Nguyên nhân gây ra có thể kể đến là (1) Thâm hụt ngân sách, (2) đầu tư công lớn, dàn trải, (3) hiệu quả sử dụng nợ công thấp và đánh giá thực trạng quản lý nợ công của Việt Nam thời g[r]
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
Nguyễn đăng hưng
Vai trò của kiểm toán nhà nước trong quản lý nợ công ở việt nam
Chuyên ngành: quản lý kinh tế
Mã số: 62.34.04.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội – 2015
Trang 2Trường đại học Kinh tế Quốc dân
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS MAI VĂN BƯU
Phản biện:
1: PGS TS Nguyễn Thị Phương Hoa
2: PGS TS Lê Huy Trọng
3: PGS TS Lê Xuân Bá
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học kinh tế quốc dân
Vào hồi: 16h00 ngày 03 tháng 02 năm 2016
Có thế tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học kinh tế quốc dân
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu mục đích nghiên cứu luận án
1.1 Sự cần thiết của luận án
Hiện nay, các khoản nợ công có xu hướng ngày càng tăng ở nhiều quốc gia đang phát triển và được xem như là nguồn tài chính quan trọng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách và hỗ trợ phát triển cơ sở, hạ tầng, kinh tế xã hội Danh mục nợ của Chính phủ ngày càng lớn và phức tạp gây ra những rủi ro lớn đối với sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nợ công Vì vậy việc quản lý nợ công cần có những công cụ kiểm soát chặt chẽ để tránh những hậu quả bất lợi có thể xảy ra trong tương lai, đảm bảo tính bền vững của tài chính- ngân sách
KTNN, với tư cách là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính cao nhất của nhà nước do Quốc hội thành lập, thực hiện kiểm tra việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đối với mọi cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách Hoạt động của KTNN sẽ đảm bảo tính minh bạch trong quản lý và sử dụng nợ công, giúp ngăn ngừa được các rủi ro phát sinh, từ đó có thể đề xuất với các
cơ quan có thẩm quyền các biện pháp quản lý và sử dụng các khoản nợ một cách tốt hơn cũng như đảm bảo tính bền vững của NSNN Xác định vai trò của cơ quan KTNN trong quản lý nợ công là rất cần thiết, nhất là trong bối cảnh thế giới đã diễn
ra những trường hợp khủng hoảng kinh tế do đổ vỡ nợ công và vai trò c ủa KTNN trong quản lý nợ công vẫn chưa được xác lập cụ thê
Chính vì vậy để làm rõ, qua đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả vai trò
của KTNN trong quản lý nợ công, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “ Vai trò của
KTNN trong việc quản lý nợ công ở Việt Nam” để nghiên cứu và bảo vệ luận án
Tiến sỹ
1.2 Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở khoa học làm rõ vai trò của KTNN tro ng quản lý nợ công và trên cơ sở thực tiễn nghiên cứu, đánh giá về kết quả thực hiê ̣n vai trò của KTNN trong quản
lý nợ công ở Việt Nam Với viê ̣c chỉ ra điểm ma ̣nh cũng như điểm ha ̣n chế , luận án
đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công tại Việt Nam
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 4Luận án nghiên cứu vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở góc độ vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của KTNN trong quản lý nợ công Trong đó, tập trung vào ba vai trò chính là tổ chức kiểm toán quản lý nợ công, đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công và công khai thông tin quản lý nợ công
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Vai trò của KTNN trong quản lý nợ công bao gồm việc xác định
vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của KTNN trong quản lý nợ công Trong khuôn khổ nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở góc độ nhiệm vụ của KTNN trong quản lý nợ công, là:
+ Vai trò tổ chức kiểm toán quản lý nợ công
+ Vai trò đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công
+ Vai trò công khai thông tin quản lý nợ công
- Về không gian: Luận án nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia có mức
nợ công lớn, trong đó, chọn mẫu nghiên cứu kinh nghiệm của quốc gia chưa xác lập vai trò của KTNN trong quản lý nợ công là Hy Lạp, quốc gia xác lập vai trò KTNN
và có hoạt động quản lý nợ công tốt là Mỹ và Quốc gia đã xác lập vai trò của KTNN trong quản lý nợ công có hệ thống chính trị tương đồng Việt Nam là Trung Quốc để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Về thời gian: Luận án xem xét đánh giá thực trạng vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2013; đưa ra quan điểm, định hướng, giải pháp xác lập và nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam đến năm 2020
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu tiếp cận từ lý luận đến thực tiễn:
Bước 1: Đề tài tiến hành nghiên cứu lý thuyết về nợ công, quản lý nợ công, KTNN và chức năng nhiệm vụ, từ đó xây dựng khung lý thuyết về vai trò của KTNN trong quản lý nợ công
Bước 2: Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
Bước 3: Phân tích kết quả thực hiê ̣n vai trò c ủa KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam, rút ra các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân
Bước 4: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất các giải pháp và kiến nghị xác lập và nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam
Trang 53.2 Phương pha ́ p nghiên cứu
* Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin
* Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
* Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
* Kỹ thuật xử lý số liệu
Sử dụng kỹ thuật phân tích thông thường như thống kê mô tả nhằm nêu ra bức tranh tổng thể về nợ công của Việt Nam, thống kê, tổng hợp và phân tích để nêu bật quá trình thực hiện quản lý nợ công và thực hiện vai trò của KTNN trong quản lý nợ
công qua giai đoạn 2006- 2013
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:
Luận án làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam trên 3 góc độ bao gồm: Góc độ vị trí pháp lý góc độ chức năng; góc độ nhiệm
vụ Qua đó tập trung đi sâu phân tích dưới góc độ nhiệm vụ của KTNN, trong quản lý
nợ công, KTNN phải có 3 vai trò chính đó là vai trò tổ chức thực hiện kiểm toán quản
lý nợ công, đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công và công khai thông tin quản lý nợ công
Trên cơ sở kinh nghiệm vai trò của KTNN các nước trên thế giới trong quản lý
nợ công lấy ví dụ một nước có trình độ quản lý nợ công tiên tiến như Mỹ, một nước
có công tác quản lý nợ công không tốt để xảy ra tình trạng vỡ nợ vừa qua như Hy Lạp
và một nước có thể chế chính trị tương đồng Việt nam như Trung Quốc để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu:
Trên cơ sở kết quả thực hiện vai trò của KTNN trong 3 cuộc kiểm toán về quản
lý nợ công mà KTNN Việt Nam đã thực hiện được phân tích theo 3 chỉ tiêu là: kết quả xử lý sai phạm trong quản lý nợ công, sai phạm phát hiện trong quản lý nợ công
và kiến nghị chấn chỉnh quản lý nợ công; Luận rút ra những ưu điểm và khó khăn tồn tại, chỉ ra những nguyên nhân cụ thể
Xuất phát từ những tồn tại, bất cập, luận án đã đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam đó là: Nâng cao vị trí pháp
lý của KTNN trong quản lý nợ công; Nâng cao chất lượng và hiệu lực của KTNN; Hoàn thiện bộ máy, tuyển dụng và đào tạo nhân lực; Phát triển cơ sở vật chất, thông tin tuyên truyền và công nghệ thông tin; và tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế
Trang 6về quản lý nợ công đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với KTNN, Nhà nước, các cơ quan quản lý nợ công và các đơn vị sử dụng nợ công
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, cam kết của tác giả, các phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án chia thành 4 chương:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu
Chương II: Cơ sở lý luận về vai trò của KTNN trong quản lý nợ công
Chương III: Phân tích thực trạng vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam
Chương IV: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam
Trang 7NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN ÁN CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu vai trò của một tổ chức bao gồm vị trí, chức năng và nhiệm vụ của một tổ chức đó trong một lĩnh vực, tiến trình, hoạt động Như vậy cách tiếp cận chính xác khi nghiên cứu vai trò của KTNN trong quản lý nợ công chính là trên góc độ vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của KTNN trong quản lý nợ công Trong thời gian qua vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận vai trò của KTNN trong quản lý
nợ công theo hướng này Đặc biệt là chưa đưa ra một cách đầy đủ các vai trò của KTNN trong quản lý nợ công cũng như chưa đánh giá thực trang vai trò của KTNN hay các yếu tố tác động đến vai trò của KTNN trong quản lý nợ công
Chính vì vậy, tác giả nhận thấy đây là khoảng trống cần nghiên cứu, qua cách tiếp cận đó, đóng góp một góc nhìn, đưa ra một ý kiến nhằm xác lập và nâng cao được vai trò của KTNN trong quản lý nợ công, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nợ công, bảo đảm tính bền vững của an ninh tài chính quốc gia
CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA KTNN TRONG QUẢN LÝ NỢ CÔNG
2.1 Quản lý nợ công
2.1.1 Nợ công
2.1.1.1 Khái niệm nợ công
Nợ công bao gồm: nợ Chính phủ và nợ của chủ thể khác (doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…) nhưng được Chính phủ bảo lãnh thanh toán, và nợ của chính quyền địa phương
2.1.1.2 Phân loại nợ công
2.1.1.3 Vai trò của nợ công
Bù đắp các khoản bội chi ngân sách của Chính phủ: Vai trò quan trọng nhất của
nợ công là bù đắp các khoản bội chi ngân sách của Chính phủ
Tăng cường đầu tư phát triển: Đối với các quốc gia đang phát triển, để phát
triển hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ… thì nguồn vốn vay là rất quan trọng, rút ngắn thời gian tiến tới các mục tiêu phát triển giúp các quốc gia chậm phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển nhanh chóng phấn đấu để trở thành các quốc gia phát triển
Trang 8Kích thích tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư: Việc vay nợ làm
tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, góp phần thu hút, mở rộng các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế đất nước, tạo niềm tin cậy của đất nước trên bình diện Thế giới
2.1.2 Quản lý nợ công
2.1.2.1 Khái niệm quản lý nợ công
Quản lý nợ công được đúc kết từ kinh nghiệm các nước, theo IMF, đó là “quá trình thiết lập và thực thi chiến lược vay nợ của một quốc gia nhằm gây dựng được một lượng vốn theo yêu cầu, nhằm đạt được các mục tiêu về chi phí và rủi ro, đáp ứng được các mục tiêu quản lý nợ khác của Nhà nước đặt ra”
2.1.2.2 Mục tiêu quản lý nợ công
- Đáp ứng nhu cầu tài chính của Chính phủ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ
- Đảm bảo an toàn nợ, duy trì danh mục nợ hợp lý trong từng thời kỳ
- Phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, qua đó ngăn ngừa và xử lý các sai phạm góp phần đảm bảo an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia
2.1.2.3 Các nguyên tắc quản lý nợ công
Thứ nhất, phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong quản lý nợ
công
Thứ hai, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý nợ công
Thứ ba, bảo đảm an toàn nợ trong giới hạn nhất định
Thứ tư, bảo đảm hiệu quả trong việc vay vốn và sử dụng vốn vay
2.1.2.4 Nội dung quản lý nợ công
- Xác lập mục tiêu quản lý nợ công và sự phối hợp giữa các chính sách:
- Xây dựng chiến lược quản lý nợ và khuôn khổ quản lý rủi ro:
- Xây dựng tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nợ công
2.2 Kiểm toán Nhà nước trong quản lý nợ công
2.2.1 Tổng quan về Kiểm toán Nhà nước
- Phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, qua đó ngăn ngừa và xử lý các sai phạm góp phần đảm bảo an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia;
- Đóng góp ý kiến giúp Chính phủ hoàn thiện các chính sách quản lý nợ công, nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công;
