gian để tâm lý của người mẹ cũng như gia đình được ổn định, có thể đưa ra quyết định chính xác, không dẫn đến hối hận về sau

- Theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, người

có liên quan được thay đổi ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày được lấy ý kiến Việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi

có ý nghĩa rất quan trọng đối với tương lai và quyền lợi sau này không chỉ của trẻ

Trang 37

em được cho làm con nuôi mà của cả những người có liên quan, đặc biệt là cha, mẹ

đẻ của trẻ Do vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích của trẻ em và những người có liên quan đối với việc nuôi con nuôi, pháp luật cho phép những người có liên quan có quyền thay đổi ý kiến đồng ý cho trẻ em làm con nuôi nếu người đó đưa ra ý kiến trong trường hợp chưa nhận thức đầy đủ, chưa hiểu rõ những vấn đề đã được tư vấn hoặc do bị ảnh hưởng, tác động bởi yếu tố tâm lý, sức khỏe Tuy nhiên, hết thời gian 30 ngày nêu trên thì những người liên quan không được thay đổi ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi

- Trường hợp trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi thì cần phải có sự đồng ý của trẻ em đó Trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên đã có nhận thức cơ bản về cha

mẹ đẻ, về anh chị em ruột thịt, về gia đình Do đó, trẻ em có thể sẽ không muốn rời

xa gia đình gốc của mình dù cho hoàn cảnh sống có rất nhiều khó khăn Khi ở trường hợp đó, ý kiến của trẻ cần được tôn trọng Pháp luật một số quốc gia cũng có quy định việc nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của người sẽ được làm con nuôi khi đạt một độ tuổi nhất định (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định 10 tuổi, Cộng hòa Liên bang Đức quy định 14 tuổi, Cộng hòa Pháp quy định 13 tuổi)36 Đây cũng là một hình thức của pháp luật thể hiện sự tôn trọng quyền được bày tỏ ý kiến của trẻ em

Tóm lại, Sở Tư pháp chỉ xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài khi hội đủ các điều kiện sau:

-Trẻ đã được tìm gia đình thay thế trong nước nhưng không thành (trừ trường hợp trẻ khuyết tật, trẻ mắc bệnh hiểm nghèo và trẻ được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi)

-Người có liên quan đã có ý kiến đồng ý cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài

và không thay đổi ý kiến sau 30 ngày kể từ ngày được lấy ý kiến

36

Nguyễn Hồng Bắc & Nông Quốc Bình (2006), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội, tr 261.

Trang 38

-Người được nhận làm con nuôi được sinh ra ít nhất 15 ngày tuổi đến dưới

16 tuổi, trong trường hợp được cha dượng/mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi thì được sinh ra ít nhất 15 ngày tuổi đến dưới 18 tuổi

- Hồ sơ trẻ em được xác minh nguồn gốc rõ ràng, có xác nhận của Công an cấp tỉnh (đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi)

Nhìn chung, các điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi theo pháp luật Việt Nam cơ bản phù hợp với điều kiện mà Công ước Lahay 1993 quy định Xuất phát từ nguyên tắc cho nhận con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ, bởi vậy, Công ước Lahay 1993 cũng như pháp luật Việt Nam không đặt ra các điều kiện đối với trẻ được giới thiệu làm con nuôi ngoại trừ quy định khái quát về độ tuổi (dưới

18 tuổi37) Công ước cũng như pháp luật Việt Nam chỉ đặt ra những thủ tục nhằm bảo đảm việc cho một trẻ em đi làm con nuôi thực sự xuất phát từ nhu cầu của trẻ chứ không phải vì nhu cầu được làm cha mẹ của người nhận nuôi con nuôi hay vì bất cứ lợi ích vật chất nào của những người liên quan

1.3.3 Trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của bên nhận con nuôi và bên được nhận làm con nuôi, việc nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài cần phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật

- Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: theo Khoản

2 Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010 và Khoản 2 Điều 2 Nghị định số

19/2011/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi; Sở Tư pháp thực hiện

37

Điều 3 Công ước Lahay 1993

Trang 39

đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

- Hồ sơ của người nhận con nuôi:

+ Hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi gồm có các giấy tờ, tài liệu quy định tại Khoản 1 Điều 31 Luật Nuôi con nuôi 2010: đơn xin nhận con nuôi; bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam; bản điều tra về tâm lý, gia đình; văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe; văn bản xác nhận thu nhập và tài sản; phiếu lý lịch tư pháp; văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân; tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh quy định tại Khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi

+ Trong các loại giấy tờ kể trên, ngoại trừ đơn xin nhận con nuôi, tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh, còn lại các giấy tờ khác đều phải

do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú lập, cấp hoặc xác nhận Hồ sơ của người nhận con nuôi được lập thành hai bộ (Khoản 3 Điều 31 Luật Nuôi con nuôi 2010)

+ Phiếu lý lịch tư pháp, văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe, bản điều tra về tâm lý, gia đình, văn bản xác nhận thu nhập và tài sản của người nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài có giá trị sử dụng nếu được cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi – Bộ Tư pháp (Khoản 2 Điều 5 Nghị định

số 19/2011/NĐ-CP)

+ Trường hợp nhận con nuôi đích danh theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì người nhận con nuôi phải chuẩn bị thêm một bộ hồ sơ của người được nhận làm con nuôi và tùy từng trường hợp cụ thể còn cần có các giấy tờ tương ứng theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP như: bản sao giấy chứng nhận kết hôn của cha dượng hoặc mẹ kế với mẹ đẻ hoặc cha đẻ của người được nhận làm con nuôi; giấy tờ, tài liệu để chứng minh người nhận con nuôi

là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; bản sao quyết định

Ngày đăng: 17/01/2021, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w