Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chă
Trang 1HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình Kết hợp với 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại lợn ông Đỗ Đức Thuận, đã giúp em cũng cố lại kiến thức chuyên môn, cũng như đức tính cần có của cán bộ nông nghiệp Từ
đó, đã giúp em có lòng tin vững bước trong cuộc sống cũng như trong công tác sau này Để có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Ban chủ nhiệm khoa và tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, những người đã tận tụy dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập, cũng như trong thời gian thực tập
Tập thể lớp K47 - CNTY - 47 Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn sát cánh bên em trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Các bác, các cô chú và các anh chị trong trại chăn nuôi lợn ông Đỗ Đức Thuận đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ trong thời gian thực tập để em hoàn thành tốt khóa thực tập
Đặt biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Mai Anh Khoa
Nhân dịp này, em cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện về vật
chất cũng như tinh thần, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 3 năm 2019
Sinh viên
Trần Nam Hải
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của sinh viên
Giai đoạn thực tập là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, làm quen với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao trình
độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình
có tác phong làm việc đứng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển của đất nước
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, theo sự phân công của Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã về thực tập tại trại chăn nuôi Đỗ Đức Thuận, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
từ ngày 18/5/2018 đến ngày 18/11/2018
Nhờ sự nỗ lực của bản thân, sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của lãnh đạo và cán bộ, nhân viên ở trại, sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, đến nay em
đã hoàn thành nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp và hoàn thành bản báo cáo tốt
nghiệp với chuyên đề “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh ở đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Đỗ Đức Thuận, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba vì, thành phố Hà Nội” Do bước đầu làm quen với
thực tiễn sản xuất và nghiên cứu khoa học nên bản báo cáo này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vậy, em kính mong nhận được sự đóng góp quý báu
của các thầy, các cô, các bạn đồng nghiệp để bản báo cáo được hoàn chỉnh hơn
Thái nguyên, ngày 9 tháng 3 năm 2019
Người viết khóa luận
Trần Nam Hải
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả sản xuất của trại Đỗ Đức Thuận 6
Bảng 1.2 Lịch phòng bệnh của trại lợn 22
Bảng 3.1 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm 2016 - 2018 31
Bảng 3.2 Mức dinh dưỡng cho lợn con 35
Bảng 3.3 Mức ăn cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (kg/con/ngày) 35
Bảng 3.4 Số lượng lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 37
Bảng 3.5 Lịch sát trùng trại lợn nái 39
Bảng 3.6 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn con theo mẹ 40
Bảng 3.7 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con nuôi tại trại 41
Bảng 3.8 Triệu chứng chủ yếu của một số bệnh 43
Bảng 3.9 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tại trại 46
Bảng 3.10 Kết quả những công việc khác đã thực hiện 48
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cn : Chủ nhật
CP : Cổ phần
cs : Cộng sự Nxb : Nhà xuất bản
Pr : Protein
SS : Sơ sinh STT : Số thứ tự
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Yêu cầu 2
Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của trang trại 3
1.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4
1.1.3 Cơ sở vật chất của trại 4
1.1.4 Thuận lợi và khó khăn 5
1.1.5 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 6
1.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 7
1.2.1 Một số hiểu biết về lợn con 7
1.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ 9
1.2.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 12
1.2.4 Cai sữa cho lợn con 17
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 19
1.2.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 21
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 23
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
Trang 71.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25
PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 27
2.1 Đối tượng và phạm vi 27
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
2.3 Nội dung thực hiện 27
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định 27
2.4.2 Phương pháp thực hiện 28
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 31
3.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Đỗ Đức Thuận trong 3 năm (2016 - 2018) 31
3.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 32
3.2.1 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nuôi tại trại 32
3.2.2 Yêu cầu kĩ thuật trong chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 34
3.2.3 Quy trình chăn nuôi lợn con theo mẹ 35
3.3 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 36
3.4 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho đàn lợn con giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tập tại trại 38
3.4.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 38
3.4.2 Phòng bệnh bằng vắc xin 40
3.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho đàn lợn con giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong 6 tháng thực tập tại trại 41
3.5.1 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 41
3.5.2 Kết quả chẩn đoán bệnh 42
Trang 83.5.3 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày
tuổi tại trại trong thời gian thực tập 44
3.6 Kết quả thực hiện một số công việc khác 46
3.6.1 Công tác giống 46
3.6.2 Công tác khác 47
PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
4.1 Kết luận 49
4.2 Đề nghị 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ở nước ta trồng trọt và chăn nuôi có vai trò rất quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp, chúng có quan hệ gắn bó hỗ trợ nhau cùng phát triển
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ Song song với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau thì ngành chăn nuôi giữ một vị trí rất quan trọng, đóng góp một phần rất lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước Trong đó chăn nuôi lợn là một bộ phận rất quan trọng trong ngành chăn nuôi Hàng năm, chăn nuôi lợn đã cung cấp một khối lượng lớn thịt, mỡ làm thực phẩm cho con người Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một khối lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ của nó làm nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến
Thịt lợn không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người mà còn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người sử dụng nó Thịt lợn chiếm 75 - 80% tổng số các loại thịt trong chăn nuôi Để đáp ứng được nhu cầu bức thiết này, Đảng và Nhà nước đang hết sức chú ý đến việc phát triển chăn nuôi lợn Đồng thời các nhà khoa học nước ta cũng đã lai tạo đàn lợn nội và các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao Cùng với đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, mô hình chăn nuôi lợn quy mô lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao với các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng và không ngừng quan tâm đầu tư Để phát triển chăn nuôi lợn cần thực hiện tốt các khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giáo
viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh ở đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn
Đỗ Đức Thuận, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”
Trang 102 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
- Làm việc tự giác, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc
- Không ngừng học tập trong sách vở và thực tiễn, rèn luyện tay nghề, kỹ năng sống của bản thân
Trang 11Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Điều kiện cơ sở thực tập
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của trang trại
tự nhiên: 1.208,17 ha
Toàn thị trấn có: 14 thôn, gồm các thôn: Đông, Nam, Đoài, Bắc, Hưng Đạo, Cao Nhang, Cầu Bã, Vân Trai, Lai Bồ, Vân Hồng, Chợ Chàng, Cửa Đình, Phú Mỹ, Đài Hoa
Nhìn chung trại được đặt ở vị trí khá thuận lợi để phát triển do cách xa khu công nghiệp, khu dân cư, bệnh viện, trường học Vì trại cách xa trục đường quốc lộ chính 32km nên giao thông cũng chưa được thuận tiện cho giao thương trao đổi sản
phẩm chăn nuôi nhưng lại đạt hiệu quả cao trong quá trình sản xuất
1.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Tây Đằng là một thị trấn huyện Ba Vì trong khu vực trung du, miền núi phía Bắc, chịu ảnh hưởng rõ rệt của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nóng ẩm mưa nhiều, cho nên trại chăn nuôi và trồng trọt tổng hợp Đỗ Đức Thuận cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu này
Trang 12mm Với điều kiện thời tiết như vậy rất thuận lợi cho trồng trọt, nhưng gây nhiều bất lợi cho chăn nuôi nói chung và nuôi lợn nuôi lợn nói riêng
1.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại lợn gồm có 6 người trong đó có:
Với đội ngũ công nhân trên, các công việc phải được thực hiện thường xuyên liên tục, các công việc phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và an toàn Các chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng hậu bị, chuồng thịt đều được phân công công việc cụ thể Mỗi chuồng thực hiện công việc hằng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại
1.1.3 Cơ sở vật chất của trại
- Trang trại có tổng diện tích 5 ha, trong đó khu chăn nuôi và khu nhà ở công nhân, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, chiếm diện tích 2
ha Còn lại diện tích ao hồ chiếm 3 ha
- Khu chăn nuôi chia làm ba khu riêng biệt gồm: 2 khu chăn nuôi lợn nái sinh sản và 2 khu chăn nuôi lợn thịt Trong đó khu chăn nuôi lợn nái sinh sản được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 110 lợn nái và lợn đực với các giống sản xuất chính như: Landrace được nhập từ công ty cổ phần CP Việt Nam và Duroc được nhập từ trại heo giống cao sản Đài Loan về
- Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân
được xây dựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc, đảm bảo thoáng mát về mùa
hè, ấm áp vào mùa đông, chuồng xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 4 dãy chuồng chạy dài Chuồng lợn thiết kế theo kiểu cũi sắt, các chuồng được trang bị thiết bị chiếu sáng, hệ thống uống nước tự động ở mỗi ô nái, mùa hè có hệ thống quạt thông gió
và dàn mát Màu đông có hệ thống làm ấm bằng bóng đèn hồng ngoại
Trang 13- Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho chăn nuôi như: kính hiển vi, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ
bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi công nhân trong trại cho đến khách đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải đi qua hệ thống sát trùng
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm
- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, bưởi những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng
1.1.4 Thuận lợi và khó khăn
1.1.4.1 Thuận lợi
giao thông
trách nhiệm cao trong công việc
công việc
dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến hiện nay, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp
1.1.4.2 Khó khăn
để vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển mạnh, nhất là virus PED với tỷ lệ nhiễm rất cao
Trang 141.1.5 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
Các chỉ tiêu và kết quả sản xuất của trang trại được trình bày chi tiết ở bảng sau:
Bảng 1.1 Kết quả sản xuất của trại Đỗ Đức Thuận
STT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2016 Năm
2017
Năm 2018
(6 tháng đầu năm)
Qua bảng trên chúng ta thấy rằng: Trại sản xuất với năng suất khá cao và tăng dần theo các năm từ năm 2016 đến năm 2018 Sở dĩ đạt được năng suất như vậy là
do nhận được sự quan tâm của chủ trại, các công ty liên kết cùng trại, đội ngũ công nhân có kỹ thuật cao, công tác thú y được thực hiện triệt để Bên cạnh đó, chủ trại
đã đầu tư trang thiết bị hiện đại, bố trí đủ nhân lực thực hiện tốt công tác vệ sinh chăn nuôi cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn
1.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
1.2.1 Một số hiểu biết về lợn con
1.2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh
Trang 15Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc
30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Sở dĩ có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con
Để hạn chế sự khủng hoảng này, người ta thường cho lợn con ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là
nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ
1.2.1.2 Các thời kỳ quan trọng của lợn con
Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ
đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này
Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát
Trang 16dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con sẽ bị còi cọc, rất dễ mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa
Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc 23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con
1.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ
Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời kỳ bú sữa, vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao ở lợn con Một số yêu cầu kỹ
thuật chăm sóc lợn con theo mẹ như sau:
1.2.2.1 Chuồng nuôi
Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con Ngoài ra, chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng
tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [4], nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến
tỷ lệ sống và sinh trưởng của lợn Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy vào từng giai đoạn
Trang 17giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oC ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng của lợn con
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [16], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm khả năng đáp phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị
vi khuẩn cường độc gây bệnh
1.2.2.2 Cắt đuôi, bấm răng nanh, thiến
Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường cắn nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi Vị trí tấn công thường là đuôi
Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ Dùng
sát trùng
Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũng tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây tổn thương bầu vú cho lợn mẹ khi bú, làm giảm tỷ lệ gây viêm vú cho lợn mẹ Khi cắt răng nanh, người cắt tránh không gây tổn thương phần lợi hoặc lưỡi của lợn con, ngoài ra người cắt cũng nên cẩn thận không để nanh gẫy bắn vào mắt mình
Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực không dùng làm giống Có thể thiến trong khoảng từ 8 - 10 ngày tuổi Cần sát trùng bằng cồn
iod trước và sau thiến
1.2.2.3 Quản lý lợn con
Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này
* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi
Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề 5 - 10 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn Lợn con đẻ ra phải được lau khô bằng
Trang 18vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - rốn - bốn chân, cho vào
hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú cho lợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều
* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi
Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã bước vào giai đoạn khởi động tốt Trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu, khống chế tiêu chảy, thiến lợn đực con và cắt đuôi Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [10], một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50 mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa
mẹ là 1 mg Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối thiểu là 200 - 250 mg/con/ngày Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy
Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 - 16 mg hoặc 21 mg/kg tăng khối lượng duy trì hemoglobin (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn tại và phát triển Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi chết
* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa
Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, khỏe mạnh hơn và có khả năng chống chịu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh Vào thời gian này, phần lớn lợn con theo mẹ
đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này
là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần phải hạn chế và tránh những yếu tố stress cho lợn con
Trang 19Một cách để đạt năng suất tối đa là tập cho lợn con ăn càng sớm càng tốt Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 tuần tuổi và bắt đầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn bổ sung Trong giai đoạn này nội ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do ký sinh trùng gây ra
có thể bắt đầu từ rất bé Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo sức khỏe của đàn, và tùy theo chuồng trại có sẵn Nói chung lợn con có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý càng tốt hơn Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:
+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg
+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con
+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể
+ Số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được
+ Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa
+ Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống
+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy
1.2.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
1.2.3.1 Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con bú cùng lúc Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước
Theo Vũ Đình Tôn và cs (2006) [22], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu
Trang 20Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con
là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn mẹ
Theo Trần Thị Dân (2008) [7], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần so với bình thường Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng γ-globulin mà sữa thường không có, γ-globulin có tác dụng giúp cho lợn con có sức đề kháng đối với
trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để hấp thu chất dinh dưỡng mới Nếu không
Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú ở những vú trước ngực
có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, có trường hợp
có những con lợn yếu không tranh được bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi phải kiên trì, tỉ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 - 8) lần, làm liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi Cũng có trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn bú vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh
bị teo vú cho lợn mẹ
Trang 21Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú thì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm thay đổi vị trí liên tục thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn
Theo Duy Hùng (2011) [14], phải vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn
mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn
mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vú bị viêm Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng bị sưng
Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun rượu Etylic cho cả đàn con cũ và mới
không để lợn mẹ phát hiện, những con mới ghép cũng phải cố định vú bú
1.2.3.2 Bổ sung sắt cho lợn con
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt
Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con sau 30 ngày đẻ là 30 x 7 mg/ngày = 210
mg Lượng sắt từ sữa chỉ đạt 1 – 2 mg/ngày (36 - 60 mg/30 ngày), vì vậy lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 - 180 mg Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắt thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 200 mg là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200 mg sắt tiêm 2 lần Lần 1: 3 ngày tuổi tiêm 100 mg; lần 2: 10 - 12 ngày tuổi tiêm 100 mg
Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, nhợt nhạt, đôi khi lợn con bị
ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết
Trang 22Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran Ferri - Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài Cách sử dụng như sau:
- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200 mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con
- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100 mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần thứ 2 (tiêm lặp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng 100 mg cho 1 lợn con
Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500 mg) Nếu thiếu vitmin E thì chỉ cần cung cấp 20 - 30 mg Fe vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con
- Cách tiêm sắt cho lợn con
Dùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa, sử dụng kim tiêm 14 hoặc 16 (đường kính lớn) để lấy thuốc Sau khi lấy thuốc đầy bơm dùng kim 9, dài
1 cm để tiêm Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí có thể gây độc Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thay hay sát trùng kim tiêm cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằng nước sát trùng Rửa và sát trùng dụng
cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con Việc sử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh hơn
Nên tiêm vào bắp cổ, không nên tiêm ở mông vì có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân lợn thịt khi mổ bán Có thể tiêm sắt vào cơ bắp hoặc tiêm dưới da Cẩn thận không tiêm vào phần xương sống Khi tiêm cần giữ mũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lượng thuốc chảy ngược ra Điểm
khuyến cáo để tiêm dưới da là chỗ da kéo lên được ở phía trước chân trước
1.2.3.3 Tập cho lợn ăn sớm
- Mục đích:
+ Bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trưởng phát triển của lợn con khi sản lượng sữa mẹ giảm sau 3 tuần tiết sữa
Trang 23+ Rèn luyện bộ máy tiêu hóa của lợn con sớm hoàn thiện về chức năng, đồng thời kích thích bộ máy tiêu hóa phát triển nhanh hơn về kích thước và khối lượng + Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột của lợn con
+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ, từ
đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con
1.2.4 Cai sữa cho lợn con
1.2.4.1 Điều kiện cai sữa cho lợn con
- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, cân đối
- Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt
- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn
- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật
- Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao
1.2.4.2 Các hình thức cai sữa
- Cai sữa thông thường: Cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi
Trang 24+ Ưu điểm: Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn con khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc dễ dàng hơn
+ Nhược điểm: Khả năng sinh sản của lợn mẹ thấp, chi phí cho 1 kg khối lượng lợn con cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn, giảm số lứa của lợn mẹ
- Cai sữa sớm: Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi
+ Ưu điểm: Nâng cao sức sinh sản của lợn nái, nâng cao số lứa đẻ lên, tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con (20% so với cai sữa thông thường), giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ + Nhược điểm: Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sóc nuôi
dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm
1.2.4.3 Kỹ thuật cai sữa
+ Ngày thứ 3: Tách hẳn lợn mẹ với lợn con, không gây ảnh hưởng tới lợn con
- Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con
- Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày
- Chế độ ăn đối với lợn con:
+ Tỷ lệ xơ trong khẩu phần thấp: Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đến còi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 - 6 %
+ Có tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp: Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốt cho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu Nếu chúng ta cung cấp khẩu phần
ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăng trọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợn con trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần
Trang 25+ Có tỷ lệ nước thích hợp: Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽ dẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất là protein, thức
ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễ nhiễm bệnh
Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn con Tỷ lệ thức ăn tinh nước phải thích hợp, cứ 1 kg thức ăn tinh trộn với 0,5 lít nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1 : 1, ngoài ra người chăn nuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do
Ngoài ra, cần bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg, Fe, và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng
+ Phương pháp cho lợn con ăn:
Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọng cao hơn
3 bữa/ngày Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công lao động trong chăn nuôi Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp để cho lợn con ăn Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản xạ có điều kiện về tiêu hóa
Cho lợn con ăn từ từ để tránh vung vãi ra ngoài và hạn chế được lợn con mắc các bệnh về đường tiêu hóa
Cho lợn con ăn đúng tiêu chuẩn và khẩu phần ăn Theo dõi sức khỏe để điều chỉnh khẩu phần và tiêu chuẩn cho chúng
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các
yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài
1.2.5.1.Yếu tố bên trong
Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ
cân bằng các chất trong máu
Trang 261.2.5.2 Yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác
+ Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể
+ Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [8], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, khô,
ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến
cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [13], lợn con sinh ra phải được sưởi ấm ở
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ mất nhiệt rất nhiều, quá trình điều hòa thân nhiệt lại tiêu tốn nhiều năng lượng vì thế lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%
Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn thịt Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%,
Trang 27tiêu tốn thức ăn cho sinh trưởng tăng 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời
Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa
1.2.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ
1.2.6.1 Vệ sinh phòng bệnh
- Vệ sinh chuồng trại:
+ Ngăn cách khu vực chăn nuôi lợn với các súc vật khác như: Chó, mèo…
+ Rửa và phun thuốc sát trùng chuồng trại sạch sẽ ít nhất 3 - 7 ngày trước khi thả lợn vào chuồng
+ Hàng ngày phải quét phân trong chuồng, giữ cho chuồng luôn khô ráo, sạch
sẽ
+ Xử lý xác chết gia súc nghiêm ngặt: Chôn sâu, đốt
+ Nên có kế hoạch rửa chuồng, phun thuốc sát trùng và diệt ruồi, muỗi mỗi tuần 2 lần
- Vệ sinh thức ăn và nước uống:
+ Thường xuyên kiểm tra thức ăn trước khi cho lợn ăn, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, không bị mốc
+ Nếu sử dụng thức ăn trộn thì định kỳ phải trộn kháng sinh để phòng bệnh cho lợn
+ Nước uống phải đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn