Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất địn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÝ THỊ KIM HẰNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế : «THÁCH THỨC NHẬP CƯ ĐẾN VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH » là bài nghiên cứu của tôi và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Nguyễn Chí Hải Các kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
LÝ THỊ KIM HẰNG
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Bảng 2.1: Tình hình dân số và người nhập cư vào thành phố Hồ Chí
Bảng 2.2: So sánh tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỷ lệ nhập cư qua các
Bảng 2.3: Tổng hợp nguồn gốc nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.4: Tổng hợp tỷ lệ dân nhập cư từ các địa phương vào thành
Bảng 2.5: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện
Bảng 2.6: Tỷ lệ phần trăm người di cư và không di cư chia theo trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất, vùng kinh tế-xã hội 57 Bảng 2.7: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7
Bảng 2.8: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2016 phân theo
Bảng 2.9: Lượt điều trị nội trú tại TP.HCM (triệu lượt) 71 Bảng 3.1: Dự báo dân số TP.HCM từ năm 2019 đến 2034 82
Trang 5Hình vẽ, đồ thị Trang
Biểu đồ 2.1: Chỉ số phát triển GDP của TP.HCM qua các năm 41 Biểu đồ 2.2: Dân số thành phố Hố Chí Minh từ nắm 2000 đến 2016
(ĐVT: ngàn người)
46
Biểu đồ 2.3: Tổng hợp tỷ lệ dân nhập cư từ các vùng miền vào TP.HCM
trong giai đoạn 01/04/2015-01/04/2016
51
Biểu đồ 2.4: Phần trăm người di cư so sánh mức thu nhập trước và sau
khi di chuyển năm 2015
52
Biểu đồ 2.6: Tình trạng hôn nhân của người nhập cư vào TP.HCM năm
Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với tổng
dân số TP.HCM qua các năm (%)
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DOANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 5
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 6
5.1 Phương pháp nghiên cứu 6
5.2 Nguồn số liệu: 7
5.3 Phương pháp xử lý số liệu: 7
6 Bố cục đề tài: 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP CƯ VÀ AN SINH XÃ HỘI 9
1.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết về nhập cư 9
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nhập cư 9
1.1.1.1 Các khái niệm liên quan đến nhập cư 9
1.1.1.2 Đặc trưng của người nhập cư 12
1.1.2 Nguyên nhân của hiện tượng nhập cư 12
1.1.3 Phân loại di dân 15
1.1.3.1 Phân loại theo hướng di dân 15
1.1.3.2 Phân loại theo khoảng cách di chuyển 16
1.1.4 Giới thiệu một số hướng tiếp cận lý thuyết về di cư 18
1.2 Cơ sở lý thuyết về an sinh xã hội 23
1.2.1 Tổng quan về an sinh xã hội 23
1.2.2 Các bộ phận cấu thành của an sinh xã hội 24
Trang 71.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội 25
1.3 ASXH ở Việt Nam 26
1.4 Chính sách quản lý của nhà nước đối với di dân 28
1.5 Tác động của nhập cư đến ổn định an sinh xã hội 28
1.6 Bài học kinh nghiệm đối với hiện tượng nhập cư của các quốc gia trên thế giới 29
1.6.1 Singapore 29
1.6.2 Medellin, Colombia 31
1.6.3 New York, Mỹ 33
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG NHẬP CƯ VÀ THÁCH THỨC NHẬP CƯ ĐẾN VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh 38
2.2 Thực trạng nhập cư tại TP.HCM 43
2.2.1 Tổng quát nhập cư vào TP.HCM qua các giai đoạn 46
2.2.2 Nguồn gốc nhập cư 49
2.2.3 Yếu tố tác động đến hiện tượng nhập cư vào TP.HCM 52
2.2.4 Phân tích đặc điểm người nhập cư 54
2.2.3.1 Cơ cấu dân nhập cư theo độ tuổi, giới tính 54
2.2.3.2 Cơ cấu dân nhập cư theo trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật
56
2.2.3.3 Tình trạng hôn nhân và gia đình của người nhập cư 57
2.3 Thực trạng nhập cư đối với vấn đề an sinh xã hội của TP.HCM 59
2.3.1 Nhập cư và việc làm 59
2.3.2 Nhập cư và nhà ở 63
2.3.3 Nhập cư và sức khỏe 67
2.3.4 Nhập cư và môi trường 72
2.4 Đánh giá chung về thách thức từ nhập cư 73
Trang 8Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH AN
SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI NHẬP CƯ TẠI TP.HCM 80
3.1 Dự báo và quan điểm đảm bảo an sinh xã hội tại TP.HCM 80
3.1.1 Dự báo biến động của nhập cư và an sinh xã hội tại TP.HCM 80
3.1.2 Quan điểm vấn đề nhập cư và an sinh xã hội 84
3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với người nhập cư tại TP.HCM 91
3.2.1 Giải pháp đối với cơ chế quản lý 91
3.2.2 Giải pháp đối với quy hoạch của thành phố 91
3.2.3 Điều tiết dòng di cư vào TP.HCM 91
3.2.4 Giải pháp đối với hệ thống ASXH đối với người nhập cư tại TP.HCM
92
3.2.5 Giải pháp đối với các phương tiện giao thông 93
3.2.6 Giải pháp về nhà ở cho người nhập cư 94
3.2.7 Giải pháp về chăm sóc sức khỏe cho người dân nhập cư 915
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân số có những tác động rất quan trọng đến quá trình phát triển Dân số tăng lên nghĩa là phần sản lượng đầu ra mà mỗi người trong xã hội được chia giảm xuống Nói cách khác, tăng trưởng dân số sẽ tác động tới tăng trưởng kinh tế Mối liên hệ giữa dân số và phát triển kinh tế là một thực tế không thể phủ nhận
Đối với nước ta hiện nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề tăng dân số đã giúp cho gia tăng nguồn lao động trẻ, đây chính là nguồn lực chủ yếu cần được phát huy tối đa nhằm mang lại hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội vượt bậc cho đất nước Việc gia tăng dân số có sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, tuy nhiên một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần vào công cuộc gia tăng dân số của một địa phương đó là sự gia tăng dân số cơ học hay cụ thể hóa là hiện tượng nhập cư các vùng miền, từ các quốc gia vào một địa phương
Dẫn đầu trong việc gia tăng người nhập cư hiện nay phải kể đến thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), một trung tâm kinh tế tài chính của quốc gia đã thu hút các nguồn nhân lực, dân cư không những từ các địa phương cả nước mà còn có dân cư các nước trên thế giới, bởi thế gia tăng nhập cư vào thành phố là một điều tất yếu Theo số liệu thống kê của Cục thống kê TP HCM, dân số TP.HCM đến năm 2017 là 8,611.1 ngàn người, mật độ 4,029 người/km2, thuộc diện có mật độ và dân số cao nhất cả nước Với hiện tượng nhập cư, TP.HCM vừa nhận được những lợi thế từ nguồn lao động dồi dào - tiềm lực phát triển mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng vừa phải đối mặt với vấn đề phải tiếp tục nâng cao mức sống, khả năng tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội cho dân số ngày một đông tại thành phố, cho nên các nhà lãnh đạo và quản lý đang mang trong mình một trọng trách rất to lớn trong việc hệ thống và đưa ra những giải pháp hợp lý nhất cho người nhằm giải quyết mâu thuẩn do sự gia tăng ồ ạt dân số mang lại mà tác nhân quan trọng là do việc di cư của người dân mà vẫn duy trì được mục tiêu phát triển bền vững của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung
Trang 10Với sự gia tăng số lượng người nhập cư gia cùng với các áp lực về các vấn đề về an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của thành phố, liệu thành phố Hồ Chí Minh có gánh vác nổi trọng trách to lớn này không? Với hiện trạng này đã hình thành đề tài
“Thách thức nhập cư đến vấn đề an sinh xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh”
nhằm đi sâu và phân tích hiện tượng nhập cư đã làm thay đổi tình hình an sinh xã hội của TP.HCM như thế nào? Đặc biệt là thay đổi hiện trạng của vấn đề việc làm, nhà
ở, y tế và môi trường của thành phố này ra sao? Từ đó nhìn nhận chính sách thực tại và đề xuất các giải pháp với mục đích mang lại hiệu quả tốt nhất cho công cuộc phát triển kinh tế cùng với đảm bảo an sinh xã hội cho dân sinh
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Bởi tính cấp thiết của vấn đề nhập cư và những ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội xung quanh đề tài nhập cư mà đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích về thực trạng này nhằm đưa ra những cái nhìn tổng quan và sâu sắc nhất đến chính sách của nhà nước đối với sự gia tăng nhập cư cùng với thuận lợi và thách thức dành cho địa phương để hiểu hơn về bản chất và định hướng dành cho xu hướng này Cụ thể phải tham khảo đến các đề tài nghiên cứu:
Từ các đề tài nghiên cứu mang tầm quốc tế về nhập cư, tác phẩm nghiên cứu
“How Might Restricting Immigration Affect Social Security’s Finances?” của Damir Cosic and Richard W Johnson (10/2017) cho rằng “Mặc dù nhập cư là vấn đề gây tranh cãi cho chính sách hiện nay, nhưng hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng nhập cư góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Người nhập cư làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế và tăng GDP Họ có xu hướng gia nhập vào các ngành cần công nhân, cho nên ngăn chặn nhập cư sẽ gây ra tình trạng thiếu lao động làm giảm hiệu suất lao động Không có nhập cư, lực lượng lao động của Mỹ có thể sẽ có xu hướng dân số già, làm chậm tăng trưởng kinh tế”; ngoài ra còn có “The Economic and Fiscal Consequences of Immigration” của Blau, Francine D., and Christopher Mackie (2017); “Impact of Immigration on the Distribution of American Well-Being” của Burtless, Gary (2009)
Trang 11Đến các đề tài nghiên cứu tầm quốc gia của Quỹ dân số Liên hợp quốc-Tổng cục thống kê với “Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt” (2011), “Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015: các kết quả chủ yếu” (2016), các điều tra của Tồng cục thống kê sẽ đưa ra các con số cụ thể và chính xác nhất để
bổ sung những khoảng trống về thông tin liên quan đến di cư nội địa, đặc biệt những thông tin về quá trình ra quyết định di cư, sự hài lòng về di cư, tác động của di cư và những thông tin khác về di cư nội địa phục vụ nhằm phục vụ xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách đối với người di cư, đồng thời cung cấp thông tin cho các chương trình nghiên cứu chuyên sâu về di cư nội địa ở Việt Nam
Theo tác giả Lê Văn Sơn trong “Lao động di cư nội địa ở Việt Nam hiện nay” trên Tạp chí Khoa học-xã hội Việt Nam số 1(74) năm 2014 cho biết “Việc người lao động di cư trong bối cảnh hiện nay là tất yếu của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Trong những năm tới, xu hướng người lao động di cư sẽ tiếp tục gia tăng Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp và tính công bằng cho lực lượng lao động tạo ra rất nhiều của cải vật chất này, Nhà nước cũng như các địa phương nơi có người lao động nhập cư cần xây dựng và thực hiện các chính sách đối với người lao động nhập cư một cách đồng bộ, khoa học, thích hợp để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
Tác giả Nguyễn Quới với bài nghiên cứu “Người nhập cư tự do vào TP.HCM”
trên Xã hội học số 3(55) năm 1996 đã nghiên cứu từ tổng quan tình hình nhập cư tại TP.HCM giai đoạn hiện tại đến phân tích chi tiết nhập cư tại quận Gò Vấp với việc
đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, nguồn gốc nhập cư vào quận Gò Vấp, phân tích tình hình kinh tế- điều kiện cuộc sống của người dân nhập cư nơi đây Từ đó người đọc có thể khái quát được phương diện sinh hoạt, lao động, sức khỏe và cư trú thực tại của người dân nhập cư như thế nào và những khó khăn mà họ đang mắc phải
“Đô thị hóa với vấn đề dân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh” của Ths Lê
Văn Thành thuộc Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM năm 2010 Tác giả đã nhận
định: “Hai thách thức nổi bật của việc phát triển đô thị bền vững ở thành phố Hồ Chí
Trang 12điều tra dân số năm 2009) và ngày càng có khả năng tăng nhanh và tình trạng nhập
cư vào thành phố tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây Tỷ lệ tăng cơ học vượt trên tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số thành phố Nếu đối với cả nước, mức sinh là mối quan tâm hàng đầu trong vấn đề phát triển dân số, thì ở TP.HCM vấn đề dân nhập
cư đáng được đặt lên vị trí ưu tiên.”
“Lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh - Hiện trạng và những vấn đề đặt ra” của Ths Đặng Ngọc Hoàng - Trường đại học Hồng Bàng trên trang Khoa học
- Chính trị số 02/2012, tác giả cho rằng “Lao động nhập cư vào Tp Hồ Chí Minh với
số lượng lớn, chủ yếu trẻ, khỏe là một thuận lợi trong quá trình phát triển, đặc biệt khi các khu công nghiệp, khu chế xuất của Thành phố được mở ra đang thiếu nhiều nhân công, lao động Nhưng bên cạnh thuận lợi đó, lực lượng lao động di cư ngày càng tăng đang tạo ra áp lực cho Thành phố phải giải quyết như: nhà ở, học tập, chữa bệnh, các nhu cầu về văn hóa, tinh thần, trật tự an ninh xã hội”
“Lao động nhập cư và những vấn đề đặt ra” của Lê Thị Hờ Rin trên Tạp chí khoa học Xã hội TP.HCM thuộc tập số 3 số 199 (2015) đã tổng quan các thành phần dân nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh cùng với tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn TP.HCM và tiêu cực đến điều kiện nhà ở, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, giáo dục, khám chữa bệnh, việc cung cấp điện, nước, xử lý rác thải và thoát nước Đồng thời tác giả đã tổng hợp những chính sách hiện hành có tác động đến vấn đề nhập cư và phân tích hiện trạng lao động nhập cư tại TP.HCM trong giai đoạn của bài nghiên cứu
“Tình hình dân nhập cư của thành phố Hồ Chí Minh thời kì 1999-2009” của
Huỳnh Phẩm Dũng Phát, Phạm Đỗ Văn Trung, Nguyễn Ngọc Hoàng Vân trên Tạp
chí Khoa học Việt Nam thuộc tập 14, số 2 (2017) kết luận “Kết quả hai cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở gần nhất cho thấy TPHCM là địa phương có quy mô dân số lớn nhất cả nước và đang có sự gia tăng nhanh chóng, chủ yếu là do gia tăng cơ học Điều này có thể xem là tất yếu vì đây là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học kĩ thuật lớn nhất nước ta Dân cư từ các vùng khác nhau của cả nước di cư đến để học tập, lao động và sinh sống Vì thế, vấn đề gia tăng cơ học nói chung và dân
Trang 13nhập cư nói riêng là mối quan tâm hàng đầu trong chính sách phát triển dân số ở TPHCM”
Tổng quan các đề tài trong nước chỉ mới đề cập đến khía cạnh lao động nhập
cư, chưa có nghiên cứu cụ thể có tính hệ thống và cập nhật về tác động của dòng nhập
cư đến tình hình an sinh xã hội, do đó người viết đã đưa ra đề tài này nhằm có đánh giá rõ hơn về bối cảnh nhập cư hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh và tổng quan từ các dòng nhập cư đó thì thành phố có những tác động và chuyển biến như thế nào về mặt đời sống kinh tế- xã hội
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung nghiên cứu của đề tài là thực trạng tình hình nhập cư trên địa
bàn TP.HCM nhằm nhận dạng những thuận lợi mà người nhập cư mang lại cho thành phố và những thách thức mà người nhập cư phải đối mặt Trên cơ sở đó người viết
đề xuất quan điểm và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đối với phát triển kinh tế-xã hội, nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu cụ thể sau đây:
Hệ thống hóa và xây dựng khung lý thuyết về nhập cư, an sinh xã hội và các tác động của nhập cư
Đánh giá tình hình nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
Phân tích thực trạng tác động của nhập cư đến an sinh xã hội ở TP.HCM bao gồm: việc làm, nhà ở, y tế và môi trường
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn người viết đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của lực lượng người nhập cư
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là những thách thức của hiện tượng nhập cư đến tình hình an sinh xã hội tại TP.HCM
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: nghiên cứu lực lượng nhập cư trên địa bàn TP.HCM, bên cạnh đó, người viết tìm hiểu nguồn gốc nhập cư vào TP.HCM nên có phân tích thêm dữ
Trang 14giá khách quan về tình hình nhập cư tại TP.HCM, người viết cập nhật kinh nghiệm, chính sách quản lý nhập cư của một vài địa phương, quốc gia trên thế giới
+ Thời gian: người viết tập trung phân tích và nghiên cứu bài luận trong giai đoạn từ năm 2000-2017 để rút ra các định hướng, giải pháp dành cho người nhập cư trên địa bàn nghiên cứu, bên cạnh đó mở rộng thu thập các dữ liệu những năm trước
2000 nhằm mục đích có cơ ở so sánh, phân tích cho đề tài đồng thời dựa trên cở sở các nghiên cứu về dân số quốc gia người viết đưa ra ý kiến bản thân về dự báo dân số, nhập cư vào TP.HCM trong thời gian sắp tới
+ Nội dung: để nghiên cứu về vấn đề nhập cư tại TP.HCM thì hiện tại có rất nhiều khía cạnh để đề cập như: chính sách cho người nhập cư, các yếu tố của an sinh
xã hội chịu tác động của nhập cư (an ninh xã hội, giáo dục, ), tuy nhiên, trong phạm
vi của luận văn chỉ làm rõ bức tranh về lao động nhập cư vào TP.HCM với các khía cạnh: việc làm, nhà ở, y tế và môi trường, nhận thức được những ưu và nhược của các khía cạnh này đến tình hình đời sống an sinh xã hội của người dân tại thành phố, từ đó có những giải pháp mang tính thiết thực nhất, phù hợp nhất với hình hình kinh tế - xã hội hiện tại để đạt được hiệu quả không những trong quản lý nhập cư mà còn mang đến cuộc sống an yên cho người dân Và vì giới hạn về khả năng và dữ liệu cho nên người viết không đi sâu và phân tích chính sách và các yếu tố khác về nhập cư
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu hiện trạng nhập cư người viết áp dụng các phương pháp:
Thống kê số liệu: Từ các nguồn tài liệu sẵn có, người nghiên cứu có thể tổng hợp được các dữ liệu thứ cấp cần thiết từ những nguồn tài liệu, số liệu từ các công trình nghiên cứu, cơ quan quản lý,… do đó tác giả thực hiện tổng hợp dữ liệu từ các bài nghiên cứu được công nhận và đa số thống kê số liệu dựa vào số liệu của Tổng cục Thống kê và cục Thống kê TP.HCM để lên bảng số liệu, đồ thị nhằm phục vụ cho việc phân tích theo định hướng của đề tài
Trang 15 Phương pháp thống kê mô tả: Từ số liệu thống kê lên các bảng, đồ thị, tác giả thực hiện phân tích dựa vào các số liệu thực tế để đưa ra đánh giá và kết luận dành cho số liệu đó
Phương pháp so sánh: Tiếp cận so sánh cho phép quan sát một sự vật trong tương quan Từ các sự vật đối chứng, người nghiên cứu có thể dẫn đến kết quả là nhận thức được tính cá biệt trong đối tượng nghiên cứu Với các số liệu đã thống
kê, tác giả thực hiện so sánh số liệu giữa các năm, các giai đoạn nhằm có đánh giá hợp lý cho việc phân tích đề tài
Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: Phương pháp này
phân chia đối tượng thành những phân lập có bản chất khác biệt nhau Qua phân tích riêng biệt từng bộ phận, người nghiên cứu tổng hợp để tìm mối liên hệ tất yếu giữa các bộ phận đã được phân tích Qua đó hình thành được cái nhìn tổng quan về bản chất đối tượng nghiên cứu
5.2 Nguồn số liệu:
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp từ các Niên Giám thống kê qua các năm của cục thống kê TP.HCM, các số liệu báo cáo số liệu của Sở Lao động-Thương binh-Xã hội TP.HCM, Sở y tế TP.HCM, Sở Tài nguyên - môi trường và thu thập dữ liệu từ Sở Thương binh - Lao động và Xã hội TP.HCM Ngoài ra còn có số liệu thống kê và các ấn phẩm điều tra của Tổng cục thống kê: điều tra dân số và nhà ở qua các kỳ, điều tra
di dân,…các bài nghiên cứu của các tổ chức World Banks, ActionAid,…để phục vụ cho phân tích của đề tài
5.3 Phương pháp xử lý số liệu:
Phương pháp xử lý số liệu dựa vào các dữ liệu định tính để thống kê lên bảng số liệu và biểu đồ để minh họa rõ nhất các biến động của nhập cư và an sinh xã hội nhằm làm rõ các vấn đề mà đề tài cần đề cập và phân tích
6 Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Trang 16Chương 2: Thực trạng nhập cư và thách thức nhập cư đến vấn đề an sinh xã hội tại TP.HCM
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với người nhập cư tại TP.HCM
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP CƯ VÀ AN SINH
XÃ HỘI
1.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết về nhập cư
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nhập cư
1.1.1.1 Các khái niệm liên quan đến nhập cư
Di cư
Việc gia tăng dân số có thể có những tác động tích cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của một khu vực, quốc gia Một trong những nguyên nhân cho việc gia tăng dân số đó là do tác động của hiện tượng di cư
Tại mục 7 Điều 1 Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, số UBTVQH11, ngày 09 tháng 01 năm 2003 đã nhận định “Di cư là sự di chuyển dân số từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ địa phương này sang địa phương khác”.(Pháp lệnh số 06/2003/PL-UBTVQH11)
06/2003/PL-Theo khái niệm của Liên hợp quốc, di cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là sự di chuyển với khoảng cách tối thiểu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên Khái niệm của Liên hợp quốc đã loại bỏ những người sống lang thang, dân du mục và di cư theo kiểu con lắc (đi về hằng ngày) (Nguyễn Duy Thụy, 2015)
Theo Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (trong Điều tra mức sống dân cư năm 1994)
đã định nghĩa: Di cư là sự di chuyển của người dân từ chỗ này sang chỗ khác, nghĩa là từ một huyện, tỉnh, nước sang một huyện, tỉnh, nước khác trong thời gian một năm hoặc hơn Những người đang trong quận đội hoặc di chuyển theo mệnh lệnh quân đội không được coi là người di cư Như vậy, các tiêu chuẩn chủ yếu xác định cư trong định nghĩa của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tương tự định nghĩa của Liên hợp quốc, bao gồm: tiêu chuẩn không gian và tiêu chuẩn thời gian.(Nguyễn Duy Thụy, 2015)
Tùy theo lĩnh vực, tùy theo khía cạnh, mỗi nhà nghiên cứu, tổ chức có những
Trang 18điều mang tính chất thay đổi về không gian địa lý, thời gian của con người Như vậy có thể hiểu rằng di dư là sự thay đổi chỗ ở của một cá nhân hay nhóm người trong một khoảng thời gian xác định
Di dân
Biến động dân số bao gồm 2 cấu thành cơ bản là tăng tự nhiên và tăng cơ học Tăng trưởng dân số tự nhiên gắn liền với quá trình sinh học sinh ra, tồn tại và mất đi của con người theo thời gian Quá trình này thông qua hiện tượng sinh và chết Ngoài
ra biến động dân cư còn do tác động cơ học của quá trình di dân Trong mọi quốc gia, những luồng di cư tạo nên sự phân bố lại dân cư, đồng thời làm tăng giảm mật
độ dân cư giữa các vùng miền địa lý Di dân về bản chất không phải là hiện tượng sinh học như sinh, chết Di dân có thể diễn ra nhiều lần, lặp đi lặp lại trong cuộc đời của một cá nhân (Đặng Nguyên Anh, 2006)
Di dân là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia
Di dân là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ quá trình di chuyển về mặt vị trí địa lý, trong nội bộ một nước (internal migration) hoặc giữa các quốc gia (external migration hay international migration), của dân cư và/hoặc nhóm dân cư Cho đến nay, những nghiên cứu về vấn đề di cư chủ yếu tập trung vào quá trình di chuyển của dân cư từ nông thôn ra thành thị bởi nó gắn liền với nhiều hiện tượng kinh tế, xã hội quan trọng đang diễn ra tại các quốc gia đang phát triển như quá trình đô thị hóa hay thất nghiệp thành thị.(Hội luật gia Việt Nam, 2015)
Theo TS Nguyễn Duy Thụy - Di cư của người dân tộc thiểu số đến Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 2015 đã nhận định “di dân là một hiện tượng kinh tế
- xã hội gắn liền với sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới Quá trình di dân có những nét khác biệt giữa các nước và các vùng về hướng, quy mô cũng như hiệu quả kinh tế của nó Không phải bất kỳ sự dịch chuyển nào của dân cũng là di dân mà di dân là sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ.” (Nguyến Duy Thụy, 2016)
Trang 19Di dân là quá trình phân bố lại lực lượng lao động và dân cư, và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Tại các nước đang phát triển, các đô thị lớn luôn luôn là điểm thu hút các luồng di chuyển Ngược lại, ở các nước phát triển người dân từ nông thôn có xu hướng di chuyển đến các đô thị nhỏ vệ tinh xung quanh những đô thị lớn Di dân và quá trình tập trung dân số ở địa bàn nơi đến luôn đặt ra những thách thức mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường của các vùng miền đất nước (Đặng Nguyên Anh, 2006)
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định (Đặng Nguyên Anh, 2006)
Theo Henry S.Shrylock, di dân là một hình thức di chuyển về địa lý hay không gian kèm theo sự thay đổi nơi ở thường xuyên giữa các đơn vị hành chính(Henry S.Shrylock, Jacob S Siegel, Elizabeth A Larmon, 1973, tr 579) Theo ông những thay đổi nơi ở tạm thời, không mang tính lâu dài như thăm viếng, du lịch, buôn bán, làm ăn, kể cả qua lại biên giới không nên phân loại là di dân Theo tác giả, di dân còn phải gắn liền với sự thay đổi các quan hệ xã hội của người di chuyển Tóm lại, di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những chuẩn mực về không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú
Như vậy di cư và di dân đều thể hiện nội dung di chuyển của một bộ phận dân
cư theo không gian và thời gian xác định nhằm những mục đích khác nhau cùng có những tác động đến nơi đi và nơi đến của bộ phận dân cư đó
Do đó có thể hiểu, nhập cư là sự di chuyển dân cư, lao động đến một nơi cư trú nhất định có thể đến từ các địa bàn khác trong cùng một vùng hãy lãnh thổ của một quốc gia Nhập cư vào các thành phố lớn, hay đến các khu vực miền núi cao, đất rộng người thưa là những hình thái phổ biến ở các quốc gia đang phát triển hiện
Trang 201.1.1.2 Đặc trưng của người nhập cư
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau khi xem xét cái niệm di dân, di cư nhưng có thể tóm lược một số đặc trưng cơ bản của người dân di cư như sau:
Thứ nhất, người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến nơi nào
đó và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện mục đích đó Nơi xuất phát là đầu đi và nơi ở mới là đầu đến Tính chất thay đổi nơi cư trú này chính là điều kiện cần để xác định di dân
Thứ hai, khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí quan
trọng để xác định di dân Thông thường, tùy theo mục đích nghiên cứu và loại hình
di dân, thời gian đó có thể là một số năm, một số tháng, thậm chí là một số tuần
Thứ ba, có thể đưa thêm một số đặc điểm khác nữa khi xem xét di cư như sự
thay đổi các hoạt động sống thường ngày, thay đổi các quan hệ xã hội Di dân gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề nghiệp, sở thích, lối sống,…Tuy nhiên, đây không nhất thiết là những tiêu chí bắt buộc trong việc xác định khái niệm di dân.(Đặng Nguyên Anh, 2006)
1.1.2 Nguyên nhân của hiện tượng nhập cư
Năm 1966 Everetts Lee đã xây dựng lý thuyết “hút - đẩy” trên cơ sở tóm tắt quy luật của di dân và phân loại các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến di dân E.Lee đưa
ra những quan điểm về lực hút và lực đẩy lý giải nhân tố ảnh hưởng đến quá trình di dân Các điều kiện khó khăn ở nơi gốc (nơi xuất cư) là nhân tố “đẩy” của yếu của việc xuất cư, trong khi cải thiện điều kiện sống tại nơi đến (nơi nhập cư) là nhân tố
“hút” quan trọng của việc nhập cư
Nhìn chung, quyết định di dân có thể chịu tác động bởi khá nhiều nhân tố khác nhau, di dân - di cư không đơn thuần vì mục đích nâng cao điều kiện sống (công
ăn, việc làm…) mà còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố (chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân tộc…) Đối với mỗi người dân, di cư gắn liền với những thay đổi lớn trên nhiều phương diện của cuộc sống: kinh tế, xã hội, giáo dục, môi trường,…, sự khác biệt kinh tế và phi kinh tế giữa các vùng miền, giữa các quốc gia, giữa những nhóm người, giữa nơi họ đi và nơi họ đến Vì vậy, di dân thường được xem là một trong
Trang 21những quyết định trọng đại, “của cả cuộc đời”, đối với một người và/hoặc với một gia đình
Trên phương diện vi mô, mỗi cá nhân thường quyết định rời bỏ quê hương đến một nơi khác thông thường vì mưu cầu (hay kỳ vọng) một cuộc sống tốt đẹp hơn (nhất là về mặt kinh tế)
Trên phương diện vĩ mô, di dân thông thường được khích lệ bởi sự kết hợp hai yếu tố Thứ nhất là quá trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại quốc tế ngày càng tăng, nhất là giữa các quốc gia giàu Yếu tố thứ hai xuất phát từ phía các quốc gia có thu nhập thấp, khi tốc độ tăng trưởng của lực lượng lao động tại các quốc gia này quá cao so với dự hạn chế về cơ hội việc làm (cả về số việc làm tạo ra và tiền lương có được
Trước đây, các nguyên nhân tác động đến quyết định di dân cũng được nghiên cứu trên nhiều phương diện khác (phi kinh tế) như: (Ngô Thắng Lợi,2012)
Nhân tố xã hội, mong muốn thoát khỏi những rào cản truyền thống trong các tổ chức xã hội xưa cũ
Nhân tố tự nhiên, thường liên quan đến các bất lợi (thậm chí là thảm họa) của tự nhiên như lụt lội, hạn hán,…
Nhân tố liên quan đến nhân khẩu học, ví dụ như tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh giảm xuống đồng thời với tăng trưởng dân số nhanh trong thời gian dài
Nhân tố văn hóa, mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình hay sự hấp dẫn của cuộc sống “phồn hoa đô thị”
Các nhân tố truyền thông, điều kiện giao thông, cơ sở hạ tầng, hệ thống giáo dục, sự xuất hiện và phát huy ảnh hưởng của đài, báo, truyền thanh, truyền hình và quá trình hiện đại hóa nói chung
Tuy nhiên đến hiện nay, các nhà kinh tế điều đồng ý rằng, các nhân tố trên phương diện kinh tế mới là trọng tâm để lý giải quá trình di dân.(Ngô Thắng Lợi, 2012)
Thứ nhất, tiền lương Về cơ bản, người lao động khi đi làm, với cùng một
Trang 22Theo giả định “tiền lương điều chỉnh linh hoạt” của kinh tế học tân cổ điển và lý thuyết về “điểm cân bằng thị trường hoàn hảo”, di dân chính là một quyết định kinh tế hợp lý, hợp lý với cá nhân người di dân cũng như “hợp lý” với nền kinh tế nói chung Về cơ bản, di dân theo quan điểm tân cổ điển chịu tác động bởi các nhân tố như sau:
Cơ hội kinh tế tại “nơi đến” được cải thiện, mức lương cao hơn hoặc tỷ
lệ thất nghiệp, sẽ tăng khả năng di cư của người dân khi người ta thu được lợi ích ròng từ quyết định di dân;
Cơ hội kinh tế tại “nơi đi” được cải thiện, ngược lại, sẽ giảm khả năng
di cư khi lợi ích ròng từ quyết định di cư bị giảm xuống;
Chi phí di dân tăng lên, cả về khía cạnh tài chính cũng như các yếu tố tâm lý, xã hội khác, cũng khiến cho lợi ích ròng của quyết định di cư giảm xuống và
do đó hạn chế quyết định di dân
Thứ hai, “thu nhập kỳ vọng” và mô hình của Todaro Nếu chỉ với nhân tố thứ
nhất, thị trường lao động sẽ “nhanh chóng” đạt đến điểm cân bằng tối ưu, quá trình
di dân khi đó sẽ ngay lập tức dừng lại (ít nhất là cho đến khi có một cú shock ngoại sinh tác động tới thị trường lao động) Sẽ thật khó nếu chỉ dùng nhân tố thứ nhất để giải thích vì sao người ta vẫn tiếp tục chuyển tới những nơi đang tồn tại hiện tượng thất nghiệp tràn lan mà chẳng biết mình có tìm việc làm hay không Theo đó, mô hình Todaro nhận định quá trình di chuyển diễn ra dựa trên sự khác biệt về thu nhập kỳ vọng chứ không chỉ đơn thuần là thu nhập thực tế giữa nông thôn và thành thị Người dân sẽ đưa ra quyết định di dời dựa trên việc phân tích các cơ hội việc làm sẵn có trên hai thị trường lao động tương ứng, quyết định xem họ sẽ tham gia vào thị trường nào trên cơ sở tối đa hóa thu nhập kỳ vọng, được xác định dựa trên chênh lệch thu nhập thực tế bình quân việc làm giữa nông thôn và thành thị cũng như khả năng kiếm được việc làm trên thị trường lao động thành thị
Ngoài ra, để phân tích rõ nguyên nhân của di dân thì đô thị hóa là yếu tố chủ yếu tạo nên hiện tượng di dân từ nông thôn lên đô thị Đô thị hóa đã làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do phải dành quỹ đất cho các khu đô thị và công
Trang 23nghiệp Thiếu đất dành cho sản xuất, người dân nông thôn thiếu việc làm, dẫn đễn tình trạng thất nghiệp xảy ra Do yếu tố khách quan, trong đó chủ yếu là do người dân không có thói quen làm việc theo phong cách công nghiệp, thiếu lao động có tay nghề cao, dẫn đến họ không thể tham gia vào lực lượng lao động tại các khu công nghiệp Đồng thời, người nông dân cũng không có tư liệu và trình độ để tham gia lực lượng làm dịch vụ công nghiệp, kinh doanh thương mại Như vậy, người nông dân chỉ còn một con đường duy nhất là lên đô thị để tìm việc làm Những người nông dân này chủ yếu là lực lượng lao động chính của nông thôn, khi di dân lên đô thị làm việc, họ cũng là nguồn lực cơ bản để làm kinh tế gia đình Nhờ có những nguồn lực kinh tế từ đô thị mang về nông thôn, tình hình nông thôn cũng được cải thiện đáng
kể, trong đó có vấn đề xây dựng nông thôn mới
1.1.3 Phân loại di dân
Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau, tùy vào mục đích nghiên cứu và thậm chí theo từng người làm nghiên cứu khác nhau Cách phân loại, tuy vậy chỉ có tính chất tương đối và không tách bạch với nhau Sau đây là một số phân loại cơ bản:
1.1.3.1 Phân loại theo hướng di dân
Di dân nội địa
Sự thay đổi phân bố về mặt không gian của dân số - kết quả của những dòng người di chuyển từ nông thôn ra thành thị và quá trình đô thị hóa - đã và đang làm thay đổi sâu sắc bản chất và diện mạo của các vấn đề như việc làm, xóa đói giảm nghèo cũng như các vấn đề liên quan tới môi trường
Tại các quốc gia phát triển, sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp (xuôi và ngược) với khu vực nông nghiệp Đồng thời, thu nhập
