Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trại chăn nuôi lợn cùng toàn thể các anh chị cán bộ kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian em thực tậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ THẢO
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LÊ VĂN TUẤN,
XÃ BÌNH XUYÊN - HUYỆN BÌNH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2015 - 2019
Thái Nguyên - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ THẢO
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LÊ VĂN TUẤN,
XÃ BÌNH XUYÊN - HUYỆN BÌNH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp : K47 - CNTY – Marpha Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Phùng Đức Hoàn
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành kỹ sư chăn nuôi trong tương lai, ngoài việc trang bị cho mình một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn tiếp cận với thực tế sản xuất Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan trọng đối với tất cả các sinh viên các trường Đại học nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành” Thực tập tốt nghiệp cũng
là quá trình giúp cho sinh viên rèn luyện tác phong khoa học đúng đắn, tạo lập
tư duy sáng tạo để trở thành kỹ sư có trình độ năng lực làm việc, góp phần vào việc xây dựng và phát triển nông thôn mới nói riêng và đất nước nói chung Được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Phùng Đức Hoàn, cùng với sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận này Do thời gian
và kiến thức có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em mong nhận được sự đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Sinh viên
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo của khoa Chăn nuôi thú y đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua cũng như trong quá trình em đi thực tập tốt nghiệp
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Phùng Đức Hoàn đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trại chăn nuôi lợn cùng toàn thể các anh chị cán bộ kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian em thực tập tại trang trại vừa qua
Em xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập và tổng hợp báo cáo do em chưa có được nhiều kinh nghiệm nên khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi những sai sót, hạn chế
Em kính mong nhận được sự góp ý hoàn thiện của Quý thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Thảo
Trang 5
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Quy định khối lượng thức ăn chuồng lợn nái có chửa 30
Bảng 3.2 Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ 32
Bảng 3.3 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại 34
Bảng 3.4 Lịch sát trùng áp dụng tại trại 35
Bảng 4.1: Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm gần đây 37
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác cho lợn ăn 38
Bảng 4.3: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chuồng trại 41
Bảng 4.4: Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn 43
Bảng 4.5: Kết quả lợn mắc bệnh tại trại trong thời gian thực tập 44
Bảng 4.6: Kết quả lợn mắc bệnh tại trại trong thời gian thực tập 45
Bảng 4.7: Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 46
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 47
Bảng 4.9: Kết quả một số công tác khác 48
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của cơ sở thực tập 4
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của trại 8
2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 8
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái 8
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 12
2.2.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái 16
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 21
2.2.5 Một số thuốc phòng và trị bệnh thường dùng 24
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 26
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28 3.1 Đối tượng 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung tiến hành 28
Trang 73.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 28
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.2 Phương pháp theo dõi 28
3.4.3 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu 36
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Cơ cấu đàn lợn nái nuôi tại cơ sở trong 3 năm gần đây 37
4.2 Công tác chăn nuôi và chăm sóc, nuôi dưỡng 38
4.2.1 Công tác chăn nuôi 38
4.2.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 39
4.3 Công tác thú y 40
4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 40
4.3.2 Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn 43
4.4 Kết quả công tác theo dõi tình hình mắc bệnh của lợn nái 44
4.4.1 Kết quả công tác phát hiện bệnh trên đàn lợn nái 44
4.4.2 Kết quả công tác phát hiện bệnh trên đàn lợn con 45
4.5 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại trại 46
4.5.1 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 46
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con 47
4.6 Kết quả thực hiện một số công tác khác 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội theo hướng giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng chiếm vị trí hết sức quan trọng Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm với
tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt
Chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng trong ngành chăn nuôi lợn, góp phần quyết định thành công của ngành chăn nuôi lợn, đặc biệt trong việc nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh, nhiều nạc Mặt khác đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh về số lượng và chất lượng đàn lợn
Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng có thể gây nên thiệt hại đáng
kể Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy
mô chăn nuôi và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng đàn lợn Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có những nghiên cứu áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về lượng và chất
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn nêu trên, chúng em tiến hành
thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị
bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Lê Văn Tuấn, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương”
Trang 101.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần vào nguồn
tư liệu về một số bệnh sinh sản trong chăn nuôi lợn nái sinh sản và biện pháp phòng trị bệnh tại cơ sở
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu xác định được một số bệnh thường xảy ra ở lợn nái sinh sản, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh tốt hơn
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Bình Giang là một trong 10 huyện thuộc tỉnh Hải Dương Huyện nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Dương, có diện tích tự nhiên là 104,7 km2 Huyện có ranh giới:
Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng Phía Nam giáp huyện Thanh Miện
Phía Đông giáp huyện Gia Lộc
Phía Tây giáp huyện Ân Thi và Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên Bốn mặt huyện Bình Giang đều có sông: sông Kẻ Sặt ở phía Bắc, sông Đình Hào ở phía Đông, sông Cửu An ở phía Tây, sông Cầu Lâm, Cầu Cốc ở phía Nam Trong đó, sông Sặt bắt nguồn từ sông Hồng, qua cổng Xuân Quan, qua cầu Lực Điền, cầu của đường 39A, nối quốc lộ 5A với thành phố Hưng Yên, tiếp cận với huyện Bình Giang tại vị trí sát làng Tranh Ngoài, xã Thúc Kháng Đến đây sông có nhánh chạy dọc theo phía Tây của huyện, gọi là sông Cửu An; một nhánh chạy dọc phía Bắc của huyện gọi là sông Kẻ Sặt, thông với sông Thái Bình, qua Âu Thuyền, thành phố Hải Dương
Trang 12Hiện nay, Bình Giang đang phát triển thành một đô thị phía Tây của tỉnh Hải Dương
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của cơ sở thực tập
* Quá trình thành lập
Trang trại lợn nái sinh sản Lê Văn Tuấn nằm trên địa bàn của thôn Dinh Như - Huyện Bình Giang - Tỉnh Hải Dương Là trại lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Lê Văn Tuấn làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
* Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm
+ Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại
+ Nhóm cán bộ kỹ thuật, tài chính: 2 kỹ sư, 2 kỹ thuật điện
+ Nhóm nhân viên: 10 công nhân, 3 sinh viên thực tập
* Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại nằm trên khu vực xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đường giao thông đã được nâng cấp bê tông hóa, thuận tiện cho
việc đi lại, vận chuyển Trại lợn cách khu dân cư khoảng hơn 1km
Trại có diện tích đất rộng trong đó có:
- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải: 2 ha
- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại: 4 ha
Trang 13Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 600 nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (mỗi chuồng có 58 ô), 1 chuồng nái chửa (chuồng có 560 ô), 1 chuồng cách ly cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc, kho cám
Trại gồm 4 khu chính: khu nhà ăn, ở cho công nhân, khu nhà để cám và kho thuốc, khu để dụng cụ chăn nuôi, khu chăn nuôi còn lại là vườn và ao hồ bao quanh trại Trại có quy mô đàn là trên 600 đầu nái, 7 lợn đực và 45 lợn hậu bị để thay thế đàn và được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng nối liền nhau Khu chuồng nái chửa là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai, khu chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng nái chửa chuyển xuống là nơi
mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ, khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải
Khu chuồng nái chửa gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng lợn nái
có chửa nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống Một góc chuồng nái chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh khu lấy tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả
Trang 14sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện Đầu chuồng nái chửa có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ
hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất
Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng
đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3 Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy
và có một công nhân phụ trách Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng Mỗi một
ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn Mỗi chuồng cũng có hệ thống giàn mát và 6 quạt thông gió và nhiệt kế đo nhiệt độ chuồng Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con
và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi để trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên
Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế đàn và lợn nái loại thải Vị trí chuồng nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc vận chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống Khu chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm
6 ô lớn được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên trong các ô, khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 4 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi
Trang 15Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, xe chở phân, xe chở lợn con, xe chở tấm đan, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi
Nhìn chung cơ sở vật chất của trại là khá hoàn chỉnh và đạt yêu cầu so với một chuồng nuôi kín hiện nay tuy nhiên việc cho ăn trong các chuồng lại hoàn toàn làm theo phương thức thủ công với mỗi chuồng đều có hệ thống máng ăn, mỗi con có một máng ăn riêng và khi cho ăn thì công nhân phụ trách chuồng phải đổ cám vào từng máng ăn đó lật cho lợn nái ăn theo khung giờ quy định hằng ngày
Nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi tại trại được lọc qua bể lọc và dẫn trực tiếp đến từng ô chuồng bằng vòi uống tự động, trước khi được đưa đến các vòi tự động nước được xử lý qua clorin Trang trại lợn nái Lê Văn Tuấn là một trại quy mô công nghiệp nên hàng ngày sử dụng một khối lượng nước rất lớn để phục vụ chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, đặc biệt về mùa nóng cần một lượng nước rất lớn để vận hành hoạt động của giàn mát Nước dùng cho chăn nuôi được bơm từ lòng đất qua hệ thống bể lọc, đưa lên các bồn chứa nước ở độ cao,
áp lực đủ mạnh tới các vòi nước tự động ở từng ô chuồng Bên cạnh đó, hệ thống bạt che, giàn mát, quạt thông gió được trang bị rất đầy đủ Nguồn nước thải được thải ra các ao quanh trại, phân trong các khu chuồng thì được công nhân hót vào bao cuối mỗi buổi sáng và chiều trong ngày đổ ra khu nhà chứa phân để bán và một phần nhỏ để vun trồng vào các gốc cây Trước cửa vào mỗi chuồng đều có một chậu nước sát trùng để khử trùng cho công nhân trước khi đi vào chuồng làm việc
Trang 162.1.3 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
mô sản xuất, chú trọng hơn nên dịch bệnh tại trại hầu như không xảy ra
2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
Bộ phận sinh dục bên ngoài
Là bộ phận có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm: âm hộ,
âm vật, tiền đình
- Âm hộ (vulvae): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái Âm
hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là
âm môn Trong âm hộ còn có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình
Trang 17(bartholin) và bộ phận cương cứng gọi là âm vật (clitoris)
- Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn Là
tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao, tương tự như bao quy đầu dương vật
Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào vận động bình thường
- Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo,
nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy
Bộ phận sinh dục bên trong
- Buồng trứng (ovanrium): Còn gọi là noãn bào, gồm một đôi nằm dưới
hông, trước cửa vào xoang chậu và được giữ bởi dây chằng rộng, trên bề mặt buồng trứng sần sùi
Khác với dịch hoàn, buồng trứng của động vật có vú lưu lại trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Nó thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết là sản sinh ra tế bào trứng và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) có ảnh hưởng tới giới tính, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái)
+ Cấu tạo buồng trứng được bao bọc ở ngoài một lớp màng liên kết sợi chắc tựa như màng bọc của dịch hoàn Bên trong được chia thành hai phần, cả hai phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm
+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba
Trang 18phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào bào hình hạt
+ Miền tủy chứa nhiều mạnh máu và bạch huyết
Ở lợn buồng trứng nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên Buồng trứng dài 1,5 - 2cm, khối lượng 3 - 5gam
- Ống dẫn trứng (oviductus): Ống dẫn trứng ở lợn dài 15 - 20cm uốn
khúc nằm cạnh dây chằng rộng, ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần
Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bao trứng chín rụng, đầu này mở ra trong xoang phúc mạc
Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3cm nối với sừng tử cung
- Tử cung (dạ con) (uterus): Nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng,
trên bóng đái, là nơi thai làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển
của bào thai đồng thời là cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung Ở lợn tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai
+ Cổ tử cung: Là tổ chức sợi mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự góp mặt của một ít cơ trơn
Ở lợn cổ tử cung không có nếp gấp hình hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
+ Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc
+ Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non dài chừng 30 - 50cm dây chằng rộng và rất dài
Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung
- Âm đạo (vagina): Là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ Đây
Trang 19là nơi tiếpnhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh
Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai Chiều dài của âm đạo của lợn là 10 - 12cm Ở lợn biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
Cấu tạo giải phẫu tuyến vú
Tuyến vú chỉ có ở động vật có vú, tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính (dậy thì) và nó phát triển to nhất ở thời kỳ chửa,
đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc con còn non
+ Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả động vật
có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú Song chỉ ở con cái cùng với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các hormone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên Ở lợn có
6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng từ vùng ngực tới vùng bẹn, đối xứng nhau qua đường trắng bụng Vú gồm có bầu vú và núm vú
Bầu vú: là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo
Trang 203 loại ống dẫn: nhỏ,trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông
ra đỉnh ở đầu vú Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua tuyến vú,
vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
Núm vú: một bầu có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2 - 3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi
cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
- Sự phát triển của tuyến vú:
Động vật còn non tuyến vú chưa phát triển, khi đến tuổi thành thục,
hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến chưa có xoang tiết
Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết,ống dẫn tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần, ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
* Sự thành thục về tính
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
Ở lợn nái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như:
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả
tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14
Trang 21ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển
Kết quả nghiên cứu của Hughes và James (1996) [25] cho thấy: việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu lợn nái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn nái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống
Lợn nái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83 % lợn cái hậu bị động dục lần đầu (Muirhead M., Alexander T, 2010 [28])
- Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005 [4])
+ Trứng chín: Dưới ảnh hưởng của thùy trước tuyến yên, trứng phát triển rất nhanh, lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp, hình thành thể vàng, tiết dịch nang trứng làm cho kích thước nang trứng tăng nhanh, nổi lên mặt buồng trứng như những bóng nước Tế bào trứng nằm trong nang trứng tiến hành phân chia giảm nhiễm lần thứ nhất cho ra noãn tử để phát triển thành tế bào trứng chín
+ Hiện tượng rụng trứng: Noãn bào dần dần lớn lên Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất Noãn bào
Trang 22vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau
+ Sự hình thành thể vàng: Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng Tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh Trong các tế bào hạt có chứa lipoit và sắc tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy tế bào hạt (gọi là tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần Thời gian tồn tại của thể vàng
từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
+ Niêm dịch: Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy
ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
+ Tính dục: Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh Gặp con đực không kháng cự, tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng
Trang 23- Tính hưng phấn: Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối Cao độ nhất là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt
* Chu kỳ động dục
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [18] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục: Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục
lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục
có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này
tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
- Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh
dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
Trang 24- Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính
của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa
để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ Progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời
kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento S và cs.,
2013 [24])
2.2.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái
* Đẻ khó
+ Nguyên nhân: Do lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá
trình nuôi từ hậu bị đến khi lợn chửa, đẻ
Xương chậu hẹp bẩm sinh, thai quá to và mắc các bệnh truyền nhiễm
đã điều trị trong thời gian khá dài
Lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ quá thấp trong thời gian đẻ Lợn nái bị liệt 1/3 thân sau; nơi đẻ, cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật hoặc chưa phù hợp và do đẻ ngược thai
Trang 25+ Triệu chứng: Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được,
cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to
+ Điều trị: cần tiêm Oxytocin 20 - 50 UI/ 1con nái, có thể tiêm vào tĩnh
mạch là tốt nhất Trường hợp không có kết quả, cần can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để lấy thai ra Sau khi can thiệp xong, cần thụt rửa âm đạo bằng nước muối pha loãng, dùng các loại kháng sinh sau đây chống viêm tử cung,
âm đạo
* Hẹp khe âm môn và tiền đình âm đạo, âm đạo và cổ tử cung
+ Nguyên nhân: Xảy ra do bẩm sinh hoặc ở gia súc co thắt sẹo hình
thành từ chấn thương hoặc viêm, do phát triển màng sẹo liên kết của vết loét, ung bướu Đôi khi gặp trường hợp đẻ khó ở gia súc đẻ lần đầu do phì đại màng trinh bẩm sinh hoặc mắc phải (tăng sinh van niệu đạo nằm ở thành dưới
âm đạo sát mép tiền đình âm đạo)
+ Triệu chứng: Các cơn rặn đẻ mạnh trong khi đã có các cơn tiền triệu
chứng đẻ nhưng gia súc không đẻ được, chứng tỏ hẹp đường sinh dục hoặc thai to quá (Debois C H W., 1989 [23])
+ Điều trị: Trước hết thụt dầu nhờn vào âm đạo xong kéo thai ra ngoài
Nếu không có kết quả thì tiến hành rạch một đường chính giữa đường trắng
và rạch từ trong ra ngoài Độ dài vết rạch tùy thuộc vào mức độ âm môn hẹp nhiều hay ít Khi tiến hành xong phải khâu vết rách lại, niêm mạc khâu riêng
và da khâu riêng
Trang 26* Bệnh viêm tử cung
+ Nguyên nhân: Do trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng
cụ sản khoa làm xây sát niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Đây là nguyên nhân chính mà chúng tôi quan sát được tại cơ sở
Do phối giống không đúng kỹ thuật
Do kế phát từ một số bệnh: sát nhau, viêm âm đạo
+ Triệu chứng: Lượng sữa giảm, lợn có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi
cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Sau khi đẻ từ âm hộ chảy ra dịch rỉ viêm
và mủ màu trắng đục, màu vàng hoặc màu nâu keo đặc và có mùi hôi thối đặc trưng Con mẹ bỏ ăn hoàn toàn hoặc một phần, sốt cao 40 - 41oC, có thể
bị mất sữa
+ Điều trị: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Han - iodine 0,1% sau đó
dùng 2.000.000 UI penicilin hòa với 50ml nước cất thụt vào tử cung lợn Ngày 1 lần, thường làm 1 lần duy nhất, trường hợp nặng từ 2 - 3 lần
Tiêm bắp CP - CIN 20: 5ml/con/ngày x 3 ngày liên tiếp kết hợp pendistrep: 1ml/10 kg TT/1ngày/1lần hoặc tiêm veptrimoxinLA: 1 ml/10kg TT/ 1 ngày/ lần Thuốc bổ trợ sử dụng vitamin B1: 5 ml/30kgTT
Lê Thị Tài và cs (2002) [17] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], Trần Thị Dân (2004) [2]: Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy thai, bào tai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm thử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung
Trang 27ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung
ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007[19])
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân: Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập
gây ra viêm vú
Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp Và Arcanobacterium pyogenes (Christensen và cs., 2007 [21])
Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập gây viêm như: E.coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella…(Duy
Hùng, 2011 [6])
Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
- Triệu chứng: Bệnh xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có
con đến một tháng Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy hơi nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn, nếu bị nặng thì bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao 40,50C
-420C kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Trang 28Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy,
xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100%
Theo White (2013) [27] thì biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn
mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con
bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
- Điều trị: Cục bộ bằng cách phong bế giảm đau bầu vú: chườm nước đá
lạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế đầu vú bằng novocain 0,25 - 0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần tránh lây lan sang vú khác Tiêm quanh vùng bầu vú bị viêm bằng nor 100 1 ml/10kgTT
Toàn thân: Tiêm analgin : 1 ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm pendistrep LA: 1 ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Các nghiên cứu của Trekaxova A V (1983) [15] về chữa trị bệnh viêm
vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5 % liều
từ 30 - 40 ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thùy vú bệnh, sâu 88 - 100
cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này từ 400 - 600 đơn vị, 2 - 3 lần/ngày
Trang 29Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [9] cho biết: Trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro - cortizone (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2004 [10])
Dùng novocain tiêm tĩnh mạch tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú
và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày
- Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng
ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng (Duy Hùng, 2011 [6])
+ Lợn con bị nhiễm khuẩn: bệnh tiêu chảy ở lợn có nguyên nhân do vi
khuẩn E.coli, salmonella, trong đó salmonella là vi khuẩn có vai trò quan
trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy
Trang 30+ Do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
+ Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung, ăn không đúng khẩu phần
+ Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi
theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14 ngày tuổi
- Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi Lợn tiêu
chảy phân màu vàng trắng, trắng xám, sau đó là vàng xanh, mùi phân hôi tanh Lợn mất nước và mất chất điện giải gầy sút nhanh, bú kém, đi lại không vững Bệnh kéo dài thì bụng tóp lại, lông xù, hậu môn và đuôi dính phân bê bết Nếu không điều trị kịp thời thì lợn con chết rất nhanh
Phạm Ngọc Thạch (1996) [16] cho biết: Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [7]: lợn con ở 1 số tỉnh phía Bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84 % và 5,37 %; tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 - 40 ngày (30,97 và 4,93 %) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày Tháng có nhiệt độ thấp
và ẩm độ cao, tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 - 38,18 %)
- Điều trị: Tiêu chảy lợn con có nhiều loại thuốc điều trị nhưng tại
trang trại có điều trị bằng thuốc sau: Tiêm nor 100: 1 ml/10kg TT Tiêm bắp ngày/lần
Trang 31* Viêm phổi
- Nguyên nhân: do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra
trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh
- Triệu chứng: Ở lợn con 6 - 10 tuần tuổi hoặc lớn hơn: Ho khan vài
tiếng hoặc từng cơn vào sáng sớm hay khi vận động, ho có thể kéo dài 1 - 2 tháng Mặc dù lợn vẫn ăn uống bình thường nhưng rất chậm lớn, nhịp thở thường tăng cao, đôi khi có biểu hiện khó thở và khi thở ngồi lên hai chân sau như kiểu chó ngồi, nhất là khi nhiễm bệnh kế phát
- Điều trị: Tiến hành điều trị bằng thuốc PaXXcell với liều 1ml/10 kg
TT, liệu trình 3 - 5 ngày, kết hợp với vitamin C: 1ml/10 kg TT, 1 lần/ngày
* Viêm khớp
- Nguyên nhân: Do Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+) gây viêm
khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con
1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến
- Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân
sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn
ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
- Điều trị: Tiêm amoxiject 1 ml/10kgTT/1lần/2ngày Hoặc tiêm pendistrep
LA 1 ml/10 kg TT/1 ngày/1lần Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày