1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng các phương pháp định giá cổ phiếu tại ngân hàng TMCP sài gòn thương tín

84 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Ứng dụng các phương pháp định giá cổ phiếu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” với mong muốn tìm hiểu chuyên sâu về việc định giá cổ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ngọc Huy

Tp Hồ Chí Minh, Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn “ỨNG DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN” là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân, được đúc kết từ quá trình học

tập và nghiên cứu của tôi trong thời gian qua

Tp HCM, ngày tháng năm 2015

TÁC GIẢ

VÕ VĂN CHÂU EM

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy Cô và Phòng quản lý đào tạo trong chương trình Sau đại học của Trường Đại học Kinh tế - Luật đã tận tình hướng dẫn truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm thực tế quý báu, và đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến

TS Bùi Kim Yến, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và cơ quan nơi tôi đang công tác đã hết lòng quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

TÁC GIẢ

VÕ VĂN CHÂU EM

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 –Tổng quan về định giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 5

1.1 Tổng quan về cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 5

1.1.1 Khái niệm về cổ phiếu 5

1.1.2 Phân loại cổ phiếu 5

1.1.3 Đặc điểm của cổ phiếu 5

1.1.4 Vai trò của cổ phiếu đối với NHTMCP 6

1.2 Định giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần 6

1.2.1 Khái niệm định giá cổ phiếu của NHTMCP 6

1.2.2 Các vấn đề liên quan đến định giá cổ phiếu của NHTMCP 7

1.2.2.1 Các loại giá cổ phiếu 7

1.2.2.2 Lợi tức và rủi ro 7

1.2.2.3 Cổ tức 8

1.2.3 Ý nghĩa của việc định giá cổ phiếu NHTMCP 8

1.3 Các phương pháp định giá cổ phiếu của NHTMCP 9

1.3.1 Các phương pháp chiết khấu dòng tiền 9

1.3.1.1 Mô hình chiết khấu dòng cổ tức DDM 9

1.3.1.2 Mô hình định giá dòng thu nhập còn lại RI 11

1.3.1.3 Mô hình định giá dòng tiền tự dovốn cổ phần FCFE 11

1.3.2 Các phương pháp định giá tương đối 12

1.3.2.1 Mô hình định giá sử dụng tỷ số P/E 13

1.3.2.2 Mô hình định giá sử dụng tỷ số P/B 14

1.3.3 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản ròng 15

1.3.4 Khả năng ứng dụng các phương pháp 18

Trang 6

1.3.4.1 Phương pháp chiết khấu dòng tiền 18

1.3.4.2 Phương pháp định giá tương đối 19

1.3.4.3 Phương pháp giá trị tài sản ròng 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2 – Ứng dụng các phương pháp để định giá cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 22

2.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 22

2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 22

2.1.2 Vị thế cạnh tranh 25

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của STB trong năm 2013 27

2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 29

2.2.1 Hành lang pháp lý 29

2.2.2 Hoạt độngđịnh giá cổ phiếu ngân hàng 30

2.3 Ứng dụng các phương pháp để định giá cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 34

2.3.1 Thiết lập các giả định để ứng dụng mô hình định giá 34

2.3.2 Dự toán hoạt động kinh doanh của STB 36

2.3.2.1 Dự toán Bảng cân đối kế toán -Các khoản mục tài sản 36

2.3.2.2 Dự toán Bảng cân đối kế toán -Các khoản mục nguồn vốn 40

2.3.2.3 Dự toán Bảng kết quả hoạt động kinh doanh 43

2.3.2.4 Ước định suất chiết khấu và tốc độ tăng trưởng dài hạn 48

2.3 3 Ứng dụng các mô hình định giá cổ p hiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 49

2.3.3.1 Phương pháp chiết khấu dòng cổ tức 49

2.3.3.2 Phương pháp định giá tương đối 50

2.3.3.3 Phương pháp giá trị tài sản ròng 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 – Giải pháp hoàn thiện phương pháp định giá cổ phiếu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín 58

3.1 Hạn chế trong hoạt động định giá cổ phiếu ngân hàng 58

3.1.1 Hạn chế trong việc ứng dụng các mô hình lý thuyết định giá cổ phiếu trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam 58

3.1.2 Hạn chế trong công tác dự báohoạt động ngân hàng 59

3.1.3 Hạn chế trong việc công khai minh bạch hoạt động kinh doanh ngân hàng 60

Trang 7

3.2 Giải pháp hoàn thiện phương pháp định giá cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Thương Tín 60

3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý hoạt động định giá cổ phiếu ngân hàng 60

3.2.2 Điều chỉnh các quy định về giao dịch cổ phiếu ngân hàng 61

3.2.3 Lựa chọn ứng dụng mô hình định giá cổ phiếu ngân hàng phù hợp 62

3.2.4 Nâng cao hiệu quả dự toán hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 63

3.2.5 Nâng cao hiệu quả ứng dụng phương pháp giá trị tài sản ròng để định giá cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66

KẾT LUẬN 67 Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ACB : Ngân hàng TMCP Á Châu

BCTC : Báo cáo tài chính

CK : Chứng khoán

CSH : Chủ sở hữu

CTG : Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam

EIB : Ngân hàng TMCP Xu ất nhập khẩu Việt Nam EPS : Lợi nhuận trên mỗi cổ phần

HĐĐT : Hoạt động đầu tư

HĐKD : Hoạt động kinh doanh

HĐQT : Hội đồng quản trị

LDR : Loan to Deposit Ratio

NHNN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTMCP : Ngân hàng thương m ại cổ phần

NHTMQD : Ngân hàng thương m ại cổ phần quốc doanh NHTW : Ngân hàng trung ương

NQH : Nợ quá hạn

NX : Nợ xấu

OTC : Thị trường phi tập trung

STB : Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Sacombank : Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín TCKT : Tổ chứng kinh tế

TCTD : Tổ chức tín dụng

TMCP : Thương m ại cổ phần

TTS : Tổng tài sản

TTSCSL : Tổng tài sản có sinh lời

VCB : Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam VCSH : Vốn chủ sở hữu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 : Mạng lưới giao dịch của STB năm 2014 25

Bảng 2.2 : Thị phần hoạt động của STB năm 2014 so với 12 ngân hàng khác 26

Bảng 2.3 : Tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2015 của STB tính đến tháng 06/2013 27

Bảng 2.4 : Diễn biến giá cổ phiếu STB và ACB giai đoạn 2006-2008 30

Bảng 2.5 : Danh sách c ổ phiếu đang niêm yết trên sàn 31

Bảng 2.6 : Danh sách cổ phiếu ngân hàng giao dịch OTC 32

Bảng 2.7 : Thống kê thông tin niêm yết cổ phiếu ngân hàng 33

Bảng 2.8 : Kết quả định giá cổ phiếu STB theo giá trị tài sản ròng 51

Bảng 2.9 : Kết quả định giá cổ phiếu STB theo mô hình DDM 52

Bảng 2.10 : Kết quả định giá cổ phiếu STB theo mô hình RI 53

Bảng 2.11 : Kết quả định giá cổ phiếu STB theo mô hình FCFE 54

Bảng 2.12 : Kết quả định giá cổ phiếu STB theo chỉ số P/E 55

Bảng 2.13 : Kết quả định giá cổ phiếu STB theo chỉ số P/B 55

Bảng 2.14 : Tổng kết kết quả định giá cổ phiếu STB 56

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hệ thống ngân hàng vốn được xem là “hệ thống huyết mạch” của nền kinh tế, giữ vai trò cung ứng nguồn vốn giúp cho nền kinh tế vận hành khi huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng… Do

đó sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng chính là tiền đề cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Hơn 60 năm hình thành và phát triển thì hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam ngày càng lớn mạnh cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là giai đoạn tăng trưởng bùng nổ năm 2007-2009 sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Tính đến ngày 31/12/2014 thì ngân hàng thương mại Việt Nam gồm có 01 ngân hàng thương mại nhà nước với vốn điều lệ 28.840 tỷ đồng, 37 NHTMCP với vốn điều lệ 287.977 tỷ đồng, 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài với vốn điều lệ 21.075 tỷ đồng và 04 ngân hàng liên doanh với vốn điều lệ 9.732

tỷ đồng …

Bên cạnh sự gia tăng và phát triển về quy mô hoạt động thì ngành ngân hàng luôn là tâm điểm thu hút vốn đầu tư trong xã hội vì theo nhận định của nhiều người hoạt động ngân hàng có sự ổn định, tỷ suất sinh lợi cao hơn mức bình quân của nhiều ngành sản xuất kinh doanh khác Do đó, trước thực tế nhu cầu đầu tư vốn vào ngành ngân hàng luôn cao thì hoạt động định giá cổ phiếu ngân hàng là công cụ hỗ trợ cần thiết cho nhà đầu tư trước khi đưa ra quyết định đầu tư Tuy nhiên trong số 40 Ngân hàng TMCP Việt Nam hiện tại thì chỉ mới có 09 mã cổ phiếu ngân hàng TMCP được niêm yết trên hai sàn chứng khoán Tp.HCM và Hà Nội, còn lại là phần lớn cổ phiếu ngân hàng giao dịch OTC mặc dù NHNN không ít lần hối thúc các ngân hàng TMCP đại chúng sớm niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán, nhằm minh bạch hơn hoạt động, nhưng xem ra vẫn chưa mấy nhà băng mặn mà với vấn đề này Bên cạnh đó, thông tin về cách thức tiến hành công tác định giá cổ phiếu ngân hàng của các đơn vị độc lập được thuê tư vấn trong các đợt IPO cổ phiếu ngân hàng thường lại mang tính rút gọn, không cung cấp đầy đủ thông tin cơ sở thuyết minh phương pháp định giá và

đa phần kết quả định giá phản ánh mức giá mong muốn của ngân hàng niêm yết khi đơn vị định giá cũng chính là đơn vị được thuê tư vấn niêm yết Hơn nữa, khi quyết định mua bán cổ phiếu các nhà đầu tư cần phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng và đặc

Trang 11

biệt là việc định giá Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Ứng dụng các phương pháp định giá cổ phiếu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” với

mong muốn tìm hiểu chuyên sâu về việc định giá cổ phiếu của một ngân hàng thương mại cổ phần nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư của cá nhân riêng lẻ Việc lựa chọn định giá

cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín do ngân hàng này vốn được xem

là một trong những ngân hàng TMCP lớn tại Việt Nam, đạt được mức tín nhiệm cao

và từng giành được nhiều giải thưởng Năm 2015 tiếp tục là năm đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, đã có 2 thương vụ sáp nhập được Đại hội đồng cổ đông thông qua: Sacombank - Southernbank và Maritime Bank - MekongBank

Trong phạm vi hiểu biết còn hạn chế của tác giả thì đề tài “Ứng dụng các phương pháp định giá cổ phiếu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín” được

trình bày tập trung vào việc ứng dụng các phương pháp định giá để xác định giá trị cổ phiếu STB dựa trên các thông tin được công bố đại chúng, các thông tin mà các nhà đầu tư riêng lẻ có thể thu thập được trên thị trường Do đó, sẽ còn nhiều hạn chế trong việc xác định giá trị cổ phiếu của STB đối với các mục đích mua lại, sáp nhập khi cần phải xem xét thêm nhiều “yếu tố ẩn” khác ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp như: thương hiệu, uy tín, lợi thế kinh doanh, trình độ năng lực Ban lãnh đạo ngân hàng

và các yếu tố khác…

Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan

 ThS Phan Diên Vỹ (2012), Định giá tài sản trong hoạt động ngân hàng thực trạng và giải pháp

 Nguyễn Phương Hồng (2013), Ứng dụng các phương pháp định giá cổ phiếu

tại Ngân hàng TMCP Á Châu, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, trường Đại học

kinh tế Tp Hồ Chí Minh

 Hoàng Văn Thắng (2013), Định giá cổ phiếu tại các Ngân hàng thương mại

cổ phần cho hoạt động đầu tư – Trường hợp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, trường Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh

 Magne Emhjellen, Chris M Alaouze (2003), A comparison of discounted cashflow and modern asset pricing methods-project selection and policy implications, Energy Policy, Volumn 31, Issue 12, Pages 1213-1220

Trang 12

 Kenneth Ferris, Barbara Petitt (2013), Valuation Methods: An Overview Các công trình nghiên cứu trên đã đóng góp nhiều phương pháp định giá khác nhau, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định, thời điểm thực hiện nghiên cứu định giá cổ phiếu của ngân hàng không hoạt động mua bán, sáp nhập Vì vậy, đây vẫn còn là lĩnh vực, đề tài mới mẻ cần được tiếp tục nghiên cứu và cập nhập

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu có hai mục tiêu chính:

- Định giá cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín cho hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam bằng các mô hình định giá như DDM,

RI, FCFE, P/E, P/B và giá trị tài sản ròng

- Trên cơ sở phân tích kết quả định giá cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín để đưa ra một số khuyến nghị đối với nhà đầu tư

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các vấn đề liên quan đến định giá cổ phiếu ngân hàng và khung thời gian định giá là 31/12/2014

Luận văn trả lời các câu hỏi nghiên cứu:

Thứ nhất, Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp định giá cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín?

Thứ hai, luận văn ứng dụng các phương pháp định giá cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, trong đó phương pháp nào là phù hợp và gợi ý gì cho nhà đầu tư khi đầu tư cổ phiếu Sacom bank?

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Thông qua đề tài nghiên cứu, tác giả trình bày hệ thống hóa các phương pháp định giá cổ phiếu ngân hàng, ưu và nhược điểm của từng phương pháp, việc đánh giá lựa chọn ứng dụng phương pháp phù hợp để ứng dụng định giá cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín giúp cho nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn chính là so sánh giá trị nội tại của các cổ phiếu với mức giá đang được giao dịch trên thị trường

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính của các ngân hàng TMCP từ giai đoạn 2010-2014 niêm yết trên sàn chứng khoán, xây dựng giả định để ước lượng hiện tại và dự báo tương lai Với sự hỗ trợ của phần mềm excel tác giả tính giá trị cổ phiếu của Sacombank theo giá trị bình quân gia quyền của từng phương pháp

Phương pháp so sánh được ứng dụng để làm rõ sự khác biệt về giá trị nội tại và giá cổ phiếu của Sacombank đang giao dịch trên thị trường chứng khoán để nhà đầu tư cân nhắc có nên đầu tư cổ phiếu Sacomban hay không tại thời điểm nhất định

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu trình bày những vấn đề chung liên quan đến mục tiêu, phạm

vi, ý nghĩa và phương pháp nghiên cứu, thì luận văn được bố cục gồm có 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về định giá cổ phiếu của Ngân hàng thương mại cổ phần

- Chương 2: Ứng dụng các phương pháp để định giá cổ phiếu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín

- Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị đối với việc định giá cổ phiếu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

1.1 Tổng quan về cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.1 Khái niệm về cổ phiếu

Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu một hoặc một

số cổ phần của các ngân hàng thương mại cổ phần Luật chứng khoán Việt Nam định nghĩa cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở

hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành

Đối với ngân hàng thương mại cổ phần thì người nắm giữ cổ phiếu phổ thông của ngân hàng sẽ trở thành chủ sở hữu của ngân hàng và được hưởng lợi từ kết quả kinh doanh của ngân hàng cũng như gánh chịu mọi rủi ro tổn thất khi ngân hàng kinh doanh thua lỗ phá sản

1.1.2 Phân loại cổ phiếu

Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho các cổ đông thì cổ phiếu được phân thành hai loại cơ bản: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu phổ thông (Common stock): Cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ

phiếu phổ thông là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông đối với một ngân hàng TMCP, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của ngân hàng và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của ngân hàng theo giá thị trường Cổ phiếu thường có các đặc trưng như: có mệnh giá (giá trị ghi trên bề mặt của chứng từ); có lãi suất không cố định và không có thời gian đáo hạn

Cổ phiếu thường mang lại những quyền lợi sau cho cổ đông: Quyền hưởng cổ tức, quyền mua cổ phiếu mới, quyền bỏ phiếu

Cổ phiếu ưu đãi (Preferred stock): Cổ phiếu ưu đãi không cho cổ đông quyền

bỏ phiếu song lại ấn định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá Trong điều kiện bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ nhận được mức cổ tức cố định theo tỷ lệ đã ấn định

Cổ phiếu ưu đãi bao gồm: Cổ phiếu ưu đãi cộng , cố phiếu ưu đãi cổ tức và cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi

1.1.3 Đặc điểm của cổ phiếu

Trang 15

Cổ phiếu là chứng khoán vốn xác nhận sự góp vốn của cổ đông đối với ngân

hàng cổ phần phát hành, cổ đông được chia lợi nhuận dưới dạng cổ tức khi ngân hàng kinh doanh có lãi và phải gánh chịu rủi ro mất vốn khi ngân hàng thua lỗ

Cổ phiếu không có kỳ hạn và không quy định thời hạn hoàn vốn: cổ phiếu

là chứng nhận việc góp vốn của cổ đông vào ngân hàng TMCP nên không có thời hạn

và không quy định việc hoàn vốn

Cổ phiếu có tính thanh khoản cao: cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành

tiền mặt dễ dàng đặc biệt là các cổ phiếu đã được niêm yết, cổ đông có thể dễ dàng mua bán lại cổ phiếu cho người khác thông qua các giao dịch trên sàn chứng khoán

Cổ phiếu có tính lưu thông: cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sự, cổ

đông nắm giữ có thể thực hiện được nhiều quyền sở hữu của mình đối với cổ phiếu như cho, tặng, trao quyền thừa kế, cầm cố…

1.1.4 Vai trò của cổ phiếu đối với NHTMCP

Do vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế nên quá trình thành lập và hoạt động của các ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ theo quy định của pháp luật và cơ quan quản lý là Ngân hàng nhà nước Vốn điều lệ chính là tổng nguồn vốn cổ phần mà các cổ đông đã đóng góp để thành lập nên ngân hàng cổ phần, vốn điều lệ được xác định bằng tổng số lượng cổ phiếu phổ thông đã phát hành nhân với mệnh giá của cổ phiếu Vốn điều lệ là nguồn vốn nòng cốt và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng cổ phần Trong quá trình hoạt động kinh doanh thì ngân hàng sẽ gia tăng nguồn vốn bằng cách trích giữ lại một phần lợi nhuận sau thuế để tăng vốn và lập các quỹ hoặc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn,

sử dụng các nguồn thặng dư vốn cổ phần… Theo quy định hiện hành thì mức vốn điều

lệ để thành lập mới một Ngân hàng TMCP tại Việt Nam tối thiểu phải đạt 3.000 tỷ đồng

1.2 Định giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần

1.2.1 Khái niệm định giá cổ phiếu của NHTMCP

Định giá là việc ước tính giá trị của một tài sản tại một thời điểm Trong tài chính, định giá là quá trình ước tính giá trị của các tài sản tài chính như cổ phiếu, quyền chọn, giá trị một doanh nghiệp hoặc trách nhiệm tài chính như trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi của công ty Hoạt động định giá giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực

Trang 16

đầu tư tài chính trong đó phổ biến nhất là định giá cổ phiếu để phân tích đầu tư và định giá doanh nghiệp cho mục đích mua bán, sáp nhập…

Việc thực hiện định giá cổ phiếu nói chung và cổ phiếu ngân hàng nói riêng đều xuất phát từ quan điểm đầu tư giá trị: định giá cổ phiếu để xác định giá trị nội tại đây

là giá trị cơ bản hợp lý của cổ phiếu dựa trên khả năng sinh lời của nó trong tương lai Trên cơ sở đó nhà đầu tư có thể so sánh lựa chọn ra những cổ phiếu đang được thị trường định giá thấp để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn

1.2.2 Các vấn đề liên quan đến định giá cổ phiếu của NHTMCP

1.2.2.1 Các loại giá cổ phiếu

- Mệnh giá (Par Value): là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu, mệnh giá

được xác định bằng cách lấy vốn điều lệ chia cho tổng số cổ phiếu đã phát hành Luật chứng khoán Việt Nam quy định mệnh giá của cổ phiếu là 10.000 đồng

- Thư giá (Book Value): phản ánh giá trị sổ sách theo bảng cân đối kế toán của

cổ phiếu tại một thời điểm, thư giá được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu chia cho tổng số cổ phiếu đã phát hành

- Giá trị nội tại (Intrinsic Value): là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện

tại, được xác định dựa trên mức cổ tức đã chi trả, triển vọng phát triển và lãi suất thị trường Giá trị nội tại là cơ sở quan trọng giúp cho nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư khi so sánh giá trị thực của cổ phiếu với mức giá đang giao dịch trên thị trường

- Thị giá (Market Value): là giá cả cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm

nhất định, tùy theo quan hệ cung cầu mà thì thị giá có thể cao, bằng hoặc thấp hơn giá

trị thực

1.2.2.2 Lợi tức và rủi ro

- Lợi tức của cổ phiếu: nhà đầu tư khi mua cổ phiếu được hưởng lợi từ hai

nguồn là cổ tức được chi trả và lợi tức do chênh lệch giá khi mức giá bán ra cổ phiếu cao hơn mức giá đã mua vào trước đó

 Cổ tức là phần chia lời cho mỗi cổ phần được trích ra từ lợi nhuận ròng sau thuế sau khi trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi, trích giữ thu nhập giữ lại và bổ sung tăng các quỹ

 Lợi tức do chênh lệch giá: đây là phần lợi nhuận chủ yếu mà các nhà đầu

tư kỳ vọng kiếm được khi đầu tư vào cổ phiếu, lợi tức do chênh lệch giá

Trang 17

được xác định bằng chênh lệch giữa mức giá bán ra và các chi phí mà nhà đầu tư đã bỏ ra để sở hữu được cổ phiếu trước đây

- Rủi ro của cổ phiếu: Rủi ro đầu tư cổ phiếu là khả năng suất sinh lời thực tế

mà nhà đầu tư nhận được khác với tỷ suất lợi nhuận đã được kỳ vọng ban đầu khi mua

cổ phiếu Có nhiều lý do dẫn đến sự khác nhau giữa tỷ suất lợi nhuận thực so với tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng nhưng chúng ta có thể chia thành hai loại:

(i) Rủi ro trên quy mô thị trường gồm những yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến tất cả mọi loại chứng khoán như thị trường, lãi suất, lạm phát…

(ii) Rủi ro đặc thù của công ty gồm những yếu tố gắn liền với công ty hay một ngành công nghiệp cụ thể như khả năng quản lý, thị hiếu tiêu dùng, đình công…

Khi định giá cổ phiếu ta phải xác định được tỷ suất lợi nhuận mong đợi r, tỷ suất lợi nhuận mong đợi gắn với rủi ro của từng ngành nghề kinh doanh, hoạt động kinh doanh càng rủi ro thì tỷ suất lợi nhuận yêu cầu đạt được phải càng cao Một trong những phương pháp định lượng rủi ro và xác định tỷ suất sinh lợi yêu cầu là sử dụng mức lãi suất không rủi ro cộng với phần bù rủi ro

1.2.2.3 Cổ tức

Cổ tức là phần lợi nhuận chia cho cổ đông trên mỗi cổ phiếu phổ thông dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cổ tức của cổ phiếu phổ thông được chi trả sau chi trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi Việc chi trả cổ tức cho cổ phiếu phổ thông không ổn định và không được xác định trước mà tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Ngân hàng cổ phần có thể trả cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu

Tỷ lệ chi trả cổ tức cho cổ phiếu phổ thông được căn cứ vào kết quả thu nhập ròng còn lại của ngân hàng sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ thuế; số tiền cổ tức chi trả cho

cổ phiếu ưu đãi; nguồn lợi nhuận được giữ lại để bổ sung tăng vốn; trích lập các quỹ

và giá trị thị trường thời điểm hiện tại của cổ phiếu

1.2.3 Ý nghĩa của việc định giá cổ phiếu NHTMCP

Các nhà đầu tư có vốn thực hiện tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt để thu về được lợi nhuận trên cơ sở cân nhắc và so sánh giữa mức chi phí phải bỏ ra để đầu tư và các

Trang 18

nguồn lợi kỳ vọng sẽ thu về được trong tương lai Đối với việc đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng cũng vậy, nhà đầu tư sẽ đánh giá việc đầu tư vào cổ phiếu của những ngân hàng có khả năng mang lại lợi nhuận cao nhất với mức chi phí phải bỏ ra để sở hữu cổ phiếu Một trong những căn cứ quan trọng giúp cho nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn chính là so sánh giá trị nội tại của các cổ phiếu với mức giá đang được giao dịch trên thị trường

Việc ứng dụng các phương pháp và mô hình định giá lý thuyết để xác định mức giá trị nội tại của cổ phiếu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương chính là kết quả định giá cổ phiếu Sacombank đồng thời là căn cứ để nhà đầu tư so sánh đưa ra quyết định lựa chọn đầu tư vào cổ phiếu Sacombank hay cổ phiếu của các ngân hàng

TMCP và doanh nghiệp khác

1.3 Các phương pháp định giá cổ phiếu của NHTMCP

Căn cứ cơ sở lý thuyết về định giá đã được nghiên cứu thì có thể áp dụng ba phương pháp khác nhau để định giá các tài sản tài chính hay cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần, gồm có: Phương pháp chiết khấu dòng tiền; Phương pháp định giá tương đối và Phương pháp xác định giá trị ngân hàng theo giá trị tài sản ròng

1.3.1 Các phương pháp chiết khấu dòng tiền -DCF (Discounted cash flow) 1.3.1.1 Mô hình chiết khấu dòng cổ tức - DDM (Discount Divident Model)

Mô hình DDM được xây dựng trên cơ sở phương pháp chiết khấu dòng tiền và nguyên tắc giá trị: giá trị của một tài sản chính là giá trị hiện tại của dòng tiền mà tài sản đó được kỳ vọng sẽ tạo ra trong tương lai Theo mô hình DDM thì cổ tức là dòng tiền duy nhất mà nhà đầu tư nhận được khi mua cổ phiếu một ngân hàng cổ phần Đây

là mô hình đơn giản nhất để định giá vốn cổ phần, giá trị của cổ phiếu ngân hàng cổ phần là giá trị quy về hiện tại của dòng cổ tức kỳ vọng thu về trong tương lai của cổ phiếu đó

Định giá vốn cổ phần: giá trị vốn cổ phần là giá trị có được bằng việc chiết khấu các dòng tiền kỳ vọng của vốn cổ phần (dòng tiền còn lại sau khi trừ tất cả các chi phí, các khoản tái đầu tư, thuế phải nộp, trả nợ gốc và lãi vay) tại mức chi phí vốn

cổ phần (ke)

Trang 19

Việc ứng dụng mô hình DDM đòi hỏi chúng ta phải thiết lập những giả định về

tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai của lợi nhuận và tỷ lệ chi trả cổ tức để xác định được dòng cổ tức Do những khó khăn trong việc dự báo dòng cổ tức kỳ vọng kéo dài mãi mãi nên phương pháp DDM đã được phát triển thành nhiều phiên bản dựa trên

cơ sở những giả định khác nhau về việc tăng trưởng dòng cổ tức, trong đó phổ biến là hai mô hình: mô hình tăng trưởng đều và mô hình tăng trưởng nhiều giai đoạn

- Mô hình tăng trưởng đều (Mô hình Gordon): Mô hình được sử dụng để

định giá các công ty có tỷ lệ tăng trưởng ổn định bằng hoặc thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng chung của nền kinh tế; có chính sách chi trả cổ tức tốt và được duy trì trong tương lai

Mô hình tăng trưởng Gordon cực kỳ nhạy cảm đối với tỷ lệ tăng trưởng do đó nếu được sử dụng không đúng thì nó có thể dẫn đến những kết quả vô lý khi g tiến dần về

ke Do đó cần lưu ý những giới hạn trong việc xác định g như tỷ lệ tăng trưởng của công ty có thể so sánh được với tỷ lệ tăng trưởng danh nghĩa của nền kinh tế

- Mô hình chiết khấu dòng cổ tức nhiều giai đoạn: Mô hình được sử dụng

để định giá các công ty có tỷ lệ tăng trưởng cao và kỳ vọng sẽ duy trì được tỷ lệ này

trong một khoảng thời gian cụ thể và duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng dòng tiền

dư thừa Trong thực tế sự tăng trưởng của một công ty diễn ra phức tạp và chia ra làm nhiều giai đoạn Thông thường, công ty sẽ trải qua một giai đoạn tăng trưởng nhanh với tốc độ g > r sau đó là giai đoạn tăng trưởng đều với gn < r Việc ứng dụng

mô hình cần lưu ý ba nội dung: (1) Việc xác định độ dài của giai đoạn tăng trưởng bất thường, nếu giai đoạn này càng kéo dài thì giá trị của tài sản định giá càng tăng; (2) Việc giả định tỷ lệ tăng trưởng biến động từ mức tăng trưởng cao ở giai đoạn đầu xuống mức tỷ lệ bền vững ở giai đoạn sau sẽ thực tế hơn nhiều nếu chúng ta xây dựng mô hình định giá với tỷ lệ tăng trưởng giảm từ từ theo thời gian; (3) Việc tập trung vào cổ tức trong mô hình định giá dẫn đến những kết quả ước tính sai lệch về giá trị của những công ty chi trả cổ tức thấp hoặc không chi trả cổ tức trong trường

Trang 20

hợp hiệu quả tạo lợi nhuận của những công ty này cao hơn hẳn

1.3.1.2 Mô hình định giá dòng thu nhập còn lại RI (Residual Income Valuation Model - RI)

Mô hình được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng giá trị doanh nghiệp bằng với nguồn vốn đã đầu tư cộng với Thu nhập còn lại sau khi trừ đi chi phí vốn chủ sở hữu Nguồn vốn đã đầu tư chính là giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu Chỉ số thích hợp nhất để đo lường Thu nhập còn lại trong mô hình này chính là ROE Biên độ chênh lệch giữa ROE và suất sinh lợi yêu cầu của nhà đầu tư càng lớn thì Thu nhập còn lại càng cao và sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp Mô hình RI cũng khá tương đồng với

mô hình DDM khi xác định giá trị doanh nghiệp cuối kỳ bằng Giá trị sổ sách đầu kỳ cộng Thu nhập trừ Cổ tức đã chi trả Mô hình RI được ứng dụng thay thế cho mô hình DDM và mô hình FCFE khi định giá những công ty không thực hiện chi trả cổ tức hoặc dòng tiền bị âm

BVo, BVt :Giá trị sổ sách tại hiện tại và tại kỳ t của doanh nghiệp

ROE : suất sinh lợi vốn chủ sở hữu

1.3.1.3 Mô hình định giá dòng tiền tự do vốn cổ phần FCFE (Free Cash

Flow to Equity)

- Mô hình xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên quan điểm của nhà đầu tư đa

số Theo đó, mua doanh nghiệp giống như đổi lấy một dự án đang được triển khai, một

cơ hội đầu tư mà nhà đầu tư sau khi nắm quyền kiểm soát còn có thể điều khiển dự án Giá trị doanh nghiệp được xác định bằng giá trị hiện tại dòng tiền thuần trong tương lai, là dòng tiền còn lại của vốn cổ phần sau khi công ty đã hoàn thành mọi nghĩa vụ

nợ tài chính (bao gồm các khoản thanh toán nợ vay) và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu

Trang 21

vốn đầu tư và vốn lưu động Mô hình FCFE xem cổ đông của một công ty cổ phần tương đương với chủ sở hữu của một doanh nghiệp tư nhân, cổ đông có quyền đối với toàn bộ dòng tiền còn lại của doanh nghiệp sau khi đóng thuế, trả nợ và đáp ứng các nhu cầu tái đầu tư

- Mô hình FCFE không có nhiều khác biệt so với mô hình DDM, điểm khác biệt rõ ràng nhất là thay vì chiết khấu dòng cổ tức thực tế thì mô hình FCFE chiết khấu dòng cổ tức tiềm năng Khi thực hiện chiết khấu dòng tiền tự do vốn cổ phần ta ngầm giả định rằng FCFE sẽ được chi trả cho các cổ đông, doanh nghiệp sẽ không có tiền mặt tích lũy trong tương lai vì lượng tiền mặt còn lại sau khi thanh toán nợ vay và đáp ứng nhu cầu tái đầu tư đã được chi trả hết cho các cổ đông mỗi kỳ; và tăng trưởng kỳ vọng của FCFE sẽ chỉ bao gồm tăng trưởng thu nhập từ tài sản hoạt động mà không

bao gồm tăng trưởng thu nhập từ sự gia tăng chứng khoán ngắn hạn

- Trường hợp: mô hình FCFE tăng trưởng bền vững: dòng tiền vốn cổ phần tăng dần hàng năm với tốc độ gn

- Trường hợp: Mô hình FCFE hai giai đoạn, dòng tiền vốn cổ phần tăng trưởng bất thường trong giai đoạn đầu n năm, từ năm n+1 tăng trưởng bền vững với tỷ lệ gn

Mô hình định giá tương đối được xây dựng trên cơ sở: việc xác định giá trị của một tài sản sẽ được căn cứ vào giá cả của các tài sản khác có cùng đặc điểm về tiêu chí

so sánh như lợi nhuận, dòng tiền, giá trị sổ sách Khác với phương pháp định giá

Trang 22

dòng tiền chiết khấu nghiên cứu về giá trị nội tại thì phương pháp định giá tương đối

lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thị trường

1.3.2.1 Mô hình định giá sử dụng tỷ số P/E

- Hệ số P/E là tỷ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận trên mỗi cổ phần Hệ số P/E được ứng dụng để định giá cổ phiếu theo quan điểm xem xét mức giá phải trả cho mỗi

cổ phần như là bội số của Lợi nhuận trên mỗi cổ phần (Earning per share - EPS) mà công ty thu về

P/E = Giá thị trường mỗi cổ phần/EPS Giá mỗi cổ phiếu = P/E * Thu nhập mỗi cổ phiếu

- Đối với việc lựa chọn nhóm công ty so sánh, người ta thường chọn mẫu phân tích là nhóm các công ty có cùng ngành nghề hoạt động để tính mức P/E bình quân ngành hoặc áp dụng mức P/E chung của toàn thị trường Tuy nhiên, việc lựa chọn có thể gặp hạn chế do việc loại bỏ các công ty có EPS âm sẽ ảnh hưởng đến kết quả phân tích Hạn chế trên có thể được khắc phục bằng cách tính tỷ suất lợi nhuận thu được trên giá cổ phiếu - Earnings yield, đây là chỉ số nghịch đảo của hệ số P/E Việc lựa chọn các công ty để so sánh không nhất thiết phải là các công ty cùng ngành kinh doanh mà nên chọn các công ty có cùng đặc trưng về tỷ lệ tăng trưởng, mức độ rủi ro

và dòng tiền với công ty đang được phân tích

- Việc sử dụng các chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS) khác nhau có thể dẫn đến kết quản phân tích P/E khác nhau trong từng trường hợp

- Việc áp dụng mức P/E bình quân của mẫu phân tích để ứng dụng tính mức giá

cổ phiếu có thể chưa phản ánh đúng giá trị cổ phiếu đó do quá trình định giá đã bỏ qua các yếu tố nội tại của doanh nghiệp Do đó, ta cần xem xét bổ sung các yếu tố quyết định đến hệ số P/E của từng công ty riêng lẻ để lựa chọn tỷ suất P/E hợp lý hơn Theo

đó khi so sánh không nên vội kết luận một cổ phiếu có P/E bằng 8 rẻ hơn một cổ phiếu

có P/E bằng 12 do lý do thực sự có thể là cổ phiếu thứ 2 có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn

Trang 23

- Hệ số PEG: Hệ số PEG được các nhà phân tích ứng dụng để tìm ra những cổ

phiếu đang bị định giá quá thấp hay quá cao khi so sánh hệ số P/E với tỷ lệ tăng trưởng

kỳ vọng của lợi nhuận trên mỗi cổ phần

1.3.2.2 Mô hình định giá sử dụng tỷ số P/B

- Hệ số P/B là tỷ lệ giữa giá thị trường và giá trị sổ sách trên mỗi cổ phần Hệ số P/B được ứng dụng để định giá cổ phiếu theo quan điểm xem xét mức giá phải trả cho mỗi cổ phần như là bội số của lợi nhuận trên mỗi cổ phần mà công ty thu về

- Giá trị sổ sách (BV – Book value) của vốn cổ phần là khoản chênh lệch giữa giá trị sổ sách của tài sản với giá trị sổ sách của nợ phải trả, và chịu ảnh hưởng của các chuẩn mực kế toán

- Giá trị thị trường (MV) của vốn cổ phần của một công ty phản ánh kỳ vọng

của thị trường đối với năng lực tạo ra lợi nhuận và dòng tiền của công ty đó

- Khi ứng dụng mô hình định giá hệ số P/B thì nên sử dụng MV và BV của vốn

cổ phần để tính hệ số P/B thay vì sử dụng giá trị mỗi cổ phần; Khi tính BV vốn cổ phần nên loại bỏ phần vốn huy động từ cổ phiếu ưu đãi; BV chịu ảnh hưởng bởi phương pháp khấu hao; Kết quả hệ số P/B không có nhiều ý nghĩa đối với những công

ty không sở hữu những tài sản hữu hình có giá trị như các công ty dịch vụ và công nghệ; Việc xem xét các yếu tố quyết định đến hệ số P/E của từng công ty riêng lẻ: hệ

Trang 24

số P/B của một công ty bền vững được quyết định bởi mức độ chênh lệch giữa ROE và chi phí vốn cổ phần của doanh nghiệp đó

1.3.3 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản ròng

Cũng như các phương pháp định giá khác, phương pháp định giá cổ phiếu theo giá trị tài sản ròng cũng dựa trên giá trị hiện tại của các luồng thu nhập tương lai Tuy nhiên, có một đặc trưng quan trọng ở phương pháp này là quãng thời gian thu hồi tiền nói chung ngắn hơn nhiều Thông thường, để xác định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sản ròng cần phải xác định các thông số sau: (i) Giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp; (ii) Giá trị khả năng sinh lời hay khả năng tài chính; (iii) Giá trị thay đổi hay giá trị kinh tế và (iv) Giá trị lợi thế như địa điểm, uy tín, tiếng tăm của doanh nghiệp Phương pháp định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sản ròng sẽ phải xem xét các vấn đề chủ yếu sau:

- Định giá đầy đủ các tất cả các mảng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

dựa trên giá trị liên tục (giá trị thực) Đối với các tập đoàn lớn, đặc biệt các doanh nghiệp đại chúng, thì hoạt động kinh doanh đa dạng bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau

- Định giá các tài sản có và tài sản nợ còn lại dựa trên giá trị thị trường ròng,

việc định giá lại tùy thuộc vào tính chất của tài sản và tài sản nợ, và trong nhiều trường hợp đòi hỏi phải có sự tham gia của các đơn vị chuyên môn độc lập để xác định giá trị của từng loại tài sản cụ thể như các loại tài sản đặc biệt gồm có tài sản vô hình, thương hiệu, giá trị kênh phân phối…

- Ước tính các chi phí thanh lý, bao gồm: Chi phí liên quan đến thanh lý bất

động sản và các khoản hoa hồng khác; Các khoản phí pháp lý, kế toán và các lệ phí chuyên nghiệp khác liên quan để thanh lý tài sản của doanh nghiệp; Các chi phí khác như khoản tiền bồi thường cho thôi việc

- Tính đến các khoản nợ thuế đánh trên lãi vốn và thuế thu nhập có thể có và

các khoản thuế liên quan đến thu nhập từ tài sản thanh lý, chẳng hạn như thuế thu nhập đối với việc bán tài sản; thuế thu nhập từ cổ tức

- Các vấn đề khác như: Tính đến các khoản tăng chi thuế do chuyển lỗ sang

năm sau theo yêu cầu của cơ quan quản lý; Đánh giá chất lượng, khả năng bán ra thị trường của các tài sản đó; Tính toán khoảng thời gian phải chờ cho đến khi có thể thu

Trang 25

được hết các khoản tiền thanh lý; Tính đến những khoản lợi mà người mua được hưởng (tức người bán bị thiệt) do không phải thanh toán tiền ngay

Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản ròng:

có nhiều cách thức khác nhau để định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sản ròng Trong phạm vi đề tài này, tác giả trình bay ba phương pháp thông dụng:

Phương pháp 1:

Phương pháp 2:

Phương pháp 3:

- Trong đó, Giá trị tài sản ròng được xác định theo hai cách:

 Cách 1: Giá trị tài sản ròng được căn cứ vào thị trường Giá trị tài sản

ròng chính là giá bán tất cả các bộ phận cấu thành tài sản của doanh nghiệp trên thị trường (bao gồm đất đai, tài sản cố định, hàng hoá, ) vào thời điểm định giá doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản nợ của doanh nghiệp Giá thị trường chỉ xác định cho từng tài sản riêng biệt Công thức dùng để xác định giá trị tài sản ròng theo phương pháp này là:

 Cách 2: Giá trị tài sản ròng được căn cứ vào giá trị sổ sách

Trang 26

- Các khoản nợ của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ vay ngắn hạn và dài

hạn các khoản phải trả cho khách hàng, cho công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, các khoản nợ khác Các khoản nợ này được phản ánh ở phần nguồn vốn hình thành trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

- Giá trị lợi thế là các yếu tố phi vật chất được cấu thành từ tài sản vô hình của

doanh nghiệp, được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp nhờ có nó mà có thể thu được lợi nhuận cao hơn mức bình thường so với các doanh nghiệp cùng loại nhưng không có các giá trị lợi thế này Giá trị lợi thế doanh nghiệp được tính căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận siêu ngạch bình quân của n năm liền kề (n thường được lấy bằng 5) với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp theo công thức:

- Giá trị khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào lợi nhuận mà

doanh nghiệp tạo ra trong tương lai Giá trị khả năng sinh lời của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với lợi nhuận có thể thu được Lợi nhuận ròng bình quân hàng năm là lợi nhuận

dự tính bình quân còn lại sau khi đã trừ đi thuế và các chi phí kể cả chi trả lãi vay Các

số liệu này được xác định trên cơ sở tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp trong những năm tới

Tóm lại, có ba phương thức phổ biến để định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sản ròng Việc xác định giá trị doanh nghiệp theo mỗi phương pháp sẽ cho kết quả

Trang 27

không giống nhau Trong ba phương pháp, thì xác định giá doanh nghiệp theo phương pháp 3 sẽ cho kết quả chính xác hơn phương pháp 1 và 2, vì phương pháp 3 là phương pháp tổng hợp của phương pháp 1 và phương pháp 2, nó xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở trung bình cộng của giá trị tài sản ròng và giá trị khả năng sinh lời có tính đến cả các yếu tố đặc thù so với ngành, các yếu tố tiềm năng lợi nhuận trong tương lai

và mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp vì vậy mà phương pháp này phổ biến hơn so với phương pháp 1 và 2 Tuy nhiên, ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì phương pháp định giá theo giá trị tài sản ròng nói chung là ít được sử dụng như một phương pháp cơ bản mà chỉ như phương pháp thứ yếu, dùng để kiểm tra lại kết quả định giá của các phương pháp khác Sở dĩ như vậy là vì phương pháp này có một số hạn chế chung như sau:

- Định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sản ròng là khó đạt được

các giá trị tài sản xác thực và không tính được thời gian sử dụng, các chi phí và thuế phải trả khi thanh lý tài sản và việc phân phối số tiền thu được một cách thích hợp

- Định giá tài sản thực tế hay đang sử dụng có thể vượt qua giá trị có thể bán

được của chúng

- Giá trị của doanh nghiệp bán được có thể thấp hơn nhiều so với chi phí và các

sản phẩm đang chế tạo, các linh kiện và thiết bị chưa hoàn chỉnh có thể phải bán với giá gần như cho không

- Rất khó có thể định giá riêng biệt các khoản mục vô hình như uy tín của

doanh nghiệp, thương hiệu

- Thị trường để bán phần lớn các máy móc và thiết bị văn phòng đã qua sử dụng

là rất hạn hẹp, do vậy khi thanh lý tài sản có thể phải bán với giá gần như cho không

- Các khoản nợ khó đòi thường sẽ vượt cao hơn mức thường lệ một khi công ty

bắt đầu ngừng kinh doanh

1.3.4 Khả năng ứng dụng các phương pháp

1.3.4.1 Phương pháp chiết khấu dòng tiền

Phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên việc chiết khấu luồng thu nhập trong tương lai về hiện tại với một lãi suất chiết khấu hợp lý Phương pháp này sẽ cho phép xác định chính xác và đầy đủ giá

Trang 28

trị của doanh nghiệp do nó phản ánh cả thực trạng (hiện tại, quá khứ) và dự báo tiềm năng (tương lai) của doanh nghiệp đó Phương pháp được đánh giá đặc biệt thích hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, tư vấn thiết kế xây dựng, các ngành lĩnh vực phát triển công nghệ cao như phần mềm tin học, chuyển giao công nghệ Do đây là những doanh nghiệp có giá trị tài sản không đáng kể, việc xác định giá trị của các doanh nghiệp theo phương pháp tài sản sẽ không phản ánh đúng tiềm năng phát triển thực của doanh nghiệp khi mà hoạt động chủ yếu nhờ vào các lợi thế về khả năng bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và giá trị chất xám kết tinh trong công việc hoặc sản phẩm, dịch vụ

Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp dòng tiền tỏ ra rất khó khăn và mất nhiều thời gian do các đại lượng k và g ước lượng chỉ mang tính chất tương đối Việc xác định tỷ lệ tăng trưởng của doanh nghiệp Hệ số rủi ro của doanh nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng của ngành, vùng kinh tế, thị phần đòi hỏi phải có một hệ thống số liệu chính xác và đầy đủ, mà để có được điều này là rất khó đối với một thị trường thiếu thông tin, và một nền kinh tế đang phát triển chưa ổn định Bên cạnh đó, việc ứng dụng phương pháp sẽ gặp một số tình huống hạn chế khi định giá các doanh nghiệp có đặc điểm sau: (i) Những công ty đang gặp khó khăn: những công ty kiệt quệ sẽ có lợi nhuận và dòng tiền âm nên rất khó dự đoán dòng tiền tương lai do khả năng công ty bị phá sản rất cao; (ii) Những công ty hoạt động có tính chu kỳ: lợi nhuận và dòng tiền của công ty có tính chu kỳ thường biến động cùng chiều với nền kinh tế do đó việc ước tính dòng tiền sẽ gặp khó khăn trong việc dự đoán thời điểm cũng như thời gian diễn ra các giai đoạn suy thoái và phục hồi của công ty; (iii) Những công ty đang trong quá trình tái cơ cấu: công ty có những thay đổi lớn về tài sản sở hữu (bán đi hoặc mua thêm), thay đổi về cơ cấu vốn, chính sách chi trả cổ tức… làm cho việc ước lượng dòng tiền trở nên khó khăn hơn và ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của công ty; (iv) Mô hình đánh giá thấp giá trị của những công ty trả cổ tức quá thấp và tích lũy tiền mặt cao

Tóm lại phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp tương đối hiệu quả, nhưng việc áp dụng phương pháp là không đơn giản đòi hỏi nhiều điểu kiện và giả định trong quá trình thực hiện

1.3.4.2 Phương pháp định giá tương đối

Trang 29

Ưu điểm của phương pháp định giá tương đối là đòi hỏi ít giả định và nhanh gọn hơn nhiều so với phương pháp DCF Phương pháp tương đối dễ hiểu và dễ trình bày cho khách hàng, thường được sử dụng để ước lượng nhanh giá trị của tài sản và công ty khi có một số lượng lớn công ty tương tự nhau đang được giao dịch trên thị trường Tuy nhiên việc ứng dụng phương pháp bội số sẽ gặp khó khăn khi định giá những công ty đặc biệt, những công ty không có điểm nào để so sánh như doanh thu thấp hoặc lợi nhuận bị âm Ngoài ra, nhược điểm của phương pháp là không đưa ra được cơ sở để các nhà đầu tư phân tích đánh giá về khả năng tăng trưởng và rủi ro tác động tới giá trị doanh nghiệp Mặt khác việc ứng dụng các bội số thường dễ bị lạm dụng và cải biên đặc biệt khi lựa chọn các công ty so sánh

- Phương pháp sử dụng tỷ số P/E phụ thuộc vào việc lựa chọn hệ số P/E ngành hợp lý, tương đương với hệ số P/E của doanh nghiệp, kết quả xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp này mang tính chất tương đối do được suy ra từ hệ số P/E của ngành và P/E của các công ty tương đương Do tính chất nhanh chóng và thuận tiện nên nó phù hợp với phân tích của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán hơn

là dùng để xác định giá trị doanh nghiệp dùng cho mua bán sáp nhập, cổ phần hoá

- Phương pháp định giá sử dụng hệ số P/B phản ánh tình hình thị trường tốt hơn

vì nó đo lường giá trị tương đối chứ không phải giá trị nội tại, BV là một thước đo tương đối ổn định và dễ nhận biết, có thể so sánh với giá thị trường; Chuẩn mực kế toán được áp dụng thống nhất đối với các công ty trong phạm vi một quốc gia nên ta

có thể so sánh hệ số P/B của các công ty với nhau; phương pháp có thể áp dụng để định giá đối với những công ty có lợi nhuận âm

1.3.4.3 Phương pháp giá trị tài sản ròng

Phương pháp này thường áp dụng phổ biến tại các nước mà TTCK chưa phát triển mạnh mẽ như ở Việt Nam, và là phương pháp được áp dụng phổ biến để xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa Các doanh nghiệp sản xuất là các doanh nghiệp tỏ ra phù hợp với phương pháp tài sản ròng do có bảng cân đối kế toán phản ánh đầy đủ các hoạt động Tuỳ theo phương pháp nào thuận lợi và dễ thực hiện

để tiến hành lựa chọn, hoặc kết hợp kết quả của nhiều phương pháp định giá theo các

tỷ lệ trọng số khác nhau cho mỗi phương pháp

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này tác giả đã tập trung trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về cổ phiếu Ngân hàng thương mại cổ phần, các vấn đề chung về việc định giá cổ phiếu của ngân hàng cổ phần, các phương pháp và mô hình định giá đã được xây dựng, phát triển

và ứng dụng trong việc định giá cổ phiếu ngân hàng Các mô hình lựa chọn áp dụng để định giá cổ phiếu ngân hàng đều dựa trên quan điểm đầu tư giá trị với nguyên tắc cơ bản là “giá trị hiện tại”, theo đó giá trị của cổ phiếu ngân hàng được xác định bằng việc chiết khấu dòng tiền mà ngân hàng được kỳ vọng sẽ tạo ra trong tương lai về hiện tại theo một tỷ suất lợi nhuận mong đợi của nhà đầu tư

Về tổng thể thì Ngân hàng thương mại cổ phần cũng là một loại hình doanh nghiệp với tỷ trọng cổ phần phổ thông chiếm đa số do đó vẫn áp dụng các mô hình định giá cổ phiếu doanh nghiệp để thực hiện định giá cổ phiếu ngân hàng Trong phạm

vi luận văn nghiên cứu, tác giả lựa chọn các mô hình tiêu biểu của ba phương pháp định giá để ứng dụng định giá cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Việc lựa chọn định giá cổ phiếu STB do đây là ngân hàng thương mại cổ phần có quy

mô lớn, quá trình hoạt động kinh doanh đa dạng và đạt tỷ suất sinh lời cao, lịch sử chi trả cổ tức bằng tiền mặt ổn định Do mỗi phương pháp định giá đều có những ưu và nhược điểm riêng nên việc ứng dụng nhiều mô hình định giá sẽ phản ánh được cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn về mức giá của cổ phiếu STB

 Phương pháp định giá dòng tiền: ứng dụng Mô hình định giá dòng cổ tức DDM; Mô hình định giá dòng thu nhập còn lại RI và Mô hình định giá dòng tiền tự do vốn cổ phần FCFE

 Phương pháp định giá tương đối: ứng dụng hai mô hình định giá dựa theo chỉ số P/E và P/B

 Phương pháp định giá tài sản ròng

Trang 31

CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỂ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU

NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

2.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

- Tên giao dịch: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

- Giấy phép hoạt động số 0006/GP-NH ngày 05/12/1991

- Giấy phép thành lập số 05/GP-UB ngày 03/01/1992

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 059002 ngày 13/01/1992

- Vốn điều lệ tại ngày 31/12/2014: 12.425.116 triệu đồng

- Trụ sở chính đặt tại số 266 - 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

- Mạng lưới: Vào ngày 31 tháng 12 năm 2014, Ngân hàng có một (1) Hội sở, một (1) Chi nhánh Trung tâm, bảy mươi mốt (71) chi nhánh tại các tỉnh, thành phố trên cả nước và một (1) chi nhánh tại Lào, ba trăm bốn mươi bốn (344) phòng giao dịch trong nước, hai (2) phòng giao dịch tại Lào và một (1) quỹ tiết kiệm

- Nhân viên: Tổng số cán bộ công nhân viên của Ngân hàng và các công ty con vào ngày 31 tháng 12 năm 2014 là 12.608 người (ngày 31 tháng 12 năm 2013: 11.662 người)

- Công ty con:

Tại ngày 31 tháng 12 năm 2014, Ngân hàng có năm (5) công ty con như sau:

thành lập

Lĩnh vực kinh doanh

Công ty TNHH MTV Cho thuê tài

chính Ngân hàng Sài Gòn Thương

Tín

NHNN

04/GP-Huy động vốn và Hoạt

Trang 32

hàng Sài Gòn Thương Tín NHNN ngoại tệ, đại lý đổi ngoại

giám định thương mại;

mua bán vàng, gia công sản xuất vàng trang sức

mỹ nghệ

100%

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín

Nguồn: BCTC năm 2014 của Sacombank

Ngoài ra, Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín cũng sở hữu hai (2) công ty con sau đây:

thành lập

Lĩnh vực kinh doanh

99,98%

Nguồn: BCTC năm 2014 của Sacombank

Công ty TNHH SBJ Campuchia đã đệ trình đơn lên Tổng Cục Thuế Campuchia vào ngày 5 tháng 5 năm 2014 về việc xin phép ngừng hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm

2014 Tổng Cục Thuế Campuchia đã gửi thông báo cho Công ty TNHH SBJ Campuchia vào ngày 4 tháng 9 năm 2014 về việc kiểm tra quyết toán thuế trước khi giải thể Công ty TNHH SBJ Campuchia hiện đã nộp các báo cáo thuế và đang đợi quyết định của Tổng Cục Thuế Campuchia về việc giải thể

- Thông tin niêm yết: STB được Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh chấp thuận cho niêm yết 02/06/2006 Ngày chính thức niêm yết là 12/07/2006 với mã chứng khoán STB; Loại chứng khoán: cổ phiếu phổ thông;

Trang 33

Mệnh giá 10.000 đồng/cp; Số lượng chứng khoán niêm yết hiện nay: 189.947.299 cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank -Sacombank) là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu của Việt Nam Ngay từ thời kỳ đầu mới thành lập thì Sacombank đã xây dựng tầm nhìn phát triển trở thành "Ngân hàng bán lẻ - đa năng - hiện đại - tốt nhất Việt Nam" với các nhóm giải pháp nòng cốt: Tăng năng lực tài chính, tổng tài sản - Mở rộng mạng lưới, thị trường, thị phần - Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng - Đầu tư phát triển nguồn nhân lực - Đa dạng hóa nội dung hoạt động - Tái cấu trúc bộ máy, chuẩn hóa quy trình hoạt động nhằm nâng cao chất lượng quản trị điều hành hướng đến các thông lệ quốc tế tốt nhất - Chuẩn bị tích cực cho xu thế hội nhập, mở cửa Trong quá trình kinh doanh, Ngân hàng đã nhiều lần đạt danh hiệu: vào năm 2007, lần đầu tiên Sacombank trở thành ngân hàng duy nhất tại Việt Nam nhận 2 giải thưởng quốc tế uy tín“Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2007”do Euromoney bình chọn, “Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam 2007”do Asian Banking And Finance thuộc tập đoàn Charton Media bình chọn và các danh hiệu khác theo đánh giá của các Tạp chí chuy ên ngành

uy tín như Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Global, The International Finance, Banker, MasterCard,

Sacombank là ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) đầu tiên được niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh với giá trị thị trường khoảng 1.900 tỷ đồng Ngày 3/12/2012, cổ phiếu STB được chọn vào VN30 Những mã chứng khoán được chọn để tính vào chỉ số VN30 phải thỏa mãn các điều kiện sau: giá trị vốn hóa, số lượng cổ phiếu đang lưu hành và tính thanh khoản STB xếp thứ nhất trong tổng số 30 cổ phiếu của chỉ số VN30, đã khẳng định vị thế và sức hấp dẫn trên thị trường Hai mươi năm thịnh vượng của gia đình ông Đặng Văn Thành đi cùng với sự thành công của Sacombank Gia đình này đã phát triển Sacombank trở thành một trong 10 ngân hàng lớn nhất Việt Nam Trong năm 2011 và 2012, cơ cấu sở hữu của Sacombank đã trải qua sự thay đổi, tạo nên bước ngoặt mới trong quá trình phát triển của ngân hàng Tất

cả các cổ đông chiến lược nước ngoài đã đồng loạt rút vốn khỏi ngân hàng REE và ANZ thoái vốn để tập trung vào mảng kinh doanh chính của họ Ông Đặng Văn Thành

và con trai, Ông Đặng Hồng Anh, đã phải rời khỏi ngân hàng khi dùng cổ phiếu để trả

nợ Thay vào đó, Eximbank đã mua lại toàn bộ cổ phần ANZ nắm giữ để trở thành cổ

Trang 34

đông lớn nhất Gia đình Trầm Bê sở hữu 6,72% cổ phần của ngân hàng Eximbank đại diện cho cổ đông nắm giữ trên 50% cổ phần đề nghị thay đổi các thành viên của Hội đồng quản trị (HĐQT), dẫn đến thay đổi lớn trong Ban giám đốc Cuối năm 2014, Sacombank xếp đầu danh sách các ngân hàng TMCP về tổng vốn điều lệ, đứng thứ hai về thị phần tín dụng với tỷ lệ khoảng 3,1%, và thứ bảy về tổng tài sản

2.1.2 Vị thế cạnh tranh

Nhìn lại 23 năm qua, Sacombank đã thực sự trưởng thành với những mục tiêu chiến lược có tầm nhìn xa trông rộng, những chính sách linh hoạt - mềm dẻo

và những quyết sách kinh doanh nhanh nhạy - kịp thời, phù hợp với từng giai đoạn

và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sacombank đã trải qua gần một nửa chặng đường của giai đoạn phát triển 2011 - 2020 với cả những thành tựu đáng khích lệ và những bất cập cần cải thiện để chuẩn bị cho một thời kỳ phát triển mới với những yêu cầu ngày một cao của xu hướng hội nhập quốc tế

Sacombank dẫn đầu các ngân hàng TMCP về mạng lưới với hơn 428 điểm giao dịch Mặc dù ngân hàng có hệ thống mạng lưới toàn quốc, thế mạnh truyền thống của STB lại ở khu vực miền Nam

Bảng 2.1: Mạng lưới giao dịch của STB năm 2014

Trang 35

Về tổng tài sản, STB hiện xếp thứ bảy trong hệ thống ngân hàng Cuối năm

2014, tổng tài sản của STB tăng 17,6% so với cùng kỳ lên 190 nghìn tỷ đồng Sau khi hợp nhất với Ngân hàng TMCP Phương Nam (PNB), tổng tài sản của STB sẽ xấp xỉ 291nghìn tỷ đồng, gia nhập top 5 ngân hàng lớn nhất

Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2014 của các ngân hàng

STB đứng thứ bảy về thị phần huy động (khoảng 3,7%) và thứ sáu về thị phần tín dụng (3,1%) trong hệ thống ngân hàng

Bảng 2.2: Thị phần hoạt động của STB năm 2014

so với 12 ngân hàng khác

(%)

Tín dụng (%)

Trang 36

10 EIB 2,2% 2,0%

Nguồn: Báo cáo năm 2015 của VPBS

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của TMCP Sài Gòn Thương Tín trong năm 2015

Trong bối cảnh tình hình kinh tế năm 2015 của Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng sẽ còn diễn biến với nhiều khó khăn và thách thức, Sacombank đã

có những điều chỉnh trong hoạt động kinh doanh và quản trị - điều hành trên cơ sở duy trì tính an toàn và hiệu quả trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

Kết quả hoạt động kinh doanh của STB đến cuối tháng 06/2015 đã đạt những thành quả tích cực khi đã gần hoàn thành kế hoạch năm đối với hai chỉ tiêu chính là tăng trưởng huy động và tín dụng

Theo báo cáo đến 30/06/2015, ngân hàng đạt tăng trưởng tín dụng 9,91% với

dư nợ cho vay khách hàng 140.707 tỷ đồng Huy động tiền gửi khách hàng tăng 10,4% đạt 179.952 tỷ đồng.Tổng tài sản tăng nhanh chóng từ chưa đến 200 nghìn tỷ đồng hồi cuối quý 1 lên 210.777 tỷ đồng vào cuối quý 2 So với đầu năm, tổng tài sản tăng 11% Trong kinh doanh, thu nhập thuần từ lãi 6 tháng đạt 3.794 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước Hoạt động dịch vụ đạt lãi thuần cao hơn 16% so với cùng kỳ lên

522 tỷ đồng Hoạt động kinh doanh ngoại hối lãi 116 tỷ đồng, giảm 10% so với cùng

kỳ năm trước.Hoạt động kinh doanh chứng khoán và chứng khoán đầu tư bù trừ cho nhau và nhìn chung không có lãi trong 6 tháng qua Các hoạt động khác mang về cho ngân hàng thêm 32 tỷ đồng lợi nhuận.Tổng cộng lợi nhuận thuần từ kinh doanh trước

dự phòng rủi ro 6 tháng đạt 2.223 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên thực hiện chính sách xử lý mạnh nợ xấu, ngân hàng đã tăng gấp hơn 2 lần dự phòng rủi ro so với 6 tháng đầu năm ngoái lên 1.929 tỷ đồng.Dù kết quả kinh doanh tốt hơn song do dự phòng cao nên ngân hàng chỉ đạt lợi nhuận trước thuế 1.525 tỷ đồng trong nửa đầu năm và sau thuế là 1.180 tỷ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước So với mục tiêu lợi nhuận trước thuế 3.000 tỷ đồng đề ra tại Đại hội cổ đông hồi tháng 4 thì ngân hàng đã hoàn thành trên 50% kế hoạch.Về chất lượng nợ, đến 30/6

Trang 37

ngân hàng có tổng cộng 1.698 tỷ đồng nợ xấu, chiếm 1,2% trên tổng dư nợ, tăng nhẹ

so với tỷ lệ 1,18% hồi đầu năm

Bảng 2.3: Tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2015

Nguồn: Báo cáo tài chính của STB

Đặc biệt trong tháng 7/2015, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín vừa công

bố tài liệu họp đại hội cổ đông bất thường 2015 về việc sáp nhập Ngân hàng TMCP

Phương Nam vào Sacombank Theo đó, tỷ lệ hoán đổi cổ phần sẽ theo tỷ lệ 1:0,75, tức

1 cổ phiếu của Southern Bank sẽ hoán đổi thành 0,75 cổ phiếu của Sacombank Sau sáp nhập quy mô SacomBank sẽ tăng trưởng vượt bậc, vốn điều lệ sẽ đạt trên 18.853

tỷ đồng, tổng tài sản đạt 290.861 tỷ đồng, nằm trong Top 5 NHTMCP Việt Nam

So sánh tình hình hoạt động của hai ngân hàng năm 2014

Ngân hàng TMCP Phương Nam

(Southern Bank - PNB)

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

(Sacombank - STB) ĐVT: triệu đồng

Trang 38

Ngày 12/08/2015, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã có công văn số 6066/NHNN-TTGSNH chấp thuận nguyên tắc việc sáp nhập Ngân hàng TMCP Phương Nam (PNB) vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) trên cơ

sở tự nguyện của 2 ngân hàng theo quy định tại thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 về sáp nhập, hợp nhất, mua lai TCTD Ông Trầm Bê hiện là Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Sacombank tự nguyện cam kết ủy quyền không hủy ngang, vô thời hạn cho NHNN hoặc tổ chức, cá nhân do NHNN thực hiện đầy đủ các quyền của cổ đông theo quy định của pháp luật và điều lệ ngân hàng PNB, điều lệ ngân hàng Sacombank sau khi sáp nhập PNB đối với toàn bộ số cổ phần tại Sacombank, PNB và ngân hàng sau sáp nhập thuộc quyền sở hữu của Ông Trầm Bê và các bên có liên quan Như vậy, ông Trầm Bê sẽ không tham gia quản trị, điều hành ngân hàng sau sáp nhập Đồng thời NHNN sẽ thực hiện quyền cổ đông đối với toàn bộ số cổ phần thuộc sở hữu của ông Trầm Bê và những người có liên quan và sẽ cử ngườoi tham gia quản trị, điều hành ngân hàng sau sáp nhập, đảm bảo ngân hàng này hoạt động an toàn và thực hiện

có hiệu quả đề án tái cơ cấu của hai ngân hàng Ông Trầm Bê cũng cam kết trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu và xử lý nợ xấu của ngân hàng sau sáp nhập, nếu giá trị tài sản đảm bảo cho các nghĩa vụ nợ của ông Trầm Bê và những người có liên quan không đủ sẽ bổ sung thêm các tài sản khác thuộc sở hữu của ông Trầm Bê Và cũng trong tháng 8/2015, Ngân hàng Trung ương CHDCND Lào và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được chính thức chuyển đổi Chi nhánh tại Lào thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài (Sacombank Lào)

2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư cổ phiếu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

2.2.1 Hành lang pháp lý

Hoạt động ngân hàng có sự khác biệt lớn so với các loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác Tuy nhiên, các văn bản quy định hiện hành có liên quan đến hoạt động định giá cổ phiếu tại Việt Nam chủ yếu là các quy định hướng dẫn việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, chứ chưa ban hành văn bản quy định hướng dẫn riêng về hoạt động định giá đối với loại hình doanh nghiệp dịch vụ đặc thù

Trang 39

2.2.2 Hoạt động định giá cổ phiếu ngân hàng

Hoạt động định giá cổ phiếu doanh nghiệp nói chung và định giá cổ phiếu ngân hàng nói riêng tại Việt Nam hình thành và phổ biến thông tin ra đại chúng cùng với sự

ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam được khai sinh vào năm 1998 và phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên được thực hiện vào ngày 28/07/2000 chỉ với 02 mã cổ phiếu là REE và SAM với số vốn 270

tỷ đồng

Mã cổ phiếu ngân hàng đầu tiên được niêm yết trên Sàn giao dịch Tp.HCM ngày 12/07/2006 là STB của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín với khối lượng gần 190 triệu cổ phiếu, giá chào sàn là 78.000 đồng/cp, giá đóng cửa đạt 78.000 đồng/cp.Tiếp theo đó, đến tháng 11/2006 thì ngành ngân hàng có cổ phiếu thứ 2 niêm yết là Ngân hàng TMCP Á Châu với 110 triệu cổ phiếu niêm yết trên Sàn giaodịch Hà Nội với mức giá chào sàn là 120.000 đồng/cp, giá đóng cửa là 130.200 đồng/cp Cùng với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam và sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại thì ngày càng nhiều mã cổ phiếu ngân hàng được niêm yết với danh xưng là “cổ phiếu vua”

Bảng 2.4 : Diễn biến giá cổ phiếu STB và ACB giai đoạn 2006-2008

Ngày

giao dịch

Ghi chú Giá

(đồng/cp)

KLGD (cổ phiếu)

KL niêm yết (Triệu cổ phiếu) Chỉ số

KLGD (cổ phiếu)

(đồng/cp)

KLGD (cổ phiếu)

KL niêm yết (Triệu cổ phiếu) Chỉ số

KLGD (cổ phiếu)

Trang 40

bùng nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam vào giai đoạn năm 2006-2007 thì hai

mã cổ phiếu ngân hàng TMCP tiêu biểu là STB và ACB đã có chuỗi thời gian tăng giá cực kỳ ấn tượng Chỉ khoảng thời gian 10 tháng thì cổ phiếu STB đã tăng giá gấp 2.1 lần từ mức giá 78.000 đồng/cp khi niêm yết lần đầu lên mức đỉnh 166.000 đồng/cp vào ngày 29/05/2007 Còn cổ phiếu ACB thì chỉ trong vòng 04 tháng kể từ ngày lên sàn đã có chuỗi ngày tăng gấp 2.4 lần từ mức giá 119.000 đồng/cp khi niêm yết lần đầu lên mức đỉnh 280.000 đồng/cp vào ngày 19/03/2007

Tính đến thời điểm hiện tại trong tổng số 32 ngân hàng TMCP đang hoạt động thì có 10 ngân hàng niêm yết chính thức giao dịch trên hai sàn chứng khoán còn các

cổ phiếu ngân hàng còn lại được mua bán trên thị trường OTC

Bảng 2.5: Danh sách cổ phiếu ngân hàng đang niêm yết trên sàn

Ngày niêm yết

Khối lượng (Triệu cp)

Giá đóng cửa

Giá trị vốn hóa (Tỷđ)

Nguồn: www.cophieu68.vn

Mã cổ phiếu

Sàn giao dịch

Niêm yết lần đầu

Ngày đăng: 17/01/2021, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w