1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật gia đình

75 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 812,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nguyễn Ngọc nh, „„Lý lịch tư pháp, bí mật đời tư về tình trạng tiền án của cá nhân‟‟, Bài đăng Tạp chí khoa học Dân chủ và Pháp luật số huyên đề về Lý lịch tư pháp, trang 8 Tuy nhiên,

Trang 1

Ọ QU T N P M N

TRƯỜN I HỌC KINH TẾ - LUẬT

TRỊNH MINH TUẤN

Bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

LUẬN VĂN T SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

LỜ M O N

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi ác

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

T

Trịnh Minh Tuấn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích ối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

6 Kết cấu của luận văn 6

ƯƠN 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ B O VỆ QUYỀN N ÂN T ÂN I VỚI ỜI S N R ÊN TƯ, B MẬT N ÂN, B MẬT ÌN 6

1 1 Khái quát về quyền nhân thân 6

1 1 1 Khái niệm về quyền nhân thân 6

1 1 2 ặc điểm của quyền nhân thân 8

1 1 3 Phân loại quyền nhân thân 11

1.1.4 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền nhân thân 13

1.2 Bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình …… 15

1.2 1 Những vấn đề chung về bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình 15

Kết luận chương 1 32

ƯƠN 2 T ỰC TR N V K ẾN NGHỊ O N T ỆN QUY ỊNH CỦ P P LUẬT VỀ B O VỆ QUYỀN N ÂN T ÂN I VỚ ỜI S NG R ÊN TƯ, B MẬT N ÂN, B MẬT ÌN 34

2.1 Thực trạng xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình 34

Trang 4

2.1.1 Sử dụng thông tin cá nhân nhằm mục đích thương mại không có sự đồng ý

của chủ thể 36

2 1 2 Phát tán bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình làm xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể 38

2 1 3 Xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thông qua hoạt động báo chí, mạng xã hội 41

2.2 Thực trạng thực hiện các biện pháp về bảo vệ quyền nhân thân sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật 42

2 2 1 ác tình huống cụ thể 42

2.2.2 Nhận xét về các tình huống 48

2.2.3 Thực trạng thực hiện các biện pháp về bảo vệ quyền nhân thân sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật 49

2 3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng xâm phạm và bảo vệ quyền nhân thân đối với sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình 54

2.3.1 Từ quy định của pháp luật 54

2.3.2 Từ góc độ văn hóa - xã hội 56

2.4 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình 58

2 5 ánh giá quy định của pháp luật Việt Nam đối với quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và định hướng hoàn thiện 59

2.5.1 Bất cập trong quy định của pháp luật 59

2 5 2 ịnh hướng hoàn thiện 63

Kết luận chương 2 65

KẾT LUẬN 66

DANH MỤ T L ỆU THAM KH O 68

Trang 5

ó là sự nhận thức và ý thức về “cái tôi cá nhân” được đề cao Mặt khác, tôn trọng đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác còn là tôn trong cuộc sống riêng của họ, của gia đình họ Từ xa xưa, người Việt Nam đã có tính không tốt là hay bàn chuyện làng xóm, “trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường”, chuyện nhà người khác những lôi ra bàn tán, bình phẩm dẫn đến nhiều lần mất đoàn kết “cộng đồng” Trong thời đại công nghệ số hóa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc chúng ta đưa các thông tin cá nhân của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau như mạng xã hội, giao dịch trực tuyến,… đã dần trở nên quen thuộc Việc làm này một mặt giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội, tuy nhiên mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị người khác đánh cắp thông tin để thực hiện những hành vi trái pháp luật như giả mạo bạn bè, người thân để lừa đảo, làm giả thẻ ngân hàng,…

Bên cạnh đó, không khó để chúng ta tìm kiếm được trên mạng thông tin cá nhân, những bí mật gia đình, đời sống tình cảm của diễn viên, ca sĩ, người mẫu nổi tiếng Thậm chí, ngay trong tin tức đầu tiên của buổi sáng chúng ta có thể biết được

Trang 6

vào tối hôm qua những người này làm gì, đi đâu, ở với ai,… hưa bàn tới việc những thông tin này khi đăng tải có được sự cho phép của người trong cuộc hay không, tuy nhiên có thể nhìn thấy rằng việc công khai những thông tin đó có thể dẫn đến tổn hại về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân người trong cuộc Ví dụ: cầu thủ ông Phượng bị điều tra tuổi thật, ca sĩ ồ Ngọc à bị xâm phạm đời tư,…

hính vì thế, việc biết được những thông tin cá nhân của mình có được pháp luật bảo vệ hay không? Phạm vi thông tin cá nhân được bảo vệ như thế nào? Mức

độ bảo vệ ra sao?… là điều hết sức quan trọng là cần thiết ây chính là những quy định của “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, một trong những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật dân sự ghi nhận

iều 12 Tuyên bố Quốc tế về nhân quyền được ại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã ghi nhận rằng “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy” ây là khuôn mẫu chung cần được đạt đến của mọi quốc gia và mọi dân tộc Tuy nhiên, trong pháp luật Việt Nam hiện tại,“đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” mặc dù đã được quy định tuy nhiên chưa hoàn toàn rõ ràng và hoàn thiện

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về bảo vệ “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, tác giả

đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” làm Luận văn tốt nghiệp cho khóa cao học Luật dân

sự và Tố tụng dân sự tại Trường ại học Kinh tế - Luật

Trang 7

2 Tìn ìn n iên cứu

Từ trước cho đến nay, vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về quyền nhân thân nói chung và quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Liên quan đến vấn đề này đã có một số bài báo khoa học và đề tài nghiên cứu khoa học nổi bật cụ thể như sau:

- T.S Lê ình Nghị (2008), ề tài khoa học cấp trường, ại học Luật à Nội, “Bàn về khái niệm quyền bí mật đời tư”

- Ts Bùi ăng iếu (2009), “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân”, Tạp chí luật học, ngày 18/11/2009

- Ths Lê Văn Sua (2017), “Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bài viết báo pháp luật và đời sống

- Vũ ông iao, Phạm Thị Hậu, „„Pháp luật bảo vệ quyền bí mật dữ liệu cá nhân trên thế giới và Việt Nam‟‟, Bài đăng Tạp chí khoa học Nhà nước và Pháp luật số 2/2017, trang 67

- Nguyễn Ngọc nh, „„Lý lịch tư pháp, bí mật đời tư về tình trạng tiền án của

cá nhân‟‟, Bài đăng Tạp chí khoa học Dân chủ và Pháp luật số huyên đề về Lý lịch tư pháp, trang 8

Tuy nhiên, vào những giai đoạn khác nhau thì pháp luật điều chỉnh các quyền công dân trong các quan hệ xã hội cũng khác nhau, pháp luật cũ không bao giờ có thể điều chỉnh được hết với mọi tình hình thực tiễn luôn thay đổi ngày một

đa dạng và phức tạp hơn ặc biệt cùng với sự đồng loạt sửa đổi của các văn bản pháp luật như iến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật hình sự 2015, Luật báo chí 2016…Vì vậy, tác giả cho rằng, việc thực hiện đề tài nghiên cứu: “Bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” là hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá

Trang 8

nhân, bí mật gia đình nói riêng, góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền nhân thân nói chung

3 Mục đíc ối tượn v p ạm vi n iên cứu

- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài “Bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” nhằm làm rõ cơ sở khoa học, lý luận

và thực tiễn của chế định bảo vệ quyền nhân thân nói chung cũng như bảo vệ quyền

về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nói riêng Trong thời gian tới, luận văn tập trung giải quyết các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền nhân thân nói chung cũng như bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nói riêng;

ai là, phân tích và đánh giá thực trạng bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ở Việt Nam hiện nay, nhằm tìm ra những bất cập, những hạn chế để từ đó có những giải pháp và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề này trong thời gian tới;

Ba là, trên cơ sở những tồn tại, hạn chế tác giả đưa ra những đề xuất kiến nghị cụ thể dựa trên những luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo pháp luật Việt Nam

- Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

- Về phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ Luật học, trên cơ

sở tiếp thu và kế thừa những kết quả đã đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài trong phạm vi một số quy định của

Trang 9

pháp luật tại Việt Nam một số quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

4 P ươn p áp n iên cứu

ề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ hí Minh, cụ thể luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích các quy định pháp luật và áp dụng vào các tình huống thực tế trong cuộc sống, đồng thời so sánh với các quy định về vấn đề này của luật pháp các nước trên thế giới để tìm ra những hợp lý, bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay

- Phương pháp tổng hợp, phân tích một số quy định của pháp luật hiện hành

về quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và các tình huống vụ việc trong thực tế cuộc sống

5 Ý n ĩa k oa ọc v t ực tiễn của luận văn

Luận văn này là một công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu, góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề pháp lý của việc bảo

vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, từ đó chỉ ra bất cập và thiếu sót trong các quy định của pháp luật về vấn đề này tại Việt Nam hiện nay

Lợi ích thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu trong hoạt động học tập và nghiên cứu cho sinh viên, giảng viên những người nghiên cứu khoa học quan tâm đến vấn đề này, ngoài ra nó mang tính định hướng cho các nhà làm luật để sửa đổi các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phù hợp với thực tiễn hiện nay và sự vận động phát triển của xã hội

Trang 10

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 02 chương:

hương 1: Lý luận chung về bảo vệ quyền quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo pháp luật Việt Nam

hương 2: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo pháp luật Việt Nam

ƯƠN 1 LÝ LUẬN UN VỀ BẢO VỆ QUYỀN N ÂN T ÂN

VỚ Ờ S N R ÊN TƯ, B MẬT Á N ÂN, B MẬT ÌN 1.1 K ái quát về quyền n ân t ân

1 1 1 K ái niệm về quyền n ân t ân

Khoa học luật dân sự quan niệm rằng: Quyền nhân thân là loại quyền tuyệt đối gắn liền với mỗi chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, không trị giá được thành tiền, về nguyên tắc không thể chuyển giao cho chủ thể khác1

. Trong điều kiện kinh

tế - xã hội ngày nay, quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống tinh thần, quyền của chủ thể quan hệ dân sự về các giá trị nhân thân càng có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng và cần được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm một cách đầy đủ, toàn diện trong BLDS2

Nội hàm khái niệm quyền con người, quyền công dân (theo luật nhân quyền quốc tế, iến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia khác) không có sự phân chia thành các quyền nhân thân và quyền tài sản

1

Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật thừa nhận như là một quyền tuyệt đối của cá nhân, tổ chức Quyền nhân thân là quyền gắn liền với một chủ thể, về nguyên tắc không thể chuyển giao cho chủ thể khác Đó là một quyền dân

sự tuyệt đối, mọi người đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác” Xem: Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân

sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2015; tr.12.

2

Lê Đình Nghị, Quyền nhân thân trong BLDS năm 2005 và hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học số 3 năm 2014; tr 30

Trang 11

Bộ luật dân sự 2015 được ban hành ngày 24/11/2015, có hiệu lực vào ngày 01/01/2017 đã cụ thể hoá các quy định, nguyên tắc Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự và thể hiện thành các quy định về quyền nhân thân (một trong những nội dung của chế định cá nhân) và quyền tài sản

(một trong những nội dung của chế định tài sản) Bên cạnh đó, với nhiều nội dung

mới về xác lập, bảo vệ quyền dân sự; năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, pháp nhân; hộ gia đình, tổ hợp tác; tài sản; giao dịch dân sự; đại diện; thời hạn, thời hiệu; quyền tài sản

Theo đó, iều 25 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật

này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” Quy định này đã nêu

lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là gắn liền với cá nhân và không chuyển giao Nếu chỉ dừng lại ở những đặc điểm đó thì khái niệm quyền nhân thân sẽ vướng phải một số bất cập nhất định sau đây: Thứ nhất, hai đặc điểm nêu trên thực sự chưa đủ để phân biệt quyền nhân thân với các quyền dân sự khác, bởi lẽ có một số quyền tài sản cũng mang đủ hai đặc điểm này, như: Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định rằng quyền được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được gắn liền với những cá nhân nhất định như giữa cha mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu, giữa vợ và chồng Quyền yêu cầu cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng các quyền, nghĩa vụ khác và “Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác” ( iều 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) Quyền này là quyền tài sản chứ không phải là quyền nhân thân Ngược lại, quyền tài sản là loại quyền không tuyệt đối gắn liền với mỗi chủ thể nhất định, trị giá được thành tiền và có thể là đối tượng trong giao dịch dân sự, chuyển giao được cho chủ thể khác Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, các đặc trưng nêu trên chưa đầy

Trang 12

đủ đối với quyền nhân thân, quyền nhân thân không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của pháp nhân, quyền nhân thân là loại quyền chỉ gắn liền với đời sống tinh thần của con người3

Như vậy, rõ ràng cũng là những giá trị tinh thần, quyền con người, quyền công dân hay quyền nhân thân của chủ thể quan hệ dân sự nhưng trên mỗi góc độ pháp luật là những cách thức ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm có tính đặc thù Trong điều kiện hiện nay, quyền con người, quyền công dân cần phải được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng đa phương thức, đa cấp độ và quyền dân sự chỉ là một trong số đó Trên quan điểm phối hợp chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội như vậy,

1.1.2 ặc điểm của quyền n ân t ân

Xem xét những đặc trưng của quyền nhân thân với tư cách là những quyền chủ thể, trước hết cần ghi nhận rằng: những quyền này mang tính chất cá nhân tuyệt đối iều đó có nghĩa là những quyền nhân thân được ghi nhận và điều chỉnh trong luật dân sự thuộc về các cá nhân từ khi họ sinh ra hoặc theo qui định của pháp luật, chúng không thể bị trưng mua hay chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp khi có qui định của pháp luật về việc các quyền nhân thân thuộc về người đã chết có thể được thực thi và bảo vệ bởi những chủ thể khác, trong đó có người thừa kế của chủ thể đã chết Quyền nhân thân luôn gắn với một chủ thể xác định Quyền nhân thân thuộc về cá nhân cụ thể từ khi anh ta được sinh ra hoặc theo những căn cứ khác do pháp luật qui định Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, quyền nhân thân có thể được phép dịch chuyển theo những trình tự do pháp luật qui định Ngoài ra, bản chất không dịch chuyển của quyền nhân thân không loại bỏ khả năng khi việc thực thi và bảo vệ chúng có thể được thực hiện bởi những người thứ

ba Ví dụ: những người đại diện có thể khởi kiện để bảo vệ danh dự, nhân phẩm

3

Trang 13

của người chưa thành niên Quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản, quyền nhân thân không mang nội dung tài sản Quyền nhân thân không được xác định bằng tiền4 Quyền nhân thân điều chỉnh những quan hệ liên quan mật thiết và không thể tách rời khỏi một các nhân nhất định iá trị nhân thân là đối tượng của một quyền nhân thân nhất định hướng tới việc cá thể hóa cá nhân là chủ thể quyền này, làm cho bản thân nhân thân cá nhân đó không thể bị lặp lại Những giá trị nhân thân là đối tượng của quyền nhân thân biểu hiện tình trạng xã hội của chủ thể mang các giá trị nhân thân đó, trở thành một bản chất không thể tách rời của cá nhân, mặc

dù bản chất này có thể thay đổi trong suốt quá trình tồn tại của chủ thể này Là các yếu tố cấu thành không thể tách rời khỏi cá nhân chủ thể, những giá trị nhân thân được cá thể hoá, làm cho bản thân người mang các giá trị đó là hoàn toàn không thể lặp lại Về mặt tính chất, có thể coi quyền nhân thân là một loại quyền tuyệt đối Người có quyền đối lập với phạm vi không xác định các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng những giá trị nhân thân được bảo vệ Bên cạnh đó, cần phân biệt quyền nhân thân với tư cách là một loại quyền tuyệt đối với các loại quyền dân sự tuyệt đối khác (chẳng hạn như quyền sở hữu) Một trong những đặc trưng cơ bản của các quyền nhân thân là cấu trúc của chúng không giống như cấu trúc của các loại quyền tuyệt đối khác Nếu như quyền sở hữu qui định khả năng của chủ thể quyền thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bằng những phương thức khác nhau do pháp luật qui định thì đối với quyền nhân thân điều đó là hoàn toàn không được áp dụng ối với quyền nhân thân, chủ thể quyền thực hiện quyền bằng những hành vi riêng của mình, trong đó những hành vi này nằm ngoài sự điều chỉnh cụ thể của pháp luật Ví dụ: một cá nhân thực hiện những hành vi nhất định

để tạo uy tín đối với những người xung quanh Liên quan đến vấn đề này, đối với quyền nhân thân, dường như tồn tại hai quyền năng: thứ nhất, khả năng của người

4

Nguyễn Thị Quế Anh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011) 213-220

Trang 14

có quyền đòi hỏi một phạm vi không xác định những những người có nghĩa vụ không được xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể; thứ hai, khả năng yêu cầu những biện pháp bảo vệ do pháp luật qui định trong trường hợp quyền nhân thân bị xâm phạm Cần nhấn mạnh rằng, những đặc trưng trên của quyền nhân thân, dưới một góc độ nhất định, đều mang tính chất tương đối Việc xâm hại các quyền nhân thân có thể gây ra cho chủ thể những hậu quả kinh tế khôn lường Ví dụ: khi uy tín

cá nhân bị xâm hại có thể gây thiệt hại lớn về doanh thu, có thể dẫn tới những điều kiện bất lợi trong vay vốn; v.v Mặt khác, một uy tín vững vàng sẽ là bảo đảm chắc chắn cho những lợi ích kinh tế trước mắt và lâu dài của các chủ thể Liên quan đến đặc tính cá nhân tuyệt đối của quyền nhân thân, vấn đề này cũng không cần thiết phải tuyệt đối hoá Một số quyền nhân thân hướng tới việc bảo vệ các lợi ích nhân thân nhằm mục đích trước tiên là đưa chúng vào lưu thông trong giao lưu dân

sự và mang lại lợi nhuận từ các lợi ích đó Ví dụ: các quyền nhân thân trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Pháp luật không qui định phương thức cho chủ thể thực hiện quyền nhân thân của mình ặc trưng của việc thực thi quyền nhân thân là ở chỗ pháp luật không qui định những giới hạn cho việc thực thi quyền nhân thân mà chỉ đặt ra những ranh giới ngăn chặn sự can thiệp của những người thứ ba đối với lĩnh vực cá nhân của một con người Nếu những ranh giới này bị xâm phạm thì được phép áp dụng những biện pháp khôi phục lại chúng Trong đó, những qui phạm đạo đức có ý nghĩa quan trọng đối với việc qui định những ranh giới được phép đối với chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ Bản chất của việc bảo vệ các giá trị nhân thân trong pháp luật dân sự là ở việc bảo đảm tự do cho các cá nhân trong việc xác định hành vi của mình trong đời sống cá nhân theo ý chí, theo nhìn nhận của bản thân, loại bỏ sự can thiệp từ phía các chủ thể khác vào đời sống cá nhân của mình, trừ những trường hợp do pháp luật qui định Việc xác lập các quan hệ trong lĩnh vực quyền nhân thân cũng có những đặc trưng khác biệt so với các quan hệ trong lĩnh

Trang 15

vực quyền tài sản: quyền nhân thân được xác lập không phải dựa trên những sự kiện pháp lý mà chúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những qui định của pháp luật Về mặt nội dung, quyền nhân thân, nhìn chung, không bao gồm việc thực hiện những hành vi pháp lý tích cực, mặc dù chủ thể có quyền sử dụng những lợi ích nhân thân thuộc về anh ta theo ý muốn của mình ác chủ thể khác có nghĩa vụ tôn trọng, không xâm phạm tới lợi ích nhân thân được bảo vệ Bên cạnh đó, pháp luật cũng không cho phép việc sử dụng các quyền nhân thân thuộc về một cá nhân nhất định với mục đích xâm hại tới quyền và lợi ích của người khác Nói một cách khác, pháp luật không cho phép lạm dụng quyền nhân thân, việc thực thi các quyền nhân thân phải được đặt trong giới hạn cho phép Như vậy, quyền nhân thân trong luật dân sự là một một dạng quyền chủ thể độc lập, thực hiện vai trò của một công cụ pháp luật bảo vệ đời sống cá nhân trước sự can thiệp từ bên ngoài bằng việc áp

dụng những biện pháp dân sự

1 1 3 P ân loại quyền n ân t ân

Theo Bộ Luật dân sự 2015, nội dung từ iều 25 đến iều 39 là những quy định các quyền về nhân thân Dựa vào đối tượng của quyền mà quyền nhân thân được phân thành 4 nhóm sau đây:

1) Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể bao gồm: Quyền có họ, tên; quyền thay đổi họ, quyền thay đổi tên; quyền xác định, xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền đối với quốc tịch; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền chuyển đổi giới tính; quyền xác định lại giới tính

2) Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân bao gồm: Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Trang 16

3) Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể bao gồm: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền bí mật đời tư; quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

4) Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình

Trong phân loại này, mỗi nhóm nêu trên có những đặc điểm pháp lí riêng biệt5 Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể được thể hiện dưới hình thức các công

cụ cá biệt hoá khác nhau ở mỗi chủ thể (mỗi người có tên gọi, hình ảnh và các yếu

tố lí lịch khác nhau) Tập hợp các công cụ cá biệt hoá đó ở mỗi chủ thể sẽ cho ta sự hình dung bên ngoài về chủ thể đó khác biệt với các chủ thể khác Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định một quyền nhân thân mới của cá nhân mà Bộ luật Dân sự

2005 chưa quy định đó là chuyển đổi giới tính Quy định này nhằm tạo cơ chế pháp

lý chống phân biệt đối xử với người chuyển đổi giới tính, bảo đảm họ có địa vị pháp lý bình đẳng như cá nhân khác và sự minh bạch trong thực hiện các quyền nhân thân, tài sản trong các quan hệ dân sự Quy định tiến bộ này đã đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có quy định pháp lý cụ thể để bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính nói riêng và quyền của nhóm người đồng tính, song giới, chuyển giới nói chung, phù hợp với Nghị quyết của Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc được thông qua vào tháng 9/2014 về nhân quyền6

Thân thể của mỗi cá nhân không phải là tài sản, mà thuộc về nhân thân của

cá nhân đó ác quyền liên quan đến thân thể của cá nhân được bảo vệ một cách giống nhau ở mọi cá nhân (tính mạng, sức khoẻ, thân thể của mỗi cá nhân đều được bảo vệ như nhau và đều là vô giá mà không phụ thuộc vào giới tính hay địa vị xã

Trang 17

https://baotintuc.vn/phap-luat/bao-dam-quyen-nhan-than-cua-ca-nhan-hội) và được bảo vệ một cách tuyệt đối khỏi sự xâm phạm của bất kì chủ thể khác, bất kể chủ thể quyền có yêu cầu hay không yêu cầu được bảo vệ

Quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình được chia thành hai phân nhóm là: nhóm các quyền tạo lập gia đình (quyền kết hôn, quyền li hôn, quyền nhận nuôi và được nhận làm con nuôi) và nhóm quyền giữa các thành viên trong gia đình (quyền bình đẳng vợ chồng; quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình) ác quyền thuộc phân nhóm thứ nhất được bảo

vệ một cách tuyệt đối khỏi sự xâm phạm của bất kì chủ thể khác òn các quyền thuộc phân nhóm thứ hai chỉ được bảo vệ một cách tương đối khỏi sự xâm phạm của các thành viên khác trong chính gia đình đó mà thôi ác quyền này được xác lập một cách khác nhau ở từng chủ thể, phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình của người đó (đã lập gia đình chưa, có con cái hay không) và phụ thuộc vào địa vị của người đó trong gia đình (là con hay cha, là chồng hay vợ) ác quyền này có thể chấm dứt khi các chủ thể trong gia đình không còn nữa

1.1.4 Sự cần t iết của việc bảo vệ quyền n ân t ân

ác giá trị nhân thân và việc bảo vệ các giá trị này có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt chính trị, kinh tế, xã hội ác giá trị nhân thân liên quan mật thiết tới những khái niệm về công bằng, tự do, bất khả xâm phạm của các cá nhân Dấu hiệu đầu tiên về sự độc lập pháp lý của cá nhân đó chính là sự thừa nhận cá nhân là chủ thể của các quyền và nghĩa vụ pháp lý7

Nếu như vào thời kỳ xa xưa người ta có thể định đoạt cả cá nhân các chủ thể, người tự do có thể tự bán mình hoặc đặt mình cho người khác thì cho đến hiện nay những sự định đoạt kiểu như vậy đã không còn được thừa nhận, bản chất pháp lý của chủ thể là không thể tách rời khỏi con người thực của từng cá nhân Tiếp theo

đó, khi khái niệm và ý thức về cá nhân ngày càng phát triển và được đề cao, cá

7

Nguyễn Thị Quế Anh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011) 213-220

Trang 18

nhân ngày càng đạt được nhiều hơn nữa sự thừa nhận cho mình những quyền năng ngày càng mới Bên cạnh đó, sự phát triển của các quyền chủ thể luôn song song hành với sự phát triển xã hội của bản thân mỗi chủ thể cũng như những lợi ích của

họ ùng với sự phát triển không ngừng của trình độ kinh tế và văn hoá trong xã hội những yêu cầu về bảo vệ những quyền lợi của cá nhân cũng ngày càng gia tăng Bên cạnh đó sự tiến bộ xã hội chỉ có thể đạt được với sự tiến bộ của từng cá nhân;

sự thịnh vượng, phát triển đích thực của một xã hội được thể hiện trong sự phát triển của từng cá nhân và trong mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau

Ý nghĩa xã hội của các quyền trị nhân thân thể hiện ở khía cạnh sau: bản thân các giá trị nhân thân cùng việc bảo vệ các giá trị này góp phần xác định vị trí của con người trong xã hội, và do vậy, chúng có ý nghĩa như là sự thể hiện trình độ phát triển của toàn xã hội Bằng cách đó, mức độ tự do của cá nhân trong xã hội được qui chiếu với mức độ công bằng và tự do của chính xã hội iều đó đã được thể hiện trong Tuyên bố chung về quyền con người của Liên hiệp quốc ngày 10/10/1948 và trong ông ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm

1966 Tính chất tự nhiên và cần thiết của việc bảo vệ các giá trị nhân thân được thể hiện rất rõ ràng

Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và liên quan tới nó là vấn đề tự do kinh doanh đã tạo dựng những nền tảng vững chắc cho sự tự do kinh tế của các chủ thể, trong đó có các cá nhân Tự do trong lĩnh vực kinh tế tất nhiên sẽ tạo ra những nhu cầu mang tính khách quan đối với tự do cá nhân, tự do tinh thần Quyền nhân thân là một chế định pháp lý mang tính chất đa ngành, trong đó chứa đựng qui phạm của nhiều ngành luật khác nhau ơ sở nền tảng của việc điều chỉnh pháp lý đối với các giá trị nhân thân là những qui định của Hiến pháp 2013, trong đó ghi nhận hệ thống các giá trị nhân thân của con người được bảo vệ cùng những bảo đảm pháp lý cho việc thực thi những quyền nhân thân ác qui phạm của luật hình

Trang 19

sự hướng tới việc đấu tranh với các loại tội phạm xâm hại tới các giá trị nhân thân

cơ bản của con người như quyền được sống, quyền đối với sức khoẻ, tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm; v v ác quy định về hành chính, hôn nhân gia đình và các lĩnh vực pháp luật khác đều xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc ghi nhận và đảm bảo thực thi các quyền nhân thân, giới hạn can thiệp vào lĩnh vực cá nhân, trên cơ sở đó giúp cho việc ghi nhận những giới hạn trong việc thực thi các quyền nhân thân8

Như vậy, việc điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng pháp luật dân sự có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ lĩnh vực riêng tư của từng cá nhân Việc bảo vệ những giá trị nhân thân xuất phát trực tiếp từ những qui định của pháp luật về sự không tách rời, không chuyển giao của các quyền và tự do của các nhân, về bảo vệ đời sống của các nhân, tự do, danh dự, nhân phẩm của mỗi con người Qua 2 lần sửa đổi, chế định quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được hoàn thiện và có nhiều quy định cụ thể so với Bộ luật năm 2005 để giải quyết các vấn đề bất cập từ thực tiễn cũng như yêu cầu cụ thể hóa iến pháp năm 2013 về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân về dân sự- là một trong những chế định quan trọng của Bộ luật Dân sự Việt Nam

1 2 Bảo vệ quyền n ân t ân đối với đời sốn riên tư, bí mật cá n ân, bí mật

ia đìn

1.2 1 N ữn vấn đề c un về bảo vệ quyền n ân t ân đối với đời sốn riên tư, bí mật cá n ân, bí mật ia đìn

1.2.1.1 K ái niệm đời sốn riên tư, bí mật cá n ân, bí mật ia đìn

- ời sống riêng tư theo Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin của nhóm nhiều tác giả, thì tách bạch 02 cụm từ đời sống và riêng tư ời sống là thời gian sống, cách sống, cách sinh hoạt òn riêng tư là thuộc về một cá nhân, không

8

Nguyễn Thị Quế Anh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011) 213-220

Trang 20

chung đụng với người khác Như vậy đời sống riêng tư được hiểu là những việc thuộc về một cá nhân trong cuộc sống hàng ngày

- ũng theo Từ điển trên, bí mật là kín đáo, không cho người khác biết Như vậy bí mật cá nhân và bí mật gia đình là những việc kín đáo thuộc về cá nhân và gia đình của họ mà họ không cho người khác biết

Bí mật cá nhân có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản9 ó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ, các loại thư tín… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết

và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân,

bí mật gia đình ”có thể hiểu là “chuyện trong nhà, chuyện đời tư” của cá nhân nào

đó

Như vậy, quan điểm này cũng chỉ ra rằng đời sống riêng tư là những thông tin gắn liền với cá nhân; bí mật cá nhân, bí mật gia đình chỉ có thể mình họ hoặc một số người hạn chế biết được Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy thì cũng chưa bao quát được nội hàm của khái niệm bí mật cá nhân, bởi lẽ nếu hiểu bí mật cá nhân là những thông tin “chưa từng công bố cho bất kỳ ai” thì cũng không đúng ó trường hợp thông tin này đã được công bố nhưng bản thân người tiếp nhận thông tin phải

có nghĩa vụ bảo mật thông tin thì thông tin đó vẫn được coi là “bí mật cá nhân”

Tính “bí mật” trong khái niệm “bí mật đời tư” chỉ mang tính tương đối10

iều này có nghĩa là, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật, nhưng đối với người khác chỉ là một thông tin bình

Trang 21

thường, chẳng cần giấu giếm, có thể công khai rộng rãi hẳng hạn, cùng là mối quan hệ tình cảm nhưng đối với thì đây là bí mật đời tư vì không muốn ai biết mình đã có người yêu Ngược lại, đối với B thì đây không phải là bí mật đời tư vì B luôn muốn công khai cho mọi người biết tình trạng quan hệ bạn bè khác giới Nói cách khác, bất cứ cá nhân nào, nhất là người của công chúng như người mẫu, ca sĩ, diễn viên,… xuất hiện ở nơi công cộng (như cách hiểu nói trên) và có lời nói, hành động hoặc không hành động gắn liền với việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một sự việc, sự kiện nào đó thì những gì liên quan đến họ không còn là bí mật đời

tư nữa

Ví dụ: Người mẫu K nói về chuyện tình cảm riêng tư tại nhà riêng của mình, nếu người khác muốn sử dụng thông tin đó để chia sẽ trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì đương nhiên phải xin phép và nếu được sự đồng ý của K thì mới được đăng tải Nhưng nếu những thông tin đó, cô người mẫu này công khai với phóng viên báo chí tại buổi dạ hội, trả lời phỏng vấn sau hậu trường hoặc sau chuyến quay ngoại cảnh… thì không còn là bí mật đời tư của cô nữa và nếu người khác thu thập, công bố mà không có ý kiến của K thì không xem là xâm phạm quyền bí mật đời tư của cá nhân

1.2 1.2 P ân loại nội dun đời sốn riên tư, bí mật cá n ân, bí mật ia đìn

Theo phân tích ở khái niệm trên, thì bí mật đời tư có thể được hiểu là những

gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản ó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một

cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ gần gũi với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai Bí mật đời tư có thể hiểu là “vùng cấm”; điều thầm kín không thể tiết lộ, tuyệt đối được giữ kín của cá nhân nào đó Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân,

Trang 22

tình trạng bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín11… Thế nên bất cứ ai thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư cá nhân người khác (không cần phân biệt những thông tin, tư liệu ấy đang được cá nhân đó giữ bí mật hay đã được cá nhân

đó để lộ ra) mà không được sự đồng ý của cá nhân đó đều là xâm phạm bí mật đời

Tuy nhiên, không thể hiểu theo hướng nếu thông tin được công khai một cách hợp pháp thì không được coi là bí mật đời tư cá nhân12 Như trường hợp một phiên tòa giải quyết vụ án ly hôn của người nổi tiếng (ca sĩ, người mẫu, hoa hậu,…), tuy là công khai khi xét xử, nhưng những thông tin trong diễn biến phiên tòa có liên quan đến đời sống riêng tư, có tính “nhạy cảm” của cá nhân thì có được coi là bí mật đời tư của cá nhân không? ó ý kiến cho rằng việc sử dụng thông tin

có tính nhạy cảm của cá nhân trong trường hợp xét xử công khai tại phiên tòa không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư, hay nói cách khác, những thông tin mà tòa

án đã thẩm tra làm rõ trong khi xét xử tại phiên tòa, không còn là bí mật đời tư nữa Bởi lẽ theo quy định tại khoản 2 iều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phiên tòa phải được xét xử công khai Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì tòa án có thể xét xử kín, nhưng dù không xét xử công khai thì tòa án vẫn phải tuyên án công khai Do đó, những thông tin này đã mang tính công khai, tức là không thể còn là bí mật được nữa

Trang 23

Quan điểm khác lại cho rằng, cần phân biệt sự công khai thông tin tại tòa án giữa một vụ án dân sự với một vụ án hình sự Trong vụ án hình sự, những thông tin

đó liên quan đến người phạm tội, họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và chịu hình phạt do Nhà nước quy định nên những thông tin này có thể được công khai để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung ối với những thông tin trong

vụ án ly hôn nói riêng và vụ án dân sự nói chung, đó là thông tin chỉ liên quan đến bản thân đương sự, không ảnh hưởng gì đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hay lợi ích của người khác nên các đương sự có quyền không công khai những thông tin này Trường hợp này, việc họ phải khai báo công khai tại tòa án không đồng nghĩa với việc mất tính bảo mật của thông tin đó

Như vậy, do luật và các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chưa có hướng dẫn cụ thể và cũng không quy định chi tiết thế nào là “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ”, nên đây cũng là vấn đề pháp lý gây nhiều tranh cãi Ý kiến chung nhất của các chuyên gia thì cho rằng “bí mật” là thông tin cần được che giấu, không công khai, chỉ một số ít người liên quan được biết13

1 2 2 1 K ái niệm bảo vệ quyền n ân t ân đối với sốn riên tư, bí mật cá

n ân, bí mật ia đìn

Quyền riêng tư được hiểu là quyền tất cả những gì thuộc về đời sống riêng

tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nơi ở, thư tín, các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác cũng như danh dự, uy tín cá nhân Hiểu cụ thể, quyền riêng tư là một trong những quyền cơ bản và quan trọng của con người

Thật vậy, quyền đối với sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một trong những quyền nhân thân quan trọng gắn liền với mỗi cá nhân, là quyền bất khả xâm phạm, nó đã trở thành nguyên tắc hiến định ở nước ta ụ thể được quy định

13

Lê Văn Sua Bài viết tại địa chỉ http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1946

Trang 24

tại iều 21, iến pháp 2013 "mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn" Việc thực hiện quyền nêu trên tại iều 38 Bộ luật dân sự 2015, quy định như sau:

“1 Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm

và được pháp luật bảo vệ

2 Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý; việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác

3 Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc bóc

mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định

4 Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư,

bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Bộ Luật dân sự 2015 đã không tiếp tục sử dụng thuật ngữ “Quyền bí mật đời tư” như quy định tại BLDS 1995 và 2005 mà sử dụng thuật ngữ “Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” Sự thay đổi này là để phù hợp với quy định tại iều 21 iến pháp 2013 Tuy nhiên, nội dung quy định nói trên vẫn chưa đưa ra được khái niệm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Như vậy, mặc dù đã có nhiều thay đổi, bổ sung trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật về quyền bí mật đời tư của cá nhân nhưng hiện nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định hoặc hướng dẫn cụ thể, chi tiết như thế nào là

“bí mật đời tư” hay “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”

Trang 25

1 2 2 2 Tín c ất, đặc điểm của quyền n ân t ân đối với đời sốn riên tư, bí mật cá n ân, bí mật ia đìn

Tính chất, đặc điểm của quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thuộc hệ thống quyền nhân thân, là một trong quyền cơ bản của con người Việc tôn trọng quyền bí mật cá nhân, đời tư của người khác là nghĩa vụ của mọi người và cũng là nghĩa vụ của chính cá nhân người đó

Theo iều 25 của Bộ Luật dân sự 2015, quy định:

1 Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác

2 Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án

Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được

sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác

Quy định tại khoản 1 đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch14

Do quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thuộc hệ thống quyền nhân thân,

14

Bùi Đặng Hiếu, bài viết Khái niệm và phân loại quyền nhân thân, trên trang web Thông tin pháp luật dân sự, tại địa chỉ https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/11/18/4086/

Trang 26

nên nó cũng có các đặc điểm chung như quyền nhân thân và thêm một số đặc điểm riêng như sau:

* Không thể được chuyển giao: Quyền nhân thân do bản thân gắn liền với chủ

thể của quyền đó Sự tồn tại của chủ thể chính là lí do tồn tại của quyền, cũng chính

sự tồn tại của chủ thể quy định giá trị xã hội của quyền, đồng thời là điều kiện để giá trị đó được bảo tồn hủ thể cũng không thể chuyển giao quyền nhân thân của mình cho chủ thể khác trong lúc còn sống bởi sự hiện hữu của chủ thể khác không

lí giải được sự tồn tại của quyền nhân thân

* Không thể bị kê biên: Quyền nhân thân không thể được kê biên và đem bán

trong khuôn khổ một vụ cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ trả tiền Về mặt kĩ thuật, đây

là hệ quả của tính chất không thể chuyển giao của quyền nhân thân Suy cho cùng chẳng có lợi ích để kê biên một vật thuộc về một người, dù có giá trị tiền tệ, mà ta không thể chuyển giao quyền sở hữu cho một người khác

* Không mất đi do thời hiệu: Quyền nhân thân tồn tại ngay cả trong trường hợp

không được sử dụng trong một thời gian dài Nó có cùng sức sống với chính chủ thể hay đúng hơn với nhân thân pháp lý của chủ thể

Như vậy, quyền nhân thân nói chung, quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật

cá nhân, bí mật gia đình nói riêng liên quan mật thiết đến sự tự do của mỗi con người on người có sự tự do của mình, sự tự do đó không chỉ trong suy nghĩ mà còn trong các công việc mà họ làm Tuy nhiên, chúng ta hiểu bản chất con người là

tự do, bản chất của pháp luật là hạn chế, thì sự tự do của cá nhân luôn bị giới hạn bởi sự tự do của người khác iều đó có nghĩa rằng để thỏa mãn quyền nhân thân nói chung, quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nói riêng thì quyền này phải được xem xét trong mối tương quan giữa lợi ích cá nhân

và cộng đồng Thật vậy, có rất nhiều tình huống, trường hợp về hành vi đó là sự xâm phạm bí mật cá nhân, nhưng đặt nó trong mối tương quan giữa lợi ích cộng

Trang 27

đồng thì hành vi đó lại dễ dàng được chấp nhận Quyền đối với đời sống riêng tư,

bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bộ phận quan trọng của quyền con người và được pháp luật bảo vệ một cách toàn diện phù hợp với phong tục tập quán và công ước quốc tế

1.2.2.3 Một số trườn ợp bảo vệ quyền n ân t ân đời sốn riên tư, bí mật

cá n ân, bí mật ia đìn

iện nay chưa có một văn bản nào xác định chính xác những thông tin nào được coi là đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và những thông tin nào không phải là bí mật đời tư Qua nghiên cứu tác giả xin nêu ra một số trường hợp cụ thể, có quy định pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, như sau:

(i) Bảo vệ bí mật t ôn tin cá n ân tron lĩn vực y tế

Trong thời đại với nền công nghệ thông tin đa truyền thông, đa phương tiện như hiện nay, việc rò rỉ thông tin có tính cách riêng tư càng trở nên có nguy cơ cao hơn bao giờ hết, tính riêng tư và bảo mật của bệnh nhân

Pháp luật đã quy định người bệnh có quyền được tôn trọng bí mật riêng tư, được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án15

Thông tin này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định - Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh,

15

Khoản 1, Điều 8 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009

Trang 28

những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp được phép công bố như quy định trên16

Do đó, cơ sở y tế không được phép cung cấp thông tin trong hồ sơ bệnh án những trường hợp ngoại lệ về việc tiết lộ thông tin cá nhân trong hồ sơ bệnh lý không cần giấy uỷ quyền của đương sự nằm trong ba mục đích chính: (a) liên quan đến sự an nguy tính mạng của một số người khác, có tính cách pháp lý, thí dụ như một bệnh nhân đến tư vấn với một bác sĩ Tâm thần và thổ lộ anh ta sẽ có kế hoạch giết một người nào đó, về mặt đạo đức nghề nghiệp thì đó là thông tin cá nhân, nhưng về mặt đạo đức xã hội và luật pháp nếu nghiệm thấy vấn đề có thể nghiêm trọng thì người bác sĩ cần phải thông báo cho cơ quan hữu trách theo dõi; hoặc một nạn nhân đến điều trị với những vết thương nghi ngờ có liên quan hình sự như vết đạn bắn, dao đâm, thì cần phải liên lạc với cơ quan tư pháp, (b) liên quan đến lợi ích cho cộng đồng xã hội, như những trường hợp bệnh lây lan, sởi, dại DS v v , (c) liên quan đến quan hệ bảo hiểm sức khoẻ giữa cá nhân với bộ phận trả bảo hiểm17

(ii) Bảo vệ bí mật t ôn tin cá n ân tron lĩn vực giao dịc điện tử

Như phân tích ở trên giao dịch điện tử cũng nằm trong mối nguy cơ rò rỉ thông tin18

Sự rò rỉ thông tin có thể là vô ý, thiếu kiến thức và hiểu biết về nghiệp

vụ hoặc cố tình Dù bất kỳ lý do nào, dưới mọi hình thức nào thông tin riêng tư của bệnh nhân, cá nhân giao dịch điện tử được công bố ra ngoài mà không có sự ưng

Trang 29

thuận của cá nhân đó, hoặc dưới một số quy định của luật pháp là có thể vi phạm quy định nghề nghiệp, vi phạm pháp luật hay cả hai

ơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn các biện pháp bảo mật phù hợp với quy định của pháp luật khi tiến hành giao dịch điện tử19

ơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác20

Như vậy, những ai tiết lộ thông tin bất hợp pháp mà có thể gây thiệt hại về kinh tế vật chất hay tổn thương tinh thần, thể xác của cá nhân là có tội và các tội này sẽ được xử lý theo pháp luật hiện hành quy định ho đến ngày nay, vấn đề luật pháp liên quan đến tính bảo mật của bệnh nhân và thông tin giao dịch điện tử càng được đặt ra khi thời đại thông tin phát triển- thời đại cách mạng khoa học 4 0

(iii) Bảo vệ bí mật t ôn tin của n ười tiêu dùn

Bảo vệ thông tin của người tiêu dùng “Bí mật cá nhân của người tiêu dùng”

là thông tin liên quan đến cá nhân người tiêu dùng đã được người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan khác áp dụng các biện pháp bảo mật mà nếu tiết lộ hoặc

sử dụng thông tin này không có sự chấp thuận của họ sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ, tính mạng, tài sản hoặc các thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần khác với người tiêu dùng21

Trang 30

chỉ, điện thoại ); thông tin tài chính của người tiêu dùng (số tài khoản, số thẻ ngân hàng )22

mà còn bao gồm những thông tin mô tả hành vi, cách thức suy nghĩ và giao dịch của chính bản thân người tiêu dùng Sự phát triển kỳ diệu của công nghệ thông tin đã cho phép một số doanh nghiệp thậm chí có thể thu thập gần như toàn

bộ hành vi, thông tin của người tiêu dùng trong quá trình giao dịch, tham khảo thông tin trên mạng Internet, từ việc người tiêu dùng đang tìm kiếm sản phẩm, dịch

vụ gì; người tiêu dùng đang chia sẻ suy nghĩ gì hay chủ đề mà người tiêu dùng đang quan tâm trong các cuộc nói chuyện với bạn bè trên các mạng xã hội Tất cả các thông tin này được thu thập, tổng hợp và phân tích, từ đó giúp cho doanh nghiệp định hướng được những hoạt động, những nhóm người tiêu dùng mà doanh nghiệp sẽ tiếp cận để xúc tiến hoạt động quảng cáo, kinh doanh oạt động thu thập

và khai thác thông tin nêu trên thậm chí đã trở thành một khái niệm cơ bản trong nền kinh tế số - khái niệm Big Data – để chỉ các hoạt động thu thập, phân tích và sử dụng thông tin ở quy mô siêu lớn với sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin siêu khổng lồ ác doanh nghiệp như oogle, Microsoft, mazon, Facebook là những ví dụ tiêu biểu cho việc ứng dụng Big Data vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành từ năm 2010 đã có quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ thông tin của người tiêu dùng ụ thể như sau:

- Người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu23

Trang 31

- Trường hợp thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm24

: + Thông báo rõ ràng, công khai trước khi thực hiện với người tiêu dùng về mục đích hoạt động thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng; - Sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý;

+ Bảo đảm an toàn, chính xác, đầy đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng;

+ Tự mình hoặc có biện pháp để người tiêu dùng cập nhật, điều chỉnh thông tin khi phát hiện thấy thông tin đó không chính xác;

+ Chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có

sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đặt ra và dự liệu các trường hợp thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng để chỉ rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Theo quy định thì cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông báo rõ ràng, công khai về mục đích thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng trước khi tiến hành hoạt động này Tuy nhiên, trong hầu hết các giao dịch hiện nay, khi được yêu cầu cung cấp các thông tin để “làm hợp đồng” cung cấp dịch vụ, hàng hóa, khách hàng đều thụ động trước các cá nhân, tổ chức kinh doanh25

Người tiêu dùng sẵn sàng cung cấp thông tin cá nhân theo yêu cầu nhằm đạt được mục đích là được cung cấp dịch vụ hàng hóa trong khi cá nhân, tổ chức kinh doanh không hề

Trang 32

thông báo, chỉ rõ cho người tiêu dùng biết việc thông tin cá nhân của họ sẽ được sử dụng vào mục đích gì

(iv) Bảo vệ sự riên tư về chổ ở của cá n ân

Phạm tội xâm phạm chỗ ở của công dân là thực hiện các hành vi: khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của

họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm

về chỗ ở của công dân26

ây là tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, chỗ ở được hiểu là những nơi ở hợp pháp, nơi thường trú, nơi tạm trú không phân biệt là

to, nhỏ, nhà lớn hay nhà bé, chỗ ở cố định hay di động…

Hành vi của người phạm tội sẽ thuộc một trong những nhóm hành vi sau:

ành vi khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, vào khám chỗ ở của

họ mà không được sự đồng ý của họ, hành vi khám xét trái quy định của pháp luật

về khám xét, hành vi này có thể là người không có thẩm quyền khám xét nhưng lại thực hiện việc khám xét hay người có thẩm quyền khám xét lại không thực hiện đúng việc khám xét, theo các trình tự, thủ tục mà pháp luật về Tố tụng hình sự đã quy định

ành vi đuổi người khác ra khỏi chỗ ở của họ là hành vi buộc họ phải đi khỏi chỗ ở của họ một cách bất hợp pháp, không phải là người có thẩm quyền trong việc buộc người khác phải ra khỏi chỗ ở của họ như: Thực hiện việc cưỡng chế thi hành bản án…

ác hành vi khác như tự ý pháp khóa vào nhà người khác để ở nhân lúc họ không có nhà

26

Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật- Bộ Tư pháp: Một số quy định pháp luật quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Trang 33

Ngoài ra cũng cần xem xét đến các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực

để xâm phạm trái phép chỗ ở của người khác

Theo đó, Khoản 1,2,3 Điều 124, Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung

2009, quy định về tội xâm phạm chỗ ở của công dân, như sau:

1 Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm: a) ó tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) ây hậu quả nghiêm trọng

3 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm

(v) Bảo vệ bí mật hoặc an to n t ư tín, điện thoại, điện tín của cá n ân

ối với thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của

cá nhân, nếu không thuộc trường hợp pháp luật có quy định và không có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không ai có quyền kiểm soát, xâm phạm nội dung các thư tín đó Tuy nhiên, xâm phạm, bóc mở thư tín trái phép, gây thất lạc thư tín của công dân (cả thư thường lẫn thư điện tử, điện thoại) vẫn đang diễn ra phức tạp iều đó cho thấy, nhu cầu bảo mật đối với các hình thức chuyển tải thông tin riêng tư được đặt ra và cần được pháp luật bảo vệ27

Phạm tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác là thực hiện các hành vi: chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có

27

Cơ quan chủ quản Bộ thông tin truyền thông, tại trang web: phap-nam-2013-va-cac-bien-phap-bao-dam-bang-phap-luat-p2 4553-bcvt.htm

Trang 34

http://ictvietnam.vn/quyen-rieng-tu-trong-hien-hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác28

Theo quy định tại iều 125 Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì người nào có hành vi nêu trên mà đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm, như sau:

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm: ó tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Phạm tội nhiều lần; ây hậu quả nghiêm trọng; Tái phạm

+ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm

1.2.2.4 Vai trò của việc bảo vệ quyền n ân t ân đời sốn riên tư, bí mật cá

n ân, bí mật ia đìn

Trong thời đại công nghệ số hóa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc đưa các thông tin cá nhân của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau, đã dần trở nên quen thuộc Việc làm này một mặt giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội, nhưng mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị người khác đánh cắp thông tin để thực hiện những hành vi trái pháp luật như giả mạo bạn bè, người thân để lừa đảo, làm giả thẻ ngân hàng…

Bên cạnh đó, không khó để tìm kiếm được trên mạng thông tin cá nhân, những bí mật gia đình, đời sống tình cảm riêng tư của một số chính trị gia, diễn viên, ca sĩ, người mẫu nổi tiếng, thậm chí là những ồn ào xung quanh vụ scandal trong giới showbiz hưa bàn tới việc những thông tin này khi đăng tải có được sự

28

Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật- Bộ Tư pháp: Một số quy định pháp luật quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Trang 35

cho phép của người trong cuộc hay không, việc công khai những thông tin đó có thể dẫn đến tổn hại về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân người đó hính vì thế, việc biết được những thông tin cá nhân của mình có được pháp luật bảo vệ hay không, phạm vi thông tin cá nhân được bảo vệ như thế nào, mức độ bảo

vệ ra sao… là điều hết sức quan trọng và cần thiết ây chính là những quy định của pháp luật “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, một trong những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật dân sự bảo vệ

Việc bảo vệ nó tưởng chừng như đơn giản, nhưng trên thực tế, sự vi phạm trong thời gian qua có thể nói là đang tràn lan, trở thành mối lo cho xã hội Việc ngăn chặn sự xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân thực sự khó khăn trong kỷ nguyên internet này, khi mà thông tin được lan truyền rất nhanh chỉ sau một cái

“nhấp” chuột máy tính, rất nhiều thông tin đời tư cá nhân đáng ra phải được bảo vệ

bị phơi bày Những người có thông tin cá nhân, hoặc người thân của họ bị tiết lộ đôi khi gặp quá nhiều rắc rối trong cuộc sống, khi kẻ xấu sử dụng thông tin của họ nhằm thực hiện hành vi phi pháp…

Quyền được bảo vệ đời tư trước hết được đề cập tại iều 12 Tuyên bố quốc

tế về Nhân quyền được ại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã ghi nhận rằng “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy” Quyền được bảo vệ đời tư được tái khẳng định tại iều 17 ông ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó nêu rằng: Không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy

ây là khuôn mẫu chung cần được đạt đến của mọi quốc gia và mọi dân tộc

Trang 36

Kết luận c ươn 1

Trong tất cả các quyền con người, có lẽ quyền riêng tư là khó định nghĩa nhất ó thể khái quát chưa đầy đủ bí mật đời tư của một cá nhân là các thông tin tài liệu về đời tư; thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân mà người đó không muốn tiết lộ cho người khác biết Mỗi cá nhân đều

có một đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và những điều này được pháp luật tôn trọng, bảo vệ khỏi sự xâm hại Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh

dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân Như vậy, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của mỗi người là của riêng người

đó, không ai có quyền xâm phạm Việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật

Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật cho phép thu thập, công bố, thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân nhưng với điều kiện là phải có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (ví dụ: việc cơ quan nghiên cứu lịch sử, văn hóa được phép sưu tầm, cho công bố dưới dạng sách, báo, phim tài liệu, báo cáo khoa học… những thông tin, tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân nào đó, trong đó có thể có những tình tiết, sự kiện thuộc về bí mật đời tư của danh nhân đó) Mặc dù vậy, khi công bố bí mật đời tư của các nhân trong trường hợp này luôn luôn phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, trong đó có quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Tại hương 1, luận văn đã tập trung xác lập khung cơ sở lý luận chung về bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như: khái quát về quyền nhân thân; bảo về quyền nhân thân đối với đời sống riêng

Trang 37

tư; một số trường hợp cụ thể về quyền nhân thân và vai trò của việc bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Ngày đăng: 17/01/2021, 00:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w