- Góp phần minh bạch hóa công tác quản lý nợ công
Trang 92.2.3 Vị trí pháp lý của KTNN trong quản lý nợ công
KTNN là một cơ quan nằm ngoài hệ thống quản lý nợ công, KTNN sẽ được trao quyền độc lập trong việc xác định chương trình kế hoạch kiểm toán và áp dụng các biện pháp chuyên môn, nghiệp vụ vào quá trình đưa ra các quyết định kiểm toán
- Một là, chức năng xác nhận;
- Hai là, chức năng kiến nghị;
Dựa trên chức năng cơ bản của kiểm toán, với vị thế là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất, KTNN thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nguồn lực, tài sản công của quốc gia
2.2.5 Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong quản lý nợ công
2.2.5.1 Tổ chức kiểm toán quản lý nợ công
Với vai trò này, KTNN thực hiện hoạt động kiểm toán nợ công của KTNN nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ diễn biến của quá trình quản lý, huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay theo chuẩn mực qui định Tổ chức kiểm toán quản lý nợ công bao gồm
ba giai đoạn, đó là chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán Chuẩn bị kiểm toán
Thực hiện kiểm toán
Lập báo cáo kiểm toán
Ở Việt Nam hiện nay, KTNN chưa xây dựng quy trình riêng để kiểm toán nợ công mà căn cứ vào từng cuộc kiểm toán cụ thể để áp dụng quy trình chuyên ngành phù hợp
2.2.5.2 Đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công
Thông qua hoạt động kiểm toán nợ công đối với cơ quan quản lý nợ, các đơn vị,
tổ chức sử dụng nợ vay, KTNN cho ý kiến về tính đúng đắn, trung thực đối với việc quản lý nợ công, xác nhận tính trung thực của thông tin trên báo cáo nợ công đồng thời KTNN cũng kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý, sử dụng nợ công, chỉ ra những vi phạm các nguyên tắc về tính tuân thủ pháp luật, tính hiệu quả, tiết kiệm trong việc quản lý và sử dụng nợ công Trong một số trường hợp những xa rời của hoạt động quản lý so với các quy định của pháp luật còn bị bắt buộc phải sửa chữa, khắc phục, đền bù thiệt hại thậm chí bị trừng phạt theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, khi tiến hành kiểm toán quản lý nợ công, KTNN sẽ phát hiện các
lỗ hổng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật cũng là một nội dung quan trọng trong việc góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý nợ công
Trang 10Với vai trò này, KTNN đánh giá và đưa ra ý kiến đối với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước để điều chỉnh, khắc phục những bất cập trong chính sách, pháp luật, đồng thời buộc các cơ quan có thẩm quyền xử lý, trừng trị những hành vi vi phạm pháp luật, chính sách của đơn vị được kiểm toán
2.2.5.3 Công khai thông tin quản lý nợ công
Cơ quan KTNN đóng một vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo rằng các báo cáo
nợ công có thể hiểu được một cách hợp lý, trung thực và đáng tin cậy tới tất cả các đối tượng quan tâm Vai trò đó là công khai thông tin quản lý nợ công
Ngoài ra, việc KTNN đóng vai trò công khai thông tin quản lý nợ công rất hữu ích cho các nhà đầu tư cũng như cho các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank và các chủ nợ khác trong việc ra quyết định đầu tư của họ KTNN sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một hệ thống báo cáo tốt về nợ công Thực hiện vai trò này giúp cho việc công khai thông tin về nợ công và công tác quản lý công, cải thiện tính minh bạch trong các hoạt động và nâng cao năng lực giải trình trách nhiệm của Chính phủ
Kết quả xử lý sai phạm trong quản lý nợ công được hiểu là các kết quả xử lý tài
chính kiểm toán về nợ công bao gồm toàn bộ các khoản tăng thu, giảm chi, các khoản xuất toán thu hồi về cho ngân sách nhà nước khi tiến hành kiểm toán nợ công
Sai phạm phát hiện trong qua ̉n lý nợ công được hiểu là các kết quả, phát hiện
kiểm toán về các trường hợp sai phạm, các hành vi tham nhũng , lãng phí phát hiê ̣n trong quá trình kiểm toán
Kiến nghị chấn chi ̉nh quản lý nợ công được hiểu là kết quả kiến nghị về việc sửa
đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách nợ công, các văn bản điều hành, quản lý nợ công còn sai sót, chưa phù hợp do KTNN phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán
2.2.7.1 Các yếu tố nội tại của KTNN
- Chất lượng hoạt động kiểm toán;
- Nguồn nhân lực;
- Cơ sở vật chất
2.2.7.2 Các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài
- Môi trường pháp luật;
- Môi trường kinh tế;
- Môi trường xã hội
Trang 112.3 Kinh nghiệm quốc tế về vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong quản lý
nợ công
2.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ
2.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
2.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra
Một là, Các quốc gia phải xác định rõ vai trò của cơ quan KTNN trong quản lý
nợ công bằng việc quy định vai trò của KTNN trong Hiến pháp, Luật và hệ thống các văn bản điều chỉnh
Hai là, KTNN phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, có đội ngũ kiểm toán viên có kinh
nghiệm, trình độ
Ba là, hoạt động quản lý nợ công là lĩnh vực quốc tế hóa rất cao đòi hỏi KTNN
cần tăng cường hội nhập quốc tế thông qua việc công khai hóa thông tin về hoạt động
kiểm toán nợ công, tích cực trao đổi kinh nghiệm, phương pháp thực hiện
Trang 12CHƯƠNG 3:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
TRONG QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1 Quản lý nợ công ở Việt Nam
nước 115.915 154.315 189.810 285.248 355.347 426.389 547.626 752.769
2 Nợ BLCP 47.553 94.510 137.732 162.863 225.513 288.375 343.237 396.113
a) Nước
ngoài 16.556 31.999 47.840 68.446 89.108 116.734 150.586 188.537 b) Trong
Trang 13Bức tranh nợ công trên đây cho thấy dư nợ công ở Việt Nam càng ngày càng tăng cao Nguyên nhân gây ra có thể kể đến là (1) Thâm hụt ngân sách, (2) đầu tư công lớn, dàn trải, (3) hiệu quả sử dụng nợ công thấp
3.1.2 Quản lý nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến nay
3.1.2.1 Về khung pháp lý
Từ năm 2009 trở la ̣i đây số lượng các văn bản hướng dẫn Luật nợ công là khá lớn và hệ thống các văn bản về quản lý nợ công đã tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, khung pháp lý về quản lý nợ công vẫn còn tồn tại một số bất cập, cụ thể là:
- Chưa quy định rõ ràng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan KTNN trong trong quản lý nợ công thông qua Hiến pháp, Luật quản lý nợ công, luật NSNN, Luật KTNN và các văn bản hướng dẫn quản lý nợ công gây khó khăn cho việc thực hiện kiểm toán quản lý nợ công nhằm xác nhận, minh bạch thông tin về nợ công cũng như nâng cao hiệu quả quản lý nợ công
- Các khái niệm về nợ cũng như phạm vi quản lý nợ vẫn còn có sự khó hiểu, chưa phù hợp theo các chuẩn mực quốc tế, do đó gây khó khăn cho việc phân loại, tổng hợp nợ
- Mức độ hoàn thiện về khuôn khổ pháp lý của hai lĩnh vực quản lý nợ trong nước và nợ ngoài nước này cũng có những khoảng cách khá xa dẫn đến việc quản lý rủi ro đối với danh mục nợ còn gặp khó khăn
3.1.2.2 Về tổ chức quản lý nợ
Việc quản lý nợ công của Chính phủ đã tiếp cận gần với các thực tiễn tốt của quốc tế như xác định rõ mục tiêu, nguyên tắc quản lý, ngoài việc hướng đến đạt được các mục tiêu huy động vốn và quản lý hiệu quả sử dụng Song trong thời kỳ này, công tác quản lý nợ đã bộc lộ một số tồn tại sau:
- Trên thực tế, việc phân công, phân nhiệm trong công tác quản lý nợ công của còn chồng chéo, không tập trung
- Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại cần hoàn thiê ̣n thêm nữa để hình thành được bộ máy quản lý nợ chuyên nghiệp
- Chưa có một cơ quan độc lập, khách quan đóng vai trò giám sát việc quản lý,
sử dụng nợ công cũng như đánh giá quản lý nợ công Một trong những yêu cầu khác của tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nợ công là các hoạt động quản lý nợ cần phải được cơ quan KTNN kiểm toán hàng năm, thì vẫn chưa được thực hiện ở Việt Nam