Bắc Ninh đang dần trở thành điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhờ tổ chức tốt công tác XTĐT vào KCN của các cơ quan quản lý Nhà nước cấp tỉnh cũng như [r]
Trang 1CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƯ
VÀO KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về khu công nghiệp
KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của pháp luật
KCN ở Việt Nam hiện nay có nhiều đặc điểm thuận lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về XTĐT vào KCN
XTĐT là những hoạt động kinh tế - xã hội nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thu hút các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước đến đất nước mình, địa phương mình… để đầu tư Hoạt động XTĐT thực chất là hoạt động marketing trong thu hút đầu tư mà kết quả của hoạt dộng này chính là nguồn vốn đầu tư thu hút được Các yếu tố tạo thành chiến lược marketing của một số sản phẩm hữu hình gần giống như các yếu tố tạo nên chiến lược XTĐT
Hoạt động XTĐT vào KCN có vai trò là cầu nối giữa các doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng KCN và nhà đầu tư
Chủ thể của hoạt động XTĐT vào KCN ở địa phương là UBND, Trung tâm XTĐT và Ban quản lý các KCN cấp tỉnh, doanh nghiệp xây dựng hạ tầng KCN
Nội dung XTĐT của CQXTĐT địa phương gồm 6 loại hình hoạt động chính: Xây dựng chiến lược về XTĐT, xây dựng hình ảnh, xây dựng quan hệ, lựa chọn mục tiêu và tạo cơ hội đầu tư, cung cấp dịch vụ và hỗ trợ nhà đầu tư và đánh giá giám sát công tác XTĐT
Trang 2Đối với các doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng, nội dung XTĐT của
họ là phải cung cấp sản phẩm là hạ tầng kỹ thuật tốt nhất cho nhà đầu tư, kết hợp với các hình thức tuyên truyền, quảng bá hình ảnh KCN
Công tác XTĐT vào KCN bị ảnh hưởng bởi những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và môi trường vi mô của KCN
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố về tự nhiên và xã hội, về chính trị, ngoại giao, về chính sách pháp luật, về quản lý nhà nước và thủ tục hành chính Trong khi đó môi trường vi mô là những yếu tố về khách hàng, đối thủ cạnh tranh và mối quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương
Để thực hiện hoạt động XTĐT vào KCN, các chủ thể XTĐT sử dụng
ba loại công cụ chính, đó là: xây dựng hình ảnh, triển khai kế hoạch, hoạt động và các dịch vụ hỗ trợ đầu tư
Hoạt động XTĐT vào KCN thực sự đạt hiệu quả khi nó đáp ứng được những yêu cầu cho sự phát triển kinh tế của đất nước, của vùng và của địa phương
1.3 Một số kinh nghiệm xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp ở các địa phương khác
Hà Nội và Hải Dương là hai địa phương ở đồng bằng Bắc Bộ, liền kề với tỉnh Bắc Ninh Quá trình hình thành và phát triển các KCN ở hai địa phương đã để lại nhiều kinh nghiệm và là bài học quý giá đối với công tác XTĐT vào các KCN tỉnh Bắc Ninh Đó là những bài học về sự phối hợp giữa các CQXTĐT ở địa phương, bài học về tận dụng những lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư, cũng như cải cách hành chính giảm phiền hà cho các doanh nghiệp sẽ ghóp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các KCN trong thu hút đầu tư trong và ngoài nước
Trang 3CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÚC TIẾN ĐẦU TƯ VÀO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH
2.1 Đặc điểm chung về tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội Bắc Ninh nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh
Kể từ khi tái lập tỉnh năm 1997, kinh tế Bắc Ninh đã có sự phát triển mạnh mẽ, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 14,5%
Tuy là tỉnh không giàu về tài nguyên khoáng sản, nhưng mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông của tỉnh Bắc Ninh rất thuận lợi
Với vị trí địa lý và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, xét tầm không gian lãnh thổ vĩ mô, Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh
2.2 Khái quát về sự phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Ban đầu KCN Tiên Sơn được thành lập theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 19/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích phê duyệt giai đoạn I: 134ha và khởi công tháng 12/2000 Đến nay có 10 KCN với tổng diện tích 6.459ha (KCN 5.475ha và Khu đô thị 984ha) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QQĐ-TTg ngày 21/8/2006 quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Trong đó: 04 KCN đã đi vào hoạt động (Tiên Sơn, Quế Võ I, Đại Đồng – Hoàn Sơn, Yên Phong I); 02 KCN mới khởi công xây dựng (VSIP Bắc Ninh, Quế Võ II); 03 KCN đang đền bù và chuẩn bị đầu tư xây dựng hạ tầng (Nam Sơn - Hạp Lĩnh, Đại Kim, Yên Phong II);
01 KCN đang khảo sát, lập quy hoạch (Thuận Thành I)
Trang 4Tổng hợp giai đoạn từ năm 2000 - 2005 có 55 dự án đi vào hoạt động (42 dự án đầu tư trong nước, 13 dự án đầu tư nước ngoài), giá trị SXCN năm 2005 đạt 1.800 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 19,1 tr.USD, nộp ngân sách 51 tỷ đồng Đến nay đã có 135 dự án đi vào hoạt động, giá trị SXCN 6 tháng đầu năm 2008 đạt 5.049,2 tỷ đồng (chiếm trên 50% giá trị SXCN toàn tỉnh), nộp ngân sách đạt 159,45 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt
246 tr.USD Trong số dự án đi vào hoạt động phải kể đến dự án có vốn đầu nước ngoài chỉ chiếm 38,2% tổng số dự án, 70,35 tổng vốn đăng ký, 40%
dự án đi vào hoạt động nhưng đóng góp trên 86% giá trị SXCN và 96% giá trị xuất khẩu
Sau 10 năm xây dựng và phát triển các KCN Bắc Ninh đã đạt được những kết quả thiết thực, tạo diện mạo mới cho ngành công nghiệp, đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong quá trình CHN, HĐH
Hiện nay tỉnh Bắc Ninh có 10 KCN tập trung, bao gồm: Khu công nghiệp Tiên sơn, Khu công nghiệp Quế Võ, Khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn, Khu công nghiệp và đô thị Yên Phong I, Khu công nghiệp và đô thị Yên Phong II, Khu công nghiệp Nam Sơn - Hạp Lĩnh, Khu công nghiệp Quế Võ II, Khu công nghiệp Thuận Thành I, Khu công nghiệp Đại Kim, Khu công nghiệp đô thị VSIP Bắc Ninh,
2.3 Thực trạng công tác XTĐT vào các KCN tỉnh Bắc Ninh
Ban quản lý KCN Bắc đã xây dựng chu trình thực hiện XTĐT vào KCN Điều này tạo ra một quy chuẩn cho hoạt động XTĐT vào KCN ở tỉnh
Ban quản lý các KCN Bắc Ninh đã thực hiện tốt cơ chế "một cửa, tại chỗ", cải cách các thủ tục hành chính đảm bảo đúng quy định nhưng thông thoáng, dễ thực hiện nhằm tạo thuận lợi nhất cho nhà đầu tư, giám sát tình hình thực hiện dự án, hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp suốt vòng đời dự
án Từ đó góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với KCN
Trang 5Tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện đầy đủ chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trong KCN
Chính sách thu hút đầu tư của tỉnh cũng đã có sự thay đổi, đã chuyển hướng xúc tiến đầu tư theo chuỗi (các tập đoàn lớn và cụm các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN, nhà đầu tư tài chính) để kéo theo nhiều nhà đầu tư thứ cấp khác tạo giá trị gia tăng cao, thay thế hình thức xúc tiến đơn lẻ trước đây
Thêm vào đó, tỉnh cũng đã tổ chức nhiều đoàn vận động đầu tư tới các tỉnh thành trong nước và các nước trên thế giới
Hoạt động hiệu quả của Trung tâm XTĐT
- Trung tâm đã chủ động mời các bên gặp gỡ, thảo luận và ký kết bản Quy chế phối hợp xúc tiến đầu tư giữa Trung tâm Xúc tiến Đầu tư với Ban quản lý các KCN, các công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp của tỉnh
- Lập showroom để trưng bày các hình ảnh, bản đồ, brochure, đĩa CD-ROM của các KCN và của các công ty phát triển hạ tầng KCN cũng như các doanh nghiệp trong các KCN
- Phối hợp với văn phòng đại diện của Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Tp Hồ Chí Minh để giới thiệu về các khu công nghiệp của tỉnh trong các hội thảo, hội nghị tại Singapore
- Giới thiệu trực tiếp vị trí, cung cấp thông tin, dẫn đi tham quan nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu tìm địa điểm đầu tư vào các khu công nghiệp
và hướng dẫn họ đến gặp các phòng chức năng của Ban quản lý và các công ty khai thác hạ tầng khu công nghiệp
- Có nhiều biện pháp hỗ trợ nhà đầu tư
Với những nỗ lực của các CQXTĐT trong thời gian qua, công tác XTĐT vào các KCN tỉnh Bắc Ninh đã thu được nhiều thành quả:
Nếu như hết năm 2005 thu hút được 162 dự án với tổng vốn đăng ký 604,22 tr.USD, thuê 465,2ha đất công nghiệp, đạt 1,3 tr.USD/ha và 3,73 tr.USD/dự án, chủ yếu dự án đầu tư trong nước (127 dự án với tổng vốn
Trang 6đăng ký 429,46 tr.USD, chiếm 78,4% số dự án và 71,1% vốn đăng ký) Thì
từ năm 2006 đến nay thu hút được 148 dự án với tổng vốn đăng ký 1.828,97 tr.USD, thuê 294,58ha đất công nghiệp, đạt 6,2 tr.USD/ha và 12,36 tr.USD/dự án, chủ yếu dự án đầu tư nước ngoài (86 dự án với tổng vốn đăng ký 1.540,74 tr.USD, chiếm 58,1% số dự án và 84,24% vốn đăng ký) Như vậy đến 31/12/2007 đã thu hút được 312 dự án với tổng vốn đăng
ký 2.496,83 tr.USD, thuê 759,78ha đất công nghiệp, đạt 3,2 tr.USD/ha và 7,85 tr.USD/dự án, chủ yếu dự án đầu tư nước ngoài (120 dự án với tổng vốn đăng ký 1.761,7 tr.USD, chiếm 38,5% số dự án và 71% vốn đăng ký)
Tỷ lệ vốn đầu thực hiện bình quân đạt trên 40% Đặc biệt đã thu hút được một số dự án đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp lớn: VSIP Bắc Ninh (Singapore), Tập đoàn IGS (Hàn Quốc), Foxconn (Honghai)…Các dự án lớn (FDI) gần đây chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực điện, điện tử, viễn thông công nghệ cao của các tập đoàn Canon 2 dự án, Sumitomo, Foxconn, Samsung, Longtech, Mitac… là cơ sở định hướng phát triển nghành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh trong thời gian tới
Do được triển khai xây dựng khá sớm, hai KCN Tiên Sơn và Quế Võ gần như đã được lấp đầy và đang triển khai xây dựng các khu vực mở rộng Hai KCN khác của tỉnh là Đại Đồng – Hoàn Sơn và Yên Phong tuy được xây dựng và bổ sung vào quy hoạch muộn hơn nhưng đã thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư với tỷ lệ lấp đầy lần lượt là 67% và 50% Các KCN còn lại vẫn đang trong quá trình xây dựng
Nếu như giai đoạn từ năm 2000 - 2005 tổng số lao động làm việc tại các KCN là 8.168 người (lao động địa phương chiếm 52%) Đến nay số lượng lao động làm việc tại các KCN là 26.049 người (lao động địa phương chiếm 42%) Việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp KCN đang gặp mâu thuẫn khó tuyển dụng, đó là thiếu lao động kỹ thuật, có tay nghề trong khi số lao động cần tạo công ăn việc làm còn rất dư thừa
Tỷ lệ lao địa phương đang có xu hướng giảm dần từ 52% năm 2005 xuống 50% năm 2006, 42,4% năm 2007 và 42% trong 6 tháng đầu năm
2008, dự báo sự biến động giảm lao động địa phương sẽ tỷ lệ nghịch với
Trang 7tốc độ phát triển các KCN Lao động địa phương tính kỷ luật chưa cao, hay
tự ý bỏ việc vào các dịp lễ tết; nhiều vụ việc mất cắp, gây rối tại doanh nghiệp hầu hết do lao động địa phương gây ra
Khu công nghiệp Quế Võ - mô hình KCN kết hợp với quần thể dân
cư và đô thị đầu tiên ở Việt Nam, là dự án do Công ty Cổ Phần Phát Triển
Đô Thị Kinh Bắc - đơn vị chủ đầu tư là thành viên trong chuỗi các KCN thuộc tập đoàn SAIGONINVEST, tập đoàn chuyên nghiệp về xây dựng , quản lý và điều hành KCN, rất thành công với KCN Tân Tạo - Khu công nghiệp lớn nhất ở Thành Phố Hồ Chí Minh
KCN Quế Võ ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư như hỗ trợ vay vốn ưu đãi, cung cấp miễn phí thông tin thị trường,
KCN Quế Võ coi hoạt động XTĐT là hoạt động bao trùm cả hoạt động marketing để tiêu thụ sản phẩm là đất đai, là dịch vụ của KCN Vì vậy, chiến lược marketing của KCN Quế Võ được đề cập đến rất nhiều yếu tố:
Am hiểu các lĩnh vực liên quan đến các ngành nghề công nghiệp như gặp khách hàng thuê đất làm việc trong lĩnh vực sản xuất lĩnh vực sản xuất linh kiện ô tô thì yêu cầu cần thiết đối với cán bộ kinh doanh phải có một chút kiến thức về ngành nghề đó như: thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu, thuế,… và đã giới thiệu những điểm mạnh của Quế Võ cho nhà đầu tư;
Xác định giá đúng cơ sở giá cho các loại sản phẩm đất đai, nhà xưởng, dịch vụ,…
Tăng cường giới thiệu các dịch vụ mới, chính sách mới về sản phẩm mới tới nhà đầu tư
Thường xuyên viết bài trên báo, tạp chí chuyên ngành (Đầu tư, Thời báo kinh tế Việt Nam, tạp chí KCN, tạp chí công nghiệp,…)
Tổ chức mạnh mẽ trong giai đoạn đầu hoạt động quan hệ cộng đồng, bao gồm: tổ chức hội thảo và hội nghị nhà đầu tư, họp báo, tiếp xúc với nhà đầu tư thường xuyên,…
Trang 8Các phương pháp xúc tiến mà KCN Quế Võ sử dụng trong giai đoạn hiện nay: thu hút đầu tư trực tiếp, chính sách hỗ trợ, kế hoạch Marketing, tổ chức hội thảo và đoàn đi vận động đầu tư, sử dụng hệ thống Internet và thư điện tử, sử dụng thư trực tiếp, kế hoạch phát triển và kế hoạch kinh doanh đúng hướng, quan hệ cộng đồng, ban hành những tài liệu, sách hướng dẫn đầu tư vào KCN ở Việt Nam, hợp tác xúc tiến đầu tư để tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đầu tư vào KCN
KCN Quế Võ cũng có những chính sách ưu đãi từ nội bộ KCN như: xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ và năng lực, có nhiều biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp đang hoạt động trong KCN
Ngoài ra, KCN Quế Võ luôn có sự hỗ trợ của các cơ quan trung ương và của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Khu công nghiệp Tiên Sơn được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 18/12/1998 và chính thức được cho thuê đất kể từ 22/12/1999 với thời hạn thuê là 50 năm Đây là một trong các mô hình khu công nghiệp đầu tiên trong cả nước được xây dựng đồng
bộ về kinh tế và xã hội: khu công nghiệp gắn liền với khu đô thị, nhà ở và các dịch vụ hạ tầng xã hội với tổng diện tích quy hoạch lên tới 600 ha