hộ gia đình ở thành thị tăng lên sẽ tạo động lực cho quá trình phát triển của khu vực nông thôn Tuy nhiên, khác với các quốc gia phát triển, tăng trưởng dân số đô thị quá nhanh và quá trình di dân với quy mô lớn từ nông thôn ra thành thị khiến các quốc qua đang phát triển vấp phải tiêu cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Trang 24hướng giảm, do đó, người dân nông thôn sẽ có xu hướng di dời đến các khu đô thị trung tâm Tuy nhiên, khả năng tiếp cận việc làm của người dân di cư sẽ khó khăn bởi sự phát triển cuả khu vực sản xuất phi nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ còn khá nhiều bất cập Như vậy, triển vọng để người dân di cư có thể cải thiện được cuộc sống của họ một cách lâu dài là vô cùng hạn hẹp
1.1.3.2 Phân loại theo khoảng cách di chuyển
Đây là cách phân loại quan trọng thông qua sự phân biệt di dân xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến Theo địa bàn nơi đi (xuất cư) và nơi đến (nhập cư), thông thường người ta còn phân loại di dân theo loại hình địa bàn nơi cư trú: (Đặng Nguyên Anh, 2006)
Di dân nông thôn - đô thị
Di dân nông thôn - nông thôn
Di dân đô thị - nông thôn
Di dân đô thị - đô thị
1.1.3.3 Phân loại theo tính chất di dân
Cách phân loại di dân này dựa trên tính chất tự nguyện hay ép buộc của di dân, phân biệt giữa di dân tự nguyện và di dân không tự nguyện (ép buộc) Di dân tự nguyện là trường hợp người di chuyển tự nguyện di chuyển theo đúng mong muốn hay nguyện vọng của mình Trong khi đó, di dân ép buộc hay còn gọi là di dân cưỡng
ép diễn ra trái với nguyện vọng di chuyển của người dân Loại hình di chuyển này
Trang 25thường mang lại những hậu quả không mong muốn cho xã hội và cần được hạn chế tối đa
1.1.3.4 Phân loại theo độ dài thời gian cư trú
Di chuyển ổn định: bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên
và nơi làm việc, vơi mục đích định cư sinh sống lâu dài tại nơi mới Phần lớn người dân di cư là do điều động công tác, người tìm cơ hội việc làm mới và thoát ly gia đình,…Những đối tượng này thường không quay trở về sống tại quê hương cũ
Di chuyển tạm thời: sự vắng mặt tại nơi ở gốc là không lâu, khả năng quay
trở về là chắc chắn Loại hình này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo thời vụ, đi công tác dài ngày, hoặc như trường hợp ra nước ngoài học tập rồi về nước
Ngoài ra còn có các loại hình di dân mùa vụ, di chuyển con lắc là dòng di chuyển của cư dân nông thôn vào thành phố trong thời kỳ những dịp nông nhàn, hoặc trong điều kiện thiếu việc làm thường xuyên, việc làm có thu nhập Hình thái
di cư này có xu hướng gia tăng trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước đang phát triển
1.1.3.5 Phân loại theo đặc trưng di dân
Di dân có tổ chức: là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế hoạch
và các chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và
tổ chức, chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể xã hội Về nguyên tắc, người dân di chuyển có tổ chức được nhà nước và chính quyền địa phương, nơi nhập cư giúp đỡ Di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn cho những người nhập cư, tăng nguồn lực sức lao động địa phương, có thể tránh được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái Trong lịch sử di dân quốc tế, chính phủ và các tổ chức xã hội hoặc phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ người di chuyển
Di dân tự phát: di dân không có tổ chức hay còn gọi là di dân tự phát đã trở
thành một hiện tượng kinh tế - xã hội ở Việt Nam Hình thái di dân này mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và
Trang 26Di dân tự phát phản ảnh tính năng động và vai trò độc lập của hộ cá nhân và gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm (Đặng Nguyên Anh, 2006)
1.1.4 Giới thiệu một số hướng tiếp cận lý thuyết về di cư
Nghiên cứu di dân trên thế giới mới chỉ bắt đầu dưới thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa ở phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau (địa lý nhân văn, kinh tế, lịch sử, xã hội học, nhân học, thống kê, toán học,…) Mặc dù các lý thuyết này có thể được vận dụng cho các luồng di dân khác nhau (nông thôn – thành thị, nông thôn – nông thôn, di dân trong nước, di dân quốc tế,…) song hầu hết các lý thuyết về di dân đều tập trung trả lời câu hỏi là: Tại sao người dân di chuyển? Các nhân tố nào dẫn đến quyết định di chuyển? Tại sao trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, người di cư vẫn tồn tại và vươn lên? Di dân có tính chuyển chọn ra sao? Có sự khác biệt cơ bản nào giữa người di cư và người ở lại, mối liên hệ giữa các cộng đồng dân cư?
Lý thuyết quá độ di dân đã chỉ ra tầm quan trọng tương đối của các hình thái
di chuyển khác nhau tương ứng với trình độ phát triển của xã hội Tương tự như lý thuyết quá độ về dân số, và bị chi phối mạnh mẽ của thuyết hiện đại hóa, lý thuyết này phân chia các giai đoạn cơ bản phát triển kinh tế - xã hội tương ứng với quy mô
di dân: giai đoạn đầu của các xã hội truyền thống trong đó quy mô di dân bị hạn chế, diễn ra dưới hình thức nhỏ lẻ Sau đó đến giai đoạn chuyển tiếp của xã hội được, đặc trưng bởi thời kỳ đầu công nghiệp hóa và quá trình đô thị hóa nhanh chóng là sự gia tăng nhanh về quy mô di dân (đặc biệt là di dân nông thôn – đô thị) trong giai đoạn tiền công nghiệp hóa Sau đó, bước sang giai đoạn phát triển cao ở các xã hội hiện đại, di dân ra đô thị đạt đến ngưỡng bão hòa Dòng di dân này được thay thế bởi quá trình phi đô thị hóa với sự mở rộng các hình thái di chuyển quốc tế và đến các khu vự ngoại vi Điều đáng lưu ý từ lý thuyết quá độ di dân là các hình thức và quy mô di dân khác nhau có thể đồng thời xuất hiện trên cùng một khu vực, và trong cùng một thời kỳ nhất định
Từ hướng tiếp cận của kinh tế học, lý thuyết kinh tế về di dân còn xem xét quá trình di dân từ hai phía là cung (supply) và cầu (demand) về lao động – việc làm
Trang 27Hướng tiếp cận lý thuyết này cho rằng sự tồn tại nhu cầu lao động dịch vụ ở đầu đến là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng khả năng cung cấp lao động và dịch vụ thông qua
di cư Todaro (1971) đã phát triển lý thuyết kinh tế về di dân và giải thích theo sự chênh lệch về tiền lương và cơ hội việc làm giữa hai khu vực nông thôn và đô thị Con người ta về cơ bản sẽ có xu hướng chuyển đến những nơi có điều kiện kinh tế tốt hơn Theo Todaro, nơi nào có điều kiện kinh tế tốt hơn sẽ khiến cho di dân chuyển
về nơi đó mạnh hơn Ngày hôm nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng quốc tế hóa với mô hình đầu tư, quản lý tài chính, huy động vốn xuyên quốc gia, sức lao động và các dịch vụ mà người lao động di cư đem lại cũng vận hành theo xu hướng toàn cầu Kết quả là di cư lao động quốc tế, vượt quá ranh giới và khuôn khổ biên giới của một quốc gia không còn là hiện tượng ít thấy trong khu vực Châu Á cũng như trên thế giới hiện nay
Tiếp theo trường phái lý thuyết kinh tế về di dân, lý thuyết hai khu vực kinh tế được hình thành nhằm lý giải quá trình di chuyển dân số và lao động từ khu vực truyền thống sang khu vực hiện đại của nền kinh tế, nơi đó có mức tiền lương cao hơn nhiều hơn Nói một cách khái quát hóa, di dân diễn ra từ khu vực truyền thống, ngoại vi đến khu vực hiện đại của nền kinh tế Tuy nhiên, trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng và đình đốn, các dòng di dân lao động tập trung vào khu vực kinh tế phi chính thức Điều này xảy ra ngay cả trong những quốc gia phát triển, ở đó các luồng
di chuyển lao động và dân cư đến các khu vực truyền thống và hiện đại đan xen với nhau, và cả hai hình thức này đều diễn ra ngay ở tại trung tâm cũng như ngoại vi
Lý thuyết của Ravenstein
Đây là lý thuyết mở đầu cho việc xây dựng các lý thuyết xã hội học về di dân, được E.G.Ravenstein (1885) phát triển và thể hiện dưới các quy luật di dân có liên quan đến quy mô dân số, mật độ, khoảng cách di dân Điểm mạnh của lý thuyết này mang tính khái quát hóa những quy luật di dân Cụ thể là:
- Phần lớn các cuộc di dân diễn ra với khoảng cách ngắn
- Quy mô di dân tỷ lệ thuận với dân số gốc nơi người dân ra đi
Trang 28- Đối với mỗi dòng di dân điều tồn tại những dòng di chuyển ngược để bù đắp lại
- Trong một quốc gia, những người dân gốc thành phố, thị xã thường ít di chuyển hơn so với những người ở các vùng nông thôn
- Sự di chuyển từ cùng sâu, vùng xa vào thành phố phần lớn diễn ra theo các giai đoạn
- Động lực chính của di dân là động cơ kinh tế
- Phần lớn nữ giới di dân theo khoảng cách ngắn hơn so với nam giới
Những năm sau đó, một số nhà nghiên cứu khác đã dựa trên các quy luật của
di dân nói trên của Ravenstein để xây dựng và phát triển sâu thêm những lý thuyết di dân mới như lý thuyết lực hấp dẫn xem xét mối quan hệ nghịch giữa số người di chuyển và khoảng cách di chuyển, hoặc lý thuyết cơ hội sống, cho rằng khoảng cách
cơ học không có ý nghĩa quan trọng, người di cư lựa chọn nơi định cư tại nơi có các
cơ hội cuộc sống mà họ chấp nhận được, cho dù khoảng cách di chuyển có thể lớn Đó là cơ sở hình thành nên quyết định di dân
Lý thuyết đô thị hóa quá mức ra đời nhằm nhấn mạnh mối quan hệ giữa đô thị hóa và thu nhập bình quân Lý thuyết này cho rằng những người dân nông thôn quyết định ra đi bởi họ bị việc làm với đồng lương cao ở thành phố hấp dẫn thu hút Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro hay bị thất nghiệp ngay tại thị trường lao động ở thành phố trong thời gian chờ đợi cơ hội thu nhập và việc làm với mức lương cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn
Lý thuyết “hút – đẩy”: Everetts Lee (1966) đã xây dựng lý thuyết này trên
cơ sở tóm tắt các quy luật di dân và phân loại các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình di chuyển Ông thừa nhận rằng động lực di dân bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội ở những cấp độ khác nhau, song theo ông có bốn nhóm yếu tố cơ bản cần xem xét khi phân tích quyết định di cư Đó là những nhân tố cơ bản liên quan đến nơi đi (nơi xuất phát), nơi đến, các trở lực trung gian ngăn cản sự di dân giữa nơi đi và nơi đến mà người di dân phải vượt qua Lý thuyết này còn nhấn mạnh vai trò của các yếu tố cá nhân mang tính đặc thù của người di cư Thực tế cho
Trang 29thấy con người di cư vì nhiều lý do khác nhau, và những lý do có thể hình thành và gây ảnh hưởng ở nơi đi hay nơi đến
Các lực hút tại các vùng có dân chuyển đến (đầu đến) bao gồm:
- Đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, khí hậu ôn hòa, môi trường sống thuận lợi hơn
- Cơ hội sống thuận tiện, dễ kiếm việc làm, thu nhập cao, điều kiện sinh hoạt ổn định, có triển vọng cải thiện đời sống hơn,…
- Môi trường văn hóa – xã hội tốt hơn nơi cũ
- Các lực đẩy tại những vùng dân chuyển đi (đầu đi) có thể là do:
- Điều kiện sống quá khó khăn, thu nhập thấp, khó kiếm việc làm Do thiên tai, hạn hán, lũ lụt, hỏa hoạn, dịch bệnh, mất mùa,…
- Đất canh tác ít, bạc màu, không có vốn và kỹ thuật để chuyển đổi ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống
- Mong muốn tìm đến vùng đất hứa có khả năng kiếm việc làm, tăng thu nhập, học hành của con cái, mong muốn cải thiện cuộc sống của thế hệ tương lai
- Do nơi ở cũ bị giải tỏa, di dời nhằm mục đích lấy mặt bằng xây dựng đường xá, các công trình công cộng, các dự án phát triển và dân sinh
- Dưới tác động của các chương tình, chính sách di chuyển điều động lao động và đân cư với sự hỗ trợ, chỉ đạo của Nhà nước như chương trình kinh tế mới, định canh định cư, di dân ra biên giới, hải đảo
- Ngoài ra cần kể đến một số nguyên nhân mang bản chất xã hội nhưng tồn tại
ở cấp cá nhân có ảnh hưởng đến nhu cầu di dân
Đây là những yếu tố phi kinh tế có tính đặc thù riêng của người di chuyển như:
- Nhu cầu được thường xuyên sống gần gũi, liên hệ với thân nhân, đoàn tụ gia đình tại nơi ở mới
- Mong muốn rời khỏi nơi ở cũ để thoát khỏi những kỹ niệm cũ, và những sự kiện nặng nề về tâm lý đã xảy ra trong cuộc đời
- Bị mặc cảm, định kiến xã hội nên không muốn ở lại cộng đồng nơi cư trú
Trang 30- Mong muốn đến nơi ở mới nhằm thay đổi môi trường xã hội và xây dựng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp hơn
- Ngoài ra các đặc điểm cá nhân như tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, mức thu nhập,… quyết định tính chất tuyển chọn của di dân và mong muốn di cư
Trong những năm gần đây, lý thuyết mạng lưới xã hội xuất hiện và được hoàn thiện đã chiếm ưu thế đáng kể trong những công trình nghiên cứu về di dân Xác định được các yếu tố cấu thành nên mạng lưới quan hệ xã hội giữa các cộng đồng nơi đi và nơi đến, giữa người di cư và người không di cư, lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của mạng lưới xã hội này trong việc thúc đẩy quá trình di cư, chi phối động lực và quyết định di cư, và đặc biệt hướng di chuyển (nơi đến) Thừa nhận ảnh hưởng quan trọng của các yếu tố kinh tế trong di cư, song theo lý thuyết mạng lưới xã hội thì ngay cả khi động lực kinh tế không còn mạnh mẽ và sự chênh lệch về mức sống giữa các khu vực không nhiều, di dân vẫn tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn Điều này là do quá trình di dân được duy trì và thúc đẩy cùng với sự phát triển của mạng lưới
xã hội đã được hình thành theo thời gian Mọi nỗ lực nhằm can thiệp, tác động trực tiếp vào quá trình di cư do đó sẽ không đem lại hiệu quả dưới ảnh hưởng của mạng lưới xã hội này
Có thể nói, đã có nhiều hướng tiếp cận lý thuyết trong khoa học xã hội nhằm
mô tả và lý giải hiện tượng di dân Việc vận dụng những lý thuyết nêu trên trong một nghiên cứu cụ thể cần được xem xét linh hoạt nhằm lý giải được thực trạng di dân ở khu vực miền núi nước ta trong thập niên 90 và đánh giá được tác động của các chính sách di dân đến bản thân người di chuyển và cộng đồng nhập cư Do sự di cư của các cộng đồng di cư đến miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chủ yếu diễn ra theo hướng nông thôn – nông thôn, từ Bắc vào Nam nên việc vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu cần đảm bảo tính phù hợp với loại hình di chuyển này Sự lựa chọn hai khu vực miền núi chủ đạo là Tây Nguyên và miền núi phía Bắc trong nghiên cứu này sẽ cho phép xem xét những hình thái di cư chủ đạo nhất được hình thành và phát triển dưới
Trang 31tác động của các chính sách di dân ở miền núi trong những năm 90 (Đặng Nguyên Anh, 2006)
1.2 Cơ sở lý thuyết về an sinh xã hội
1.2.1 Tổng quan về an sinh xã hội
An sinh xã hội (ASXH) là một khái niệm rộng và có sự khác biệt theo thời gian và không gian, thay đổi theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội chung của thế giới và của từng khu vực Tại Việt Nam quyền an sinh xã hội được khẳng định trong Điều 34, Hiến pháp Việt Nam (2013) “công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội
Theo quan niệm của ILO, “an sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi
để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em” Với quan niệm đó, an sinh xã hội bao gồm các nội dung: chăm sóc y tế; bù đắp việc giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, mất sức lao động, tử tuất, thất nghiệp (tức bao gồm những chế độ thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội) và một số chế độ được quy định trong một số công ước của ILO liên quan tới chăm sóc trẻ em và lao động trẻ em.(Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, 2005)
Theo các chuyên gia của cơ quan phát triển Liên hợp Quốc (UNDP) tại hội thảo khoa học năm 2005 tại Việt Nam, an sinh xã hội gồm:
- Bảo hiểm xã hội: người lao động phải đóng góp một phần thu nhập trong quá trình lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội, để đảm bảo an toàn trước các rủi ro về thu nhập và mức sống khi về già hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Bộ phận này bao gồm cả bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe
- Trợ giúp xã hội: dành cho những người có thu nhập thấp hoặc không có thu nhập do tàn tật, mồ côi, già cả, gọi chung là đối tượng xã hội Chương trình này
Trang 32thường không phụ thuộc vào việc đóng góp tài chính của những người thụ hưởng chính sách này
Trợ cấp cho đối tượng bảo trợ xã hội: là hình thức hỗ trợ cho từng nhóm người cụ thể như người già sống độc thân, người tàn tật nặng, trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt, người nuôi con nhỏ,…(Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, 2005)
Trong khuôn khổ phát triển mạng lưới an sinh xã hội mà Ngân hàng thế giới
đề xuất liên quan đến các chính sách trợ cấp đối với người nghèo, người dễ bị tổn thương; tạo điều kiện cho người nghèo tham gia thị trường lao động; bảo vệ trẻ em và vị thành niên; các giải pháp trợ giúp đột xuất.(Đặng Nguyên Anh, 2015)
Một số thuật ngữ được dùng trong các tài liệu có liên quan rất chặt với khái niệm an sinh xã hội, như là: bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã hội, bảo đảm
xã hội Xét về bản chất, các thuật ngữ trên điều chứa đựng một nội dung quan trọng đó là sự đảm bảo cho người dân một cuộc sống an toàn khi họ gặp khó khăn Trên thực tế, tùy từng cách tiếp cận, các khái niệm trên thường được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc theo nghĩa rộng khác nhau, dẫn đến nội hàm của những thuật ngữ trên thường có sự khác biệt và đôi khi vai trò giống nhau như an sinh xã hội, hoặc chỉ là một nội dung cơ bản trong an sinh xã hội
1.2.2 Các bộ phận cấu thành của an sinh xã hội
An sinh xã hội có nội dung rất rộng và ngày càng được hoàn thiện trong quá tình phát triển nhận thức và thực tiễn xã hội trên toàn thế giới
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, hệ thống an sinh xã hội gồm các bộ phận sau:(Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, 2005)
- Hệ thống bảo hiểm xã hội (hưu trí, bảo hiểm y tế, chế độ trợ cấp, bảo hiểm xã hội ngắn hạn)
- Hệ thống trợ giúp xã hội (trợ cấp xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ xã hội nhóm yếu thế,…)
- Hệ thống trợ cấp xã hội chung (trợ cấp gia đình, dịch vụ y tế công cộng, trợ cấp người cao tuổi,…)
- Hệ thống trợ cấp tư nhân
Trang 33Với quan niệm trên, hệ thống an sinh xã hội có 2 chức năng rất cơ bản là đảm bảo an toàn cho mọi thành viên trong xã hội ở mức tối thiểu về thu nhập, dịch vụ y tế và xã hội để họ có thể sống một cuốc sống có ý nghĩa và duy trì thu nhập khi đang hoạt động kinh tế hoặc khi nghỉ hưu và cho phép họ duy trì được mức sống hiện tại trong các trường hợp thất nghiệp, ốm đau, thai sản, tuổi già, tàn tật mà không có khả năng tạo thu nhập
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội
Hệ thống an sinh xã hội phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, hướng tới “bao phủ” mọi thành viên xã hội, để bảo vệ an toàn cuộc
sống cho họ khi có những biến cố rủi ro xảy ra làm suy giảm về kinh tế hoặc làm mất khả năng tự bảo đảm về kinh tế Để thực hiện việc “bao phủ” đó đòi hỏi phải có một hệ thống lưới an sinh khác nhau và các tiêu chí quy định đối tượng tham gia phù hợp vào từng bộ phận của hệ thống an sinh xã hội và mỗi loại đối tượng có quyền lợi và trách nhiệm khác nhau
Thứ hai, bảo đảm tính bền vững về tài chính Cần thiết lập hệ thống thể chế
về tài chính cho phù hợp và thực hiện cơ chế chia sẻ trách nhiệm xã hội, lấy số đông bù số ít như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp Tuy nhiên, không phải bộ phận nào cũng có thể lấy thu bù chi, mà nguồn hình thành chủ yếu từ ngân sách Nhà nước
Thứ ba, bảo đảm ổn định về mặt thể chế tổ chức Sự ổn định này cho phép
hệ thống an sinh xã hội hoạt động liên tục không gián đoạn Cấu trúc hợp lý của tổ chức còn phải bảo đảm khả năng theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện của hệ thống một cách trung thực, khách quan, làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống thể chế về chính sách, tài chính và tổ chức thực hiện
Thứ tư, Nhà nước phải là người bảo trợ cho hệ thống an sinh xã hội hoạt
động có hiệu quả và đúng pháp luật Nhà nước của đóng vai trò quản lý nhà nước đối với hệ thống an sinh xã hội, vừa đóng vai trò người thực hiện, người bảo trợ khi
hệ thống này gặp những rủi ro về tài chính
Trang 34Thứ năm, tạo cơ chế, môi trường và khuyến khích các cá nhân, cộng đồng,
các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân tham gia vào các hoạt động trợ giúp xã hội trên tinh thần chia sẻ trách nhiệm xã hội
1.3 ASXH ở Việt Nam
Trong chiến lược An sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, khái niệm ASXH bao gồm một hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước, các đối tác xã hội và tư nhân thực hiện nhằm hỗ trợ, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng quản lý rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro do thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản Chính sách ASXH Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 dựa trên 4 trụ cột cơ bản như sau:
Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo:
nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua sự tham gia thị trường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững
Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro
khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già…thông qua sự tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) để chủ động bù đắp phần thu nhập bị mất do các rủi ro trên Nhằm phát triển một hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, tiết kiệm và bền vững, Chính phủ Việt Nam đã quyết tâm hiện đại hóa công tác quản lý bảo hiểm xã hội Chiến lược phát triển an sinh xã hội ghi trong quyết định số 1215/QĐ-TTg năm 2013 quy định hiện đại hóa quản lý bảo hiểm xã hội, tăng cường năng lực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ Quốc hội đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội mới (Luật Bảo hiểm Xã hội số 58/2014/QH13, ngày 20/11/2014)
Nhóm chính sách bảo trợ xã hội: bao gồm các chính sách thường xuyên và
đột xuất nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, đói, nghèo kinh niên)
Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản: nhằm tăng cường cho người dân
tiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục tối thiểu, y tế tối
Trang 35thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch và thông tin truyền thông.(Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Đặng Hà Thu, 2013)
Hình 1.1: Hệ thống ASXH Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo tóm tắt rào cản pháp luật & thực tiễn đối với người lao động
di cư trong tiếp cận an sinh xã hội, chương trình quyền lao động của Oxfam tại
Trang 361.4 Chính sách quản lý của nhà nước đối với di dân
Mức gia tăng tầng lớp dân cư nhập cư của đô thị trong một thời kỳ (bằng số người đến trừ đi số người đi) cũng phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đô thị Một đô thị đông dân, dễ tìm kiếm việc làm, môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa tốt sẽ thu hút dân cư di chuyển đến, số sinh viên sau khi tốt nghiệp không muốn rời thành phố sẽ gia tăng Tuy nhiên, yếu tố này có tính hai mặt của nó: thứ nhất làm cho cung lao động đô thị tăng, kích thích sản xuất phát triển, hai là vấn đề xã hội, môi trường, cung cấp dịch vụ trở nên khó khăn Vì vậy, việc lựa chọn một chính sách phù hợp là vấn đề cần nghiên cứu cẩn thận và là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý dân số đô thị
Quản lý di dân là một hợp thành quan trọng của công tác quản lý dân cư, trong đó chính sách di dân có vai trò quan trọng Chính sách di dân là hệ thống những giải pháp nhằm đảm bảo sự phân bố dân số - nguồn lao động hài hòa với nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, phù hợp và góp phần thúc đẩy với mục tiêu phát triển Là chính sách dân số trong lĩnh vực đặc thù, chính sách di dân nhằm góp phần vào công tác quản lý dân cư như một trong những lĩnh vực quản lý xã hội quan trọng Đó là sự quản lý hành chính về mặt nhà nước trên lĩnh vực dân số, được phân bố theo các vùng lãnh thổ của đất nước Chính sách di dân đều có mục tiêu cụ thể theo thời gian, đồng thời có các biện pháp để đạt được mục tiêu đề ra trong việc thay đổi, điều chỉnh hoặc thậm chí ngăn chặn các luồng di chuyển lao động và dân cư
1.5 Tác động của nhập cư đến ổn định an sinh xã hội
Dân số là yếu tố quan trọng trong việc phát triển Kinh tế - xã hội một địa phương, một đất nước Dân số vừa có tư cách như một chủ thể làm ra của cải xã hội vừa có tư cách như một đối tượng thụ hưởng của cải vật chất và các dịch vụ xã hội (Bùi Việt Thành, 2011)
Dân số nhập cư tăng quá nhanh gây sức ép rất lớn đến tình hình phát triển chung của xã hội…đồng thời việc dân số nén trong một diện tích quá hẹp, nhất là vùng lõi trở thành gánh nặng đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật (kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm…) và hạ tầng xã hội, nhà ở, trường học, bệnh viện, xuất hiện nhà ổ chuột, lấn
Trang 37chiếm, không phép và tệ nạn rất nan giải không thể đáp ứng được nhu cầu thực tế, do đó độ bao phủ của chính sách an sinh xã hội sẽ bị giới hạn Đi kèm với di cư là sự dịch chuyển ý tưởng và nhân tài, nguồn gốc của phát minh và tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trong quá trình công nghiệp hóa của khu vực, vấn đề bùng nổ dân số, vấn đề
ô nhiễm môi trường và hủy hoại môi trường sinh thái, vấn đề khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên Chúng ta đều biết, nguồn lực là có hạn và sức “chịu tải” của môi trường không phải là vô hạn, nếu nhân khẩu bùng nổ thì chắc chắn sẽ tác động đến vấn đề môi trường, đồng thời chất lượng dân số chắc chắc giảm đi, thu nhập bình quân đầu người thấp, nạn thất nghiệp tăng và nảy sinh những vấn đề xã hội khác Và chính điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn lực về ASXH (cơ sở kinh tế của ASXH)
1.6 Bài học kinh nghiệm đối với hiện tượng nhập cư của các quốc gia trên thế giới
1.6.1 Singapore
Singapore, một quốc đảo đô thị hoá hoàn toàn, đã quản lý sự phát triển kinh tế và xã hội cực kỳ hiệu quả từ thời kỳ trước khi độc lập hoàn toàn vào năm 1965, và chính sách di cư của Singapore là một phần không thể tách rời của kế hoạch phát triển của quốc gia này
GDP bình quân đầu người đã tăng 66% trong năm năm đầu độc lập và đạt mức 4.470 USD vào năm 1970 Tăng trưởng kinh tế đã duy trì rất ấn tượng kể từ đó, với GDP bình quân đầu người đạt 4.900 USD trong năm 1980, 11.900 USD trong năm 1990, 23.700 USD trong năm 2000, 46.600 USD trong năm 2010, và 52.900 USD trong năm 2015 (theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới) Tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự phát triển xã hội mạnh mẽ Vào năm 2015, tuổi thọ của nữ là
89 trong khi tuổi thọ của nam giới là 80 Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh được ghi nhận vào năm 2016 chỉ là 2,3/1.000 trẻ sinh ra sống (số liệu của Cục Thống kê Singapore)
Ở một quốc gia có tỷ lệ người nhập cư cao và hội nhập sâu vào nền kinh tế
Trang 38Singapore đã dựa vào người nước ngoài để bổ sung lực lượng lao động của mình, với lao động nước ngoài chiếm hơn ¼ dân số và 30% lực lượng lao động Trong số các nước ở Đông và Đông Nam Á, Singapore là nước cẩn thận nhất trong việc hiệu chuẩn luồng di cư vào theo nguồn gốc quốc gia, nghề nghiệp, trình độ học vấn và hiện trạng kinh tế Định hướng chính sách được cấp cao nhất đưa ra với việc Thủ tướng nước này đã tuyên bố trong bài phát biểu chào mừng Quốc khánh năm
2006 rằng nhập cư của những người có tay nghề và tài năng là một chiến lược cần thiết cho sự tăng trưởng và thịnh vượng trong dài hạn của Singapore Kết quả của chính sách này là số lượng những người cư trú lâu dài ở Singapore đã tăng 142%
Singapore đã thông qua một khuôn khổ giấy phép làm việc khác biệt, theo đó các đặc quyền và việc kiểm soát được hiệu chỉnh theo trình độ kỹ năng Nói chung, có ba loại giấy phép lao động cho lao động nước ngoài tại Singapore, bao gồm có:
1 Thẻ việc làm cho các chuyên gia nước ngoài, các nhà quản lý và điều hành (PMEs);
2 Thẻ S cấp cho công nhân có tay nghề trình độ bậc trung;
3 Giấy phép lao động cho người lao động có tay nghề thấp
Những người có Thẻ việc làm và Thẻ S sẽ phải đáp ứng được mức lương và có bằng cấp liên quan, trong khi mức hạn ngạch và lệ phí cấp độ công ty được áp dụng đối với người có Thẻ S và Giấy phép làm việc (WPHs) Hạn ngạch và lệ phí sẽ khác nhau tùy thuộc vào mức độ kỹ năng của lao động nước ngoài và ngành họ sẽ làm việc
Ngoài các hạn ngạch và lệ phí, người có Giấy phép lao động WPH cũng phải chịu những hạn chế đối với người sử dụng lao động và các loại chức năng công việc (ví dụ: người giúp việc gia đình là người nước ngoài – FDW - chỉ được phép làm việc tại Singapore cho người sử dụng lao động được ghi trong hợp đồngvà chỉ để thực hiện công việc giúp việc) Người đọc có thể tìm thêm thông tin chi tiết tại www.mom.gov.sg/passes-and-permits/work-permit-for-foreign-worker
Ngoài ra, người sử dụng lao động của người có giấy phép lao động (WPH) phải trả cho một khoản trái phiếu bảo đảm trị giá 5.000 SGD cho mỗi người lao động
Trang 39không phải là người Malaysia, để đảm bảo cả người sử dụng lao động và người lao động đều tuân thủ các điều kiện của Giấy phép lao động Người sử dụng lao động không thể yêu cầu người làm của mình trả khoản này cho họ Ngoài ra, người sử dụng lao động phải đảm bảo mức bảo hiểm tai nạn cá nhân ít nhất là 40.000 SGD cho mỗi người giúp việc gia đình người nước ngoài mà họ thuê.(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, 2017, Trang 78)
Bài học từ Singapore chính là đưa ra chính sách, quản lý, yêu cầu nghiêm ngặt đối với dân nhập cư đặt biệt là đối với lao động nhập cư đó là những di dân có tiêu chuẩn chuyên môn, trình độ kỹ thuật cao đi kèm với những ràng buộc về pháp lý và thu nhập mục đích là để chọn lọc ra những cư dân có trình độ cao và thích đáng nhất nhằm nâng mặt bằng chung về trình độ người dân và chất lượng cuộc sống của chính người dân được đảm bảo, bên cạnh đó đích đến là mục tiêu thực hiện đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội một cách mạnh mẽ, bền vứng cùng với chế độ an sinh xã hội tốt nhất cho người dân Singapore
1.6.2 Medellin, Colombia
Dân số của thành phố Medellin tăng gấp 3 lần từ 1951 đến 1973 do ngành công nghiệp sản xuất của thành phố, chủ yếu là ngành dệt Tình trạng nhập cư nhanh chóng dẫn đến sự phát triển ồ ạt của các khu định cư phi chính thức trong thành phố Vì những khu định cư phi chính thức rất khó tiếp cận, nên các khu vực này không được kết nối các khu định cư chính thức ở trung tâm thành phố Số biện pháp can thiệp của chính quyền rất hạn chế ở những khu vực như Santo Domingo và La Aurora dẫn đến sự tăng trưởng thiếu dịch vụ, hỗn độn và phi chính thức Những khu vực này trở thành điểm nóng về tội phạm
Chính quyền thành phố Medellin đã xây dựng một quy hoạch tổng thể để nhấn mạnh các vấn đề về khả năng tiếp cận, sự gắn kết xã hội và an ninh Một yếu tố quan trọng trong phương pháp tiếp cận lồng ghép là việc thực hiện đồng bộ hệ thống cáp treo, hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng xã hội như thư viện, trường học, trang thiết bị thể thao và không gian công cộng các nhà ga
Trang 40Cụ thể giải pháp: hệ thống cáp treo bao gồm xe đạp treo sử dụng cho địa
hình đặc biệt nơi có các khu định cư phi chính thức Một giải pháp sáng tạo và hiệu quả về chi phí là hệ thống cáp treo lần đầu tiên được đưa vào trong quy hoạch phát triển của thành phố Medellín năm 2001 Vào năm 2008, ba đường dây cáp treo đã được xây dựng Sự đồng bộ về chính sách là yếu chính dẫn đến thành công “Sự chuyển biến đô thị thực sự chỉ có thể đạt được bằng cách đồng bộ hóa các cơ quan hành chính kế nhiệm Cứ 12 giây lại có một cabin chuyên chở 10 người tới điểm đến, kết quả là khoảng 3000 người được chuyên chở trên mỗi tuyến trong vòng 1 giờ Cân bằng về không gian là một mục tiêu quan trọng của quy hoạch phát triển Chiến lược phát triển xã hội do Metro triển khai là một công cụ chính trong việc đảm bảo nâng cao nhận thức và hỗ trợ cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng thông qua quy hoạch và thực hiện đã giúp xóa bỏ sự phân cách xã hội và tạo ra cảm giác thân thuộc và tự hào về dân cư
Hệ thống cáp treo (Metrocable) được coi là một biểu tượng cho sự nâng cấp
đô thị ở Medellín Đây là một trong số rất ít hệ thống cáp treo được sử dụng cho giao thông công cộng Hệ thống cáp treo đã làm giảm thời gian cư dân Santo Dimindo đi tới trung tâm thành phố - trước kia chuyến đi thường mất hai giờ bằng xe buýt, bây giờ chỉ mất bảy phút Việc đi lại được cải thiện đã tạo ra nhiều việc làm và tăng cường sự gắn kết xã hội Hoạt động thương mại đã tăng lên đến 400% với các doanh nghiệp gia đình và nhà hàng quy mô nhỏ phát triển mạnh xung quanh các nhà ga cho hệ thống cáp treo Có thể thấy rõ là giá trị đất đai và giá thuê tăng lên, các ngân hàng mở
ra các chi nhánh trong khu vực và ngành du lịch trở thành nguồn thu nhập đáng kể Tiếp cận việc làm, hàng hóa và dịch vụ đã giúp làm giảm tình trạng bạo lực đến 79% trong các năm 2003 – 2004
Tổng hợp kinh nghiệm từ Medellín dành cho TP.HCM đó là nghiên cứu và
đưa ra chính sách phát triển dành cho hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông công cộng hiện đại nhằm giải quyết các vấn đề ách tắt giao thông, ô nhiễm môi trường đồng thời gián tiếp tác động việc phân bổ dân cư trong khu vực từ đó giải