KCN Tiên Sơn xác định sử dụng lợi thế về vị trí và cơ sở hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Hệ thống giao thông nội bộ chiếm 15% tổng diện tích KCN, được xây dựng hoàn chỉnh và bố trí hợp lý trong khuôn viên của KCN
Đảm bảo cấp điện đầy đủ và ổn định đến hàng rào cho mọi Nhà đầu
tư trong KCN Nhà đầu tư có thể lựa chọn sử dụng điện trung thế hoặc hạ thế tuỳ theo nhu cầu
Hệ thống bể nước điều hoà dung tích lớn và mạng lưới cấp nước nhằm đáp ứng mọi nhu cầu về nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho các doanh nghiệp trong KCN Nước thải công nghiệp được thu gom và xử lý tại Trạm xử lý nước thải chung của KCN
An ninh, dịch vụ ngân hàng, thông tin liên lạc, thuận tiện cho các nhà đầu tư
Trang 9Thêm vào đó là các biện pháp hỗ trợ đầu tư cũng làm tăng hiệu quả trong hoạt động XTĐT của KCN Tiên Sơn như: thủ tục thực hiện đầu tư, cung cấp thông tin cần thiết cho nhà đầu tư
Công tác xúc tiến, vận động đầu tư vào các KCN tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã có được nhiều thành tựu, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các KCN Tuy vậy, trong quá trình thực hiện XTĐT vẫn còn tồn tại một số thiếu sót cần khắc phục
Chất lượng hoạt động XTĐT thường chưa cao Các ấn phẩm và tài liệu giới thiệu thường chưa được thiết kế hợp lý và các nhà đầu tư thường gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập thông tin về các cơ hội đầu tư Các trang Web chưa được cập nhật thường xuyên và chưa thuận tiện cho người
sử dụng
Tỉnh đã tổ chức nhiều chuyến đi và hội thảo XTĐT ở trong nước và nước ngoài, tuy nhiên tính hiệu quả của các chuyến đi và hội thảo này chưa cao
Thủ tục cấp giấy phép được đơn giản hóa và thời gian cấp giấy phép
đã được rút ngắn rất nhiều Tuy vậy, các dịch vụ sau khi cấp giấy phép vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu và vấn đề này vẫn là điểm trở ngại cho ĐTNN Hiệu quả của chính sách “một cửa” vẫn chưa cao
Trình độ ngoại ngữ thấp và thiếu kỹ năng tiếp thị là những vấn đề chính làm giảm hiệu quả của các chương trình XTĐT
Hạn chế về ngân sách đã hạn chế khả năng của các tổ chức trong việc tổ các hoạt động xúc tiến hiệu quả
Trang 10CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CÔNG CÁC XÚC TIẾN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC NINH
3.1 Quan điểm và định hướng phát triển khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Mục tiêu phát triển các KCN tại Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 là hình thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh là tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các KCN, cụm công nghiệp, phấn đấu đến năm
2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tạo tiền đề đến năm 2020 là một trong những tỉnh dẫn đầu trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 17 đã đưa ra định hướng
chính cho việc phát triển các KCN trong thời gian tới là:
- Tăng cường thu hút các nhà đầu tư để lấp đầy các KCN hiện có
- Xây dựng các KCN phải tính đến việc xây dựng các khu đô thị để đảm bảo nhà ở và sinh hoạt văn hóa, xã hội cho người lao động
- Xây dựng các khu, cụm công nghiệp phải gắn liền với xây dựng hệ thống xử lý chất thải để bảo vệ môi trường, môi sinh
- Phát triển các cụm, điểm công nghiệp để thúc đẩy phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn
3.2 Giải pháp đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư vào các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Nâng cao chất lượng quy hoạch KCN để phục vụ công tác XTĐT: