1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 12

Ứng dụng phương pháp ước lượng độ lệch sản lượng nhằm hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

7 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 266,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho dù được phát biểu theo cách nào thì Định luật Okun vẫn thể hiện được mối quan hệ giữa sản lượng thực tế, sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế nên các nhà hoạc[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Cơ quan quản lý và điều hành tiền tệ, cụ thể là NHTW của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều có nhiệm vụ chính của CSTT là cung cấp thanh khoản cho nền kinh tế, duy trì sự ổn định của mức giá cả hay tỷ lệ lạm phát và hỗ trợ tổng cầu Để NHTW có các căn cứ để đưa ra các quyết định về chính sách tiền tệ, NHTW phải xác định được nền kinh tế đang nằm ở đâu trong mối quan hệ với mức sản lượng tối đa bền vững, hay còn gọi là mức sản lượng tiềm năng Chính vì vậy, nhu cầu ước lượng sản lượng tiềm năng và độ lệch sản lượng để đưa ra những bằng chứng thực nghiệm là một trong những đầu vào hữu ích cho quá trình hoạch định và điều hành CSTT Ước lượng sản lượng tiềm năng cũng như độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế sẽ cho phép xác định được vị trí nền kinh tế đang ở mức thấp hơn hoặc cao hơn mức tăng trưởng bền vững mà không gây áp lực lên lạm phát, đánh giá được áp lực gia tăng lạm phát hay giảm phát của nền kinh tế và ước lượng được các chỉ tiêu này cũng có ý nghĩa đối với hoạch định chính sách vĩ mô Nếu sản lượng thực tế tăng cao hơn sản lượng tiềm năng thì sẽ gia tăng áp lực lên lạm phát, vì vậy chính phủ cũng như NHTW nên thực hiện chính sách thắt chặt làm giảm tổng cầu, giảm áp lực lên lạm phát và ngược lại Thêm vào

đó, ước lượng GDP tiềm năng và độ lệch sản lượng cho phép xác định được mức tăng trưởng mục tiêu bảo đảm tăng.trưởng bền vững, gắn liền với lạm phát thấp và ổn định

Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp để ước lượng sản lượng tiềm năng và

độ lệch sản lượng Luận văn đã lựa chọn được 3 phương pháp và tiến hành ước lượng và tính toán sản lượng tiềm năng và độ lệch sản lượng theo 3 phương pháp đã được lựa chọn Việc lựa chọn này được dựa vào tính sẵn có của số liệu, trong luận văn này tôi lựa chọn 3 phương pháp đó là phương pháp xu hướng tuyến tính, phương pháp bộ lọc Hodrick-Presscott và phương pháp tiếp cận dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglass

Đồng thời, dựa trên sự sẵn có của số liệu, đối với mỗi phương pháp, tôi sẽ lựa chọn những chuỗi số liệu ứng vơi mô hình phù hợp để ước lượng GDP tiềm năng và độ lệch sản lượng.Số liệu đầu vào cơ bản của 3 phương pháp là GDP thực tế của Việt Nam GDP theo giá so sánh năm 2010, tần suất quý từ 2000Q1 đến 2016Q2 (66 quan sát) và

Trang 2

tần suất năm từ 1980 đến 2015 (36 quan sát) Đối với số liệu về đầu tư và lao động chỉ có

số liệu theo tần suất năm và chỉ có số liệu từ năm 2000 đến 2015 Nguồn số liệu trong luận văn này là số liệu được công bố từ TCTK (Bộ KH&ĐT) và NHNN

Sau khi tính toán được sản lượng tiềm năng và độ lệch sản lượng, luận văn đã tiến hành so sánh các kết quả ước lượng với nhau Cơ sở để so sánh giữ các phương pháp là dựa vào các yêu cầu về mặt số liệu, yêu cầu kỹ thuật và so sánh giá trị ước lượng được so với giá trị thực tế diễn ra Kết quả cho thấy kết quảcủa ước lượng từ phương pháp HP là phù hợp nhất

Dựa vào kết quả ước lượng độ lệch sản lượng từ phương pháp HP, luận văn đã đưa ra 3 ứng dụng của độ lệch sản lượng vào trong điều hành CSTT của NHNN, cụ thể:

Một là, ứng dụng độ lệch sản lượng trong phân tích và dự báo lạm phát của NHNN

Đối với NHTW thì việc điều hành chính sách tiền tệ để đạt được mục tiêu quan trọng nhất là ổn định lạm phát do vậy NHTW phải quan tâm đến việc lạm phát của quốc gia là do ảnh hưởng của những nhân tố nào Một trong các nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới lạm phát đó là độ lệch sản lượng Mối quan hệ giữa lạm phát và độ lệch sản lượng thường là khá chặt chẽ với nhau Thông thường, lạm phát có xu hướng ở mức cao nếu độ lệch sản lượng dương (tức GDP thực tế cao hơn GDP tiềm năng), và ngược lại lạm phát ở mức thấp nếu độ lệch sản lượng ở mức âm và ổn định nếu độ lệch sản lượng bằng 0 Đồng thời, sự thay đổi của lạm phát có liên quan đến sự thay đổi của độ lệch sản lượng

Cụ thể, lạm phát sẽ có xu hướng ổn định nếu độ lệch sản lượng không thay đổi Hình 3.1 cho thấy độ lệch sản lượng ước lượng được bằng phương pháp HP diễn biến rất sát so với diễn biến lạm phát của nền kinh tế, đặc biệt từ giai đoạn quý 1/2004 đến quý 2/2014 mặc

dù diễn biến này có độ trễ khoảng 1-2 quý Giai đoạn năm 2009-2010, do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, mức chênh lệch sản lượng đã giảm rất mạnh, thậm chí ở mức âm nhưng lạm phát trong 2 năm 2010-2011 lại ở mức khá cao (lạm phát 2010 tăng 11,75% và năm 2011 tăng 18,13%), điều này có vẻ hơi đối lập với lý thuyết (mức độ lệch sản lượng thấp/âm trong khi lạm phát cao) Tuy nhiên, nghịch lý này có thể là do mức GDP tiềm năng của Việt Nam đã giảm do bị các tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh

Trang 3

tế nên cho dù Việt Nam có sử dụng biện pháp nào để hỗ trợ kinh tế trong ngắn hạn thì nền kinh tế cũng không thể hấp thụ được, hoặc chỉ hấp thụ được rất ít do vậy các biện pháp hỗ trợ này chỉ có thể làm cho lạm phát trong nền kinh tế tăng cao

Giai đoạn từ quý 3/2014- nay, độ lệch sản lượng và lạm phát có xu hướng không cùng chiều, nguyên nhân có thể giải thích là do giai đoạn này lạm phát của Việt Nam bị ảnh hưởng chủ yếu bởi giá cả hàng hóa trên thế giới sụt giảm, điển hình là giá xăng dầu

và giá lương thực thực phẩm (giá cả hàng hóa năm 2014; -6,2%; 2015: -35,3%), thêm vào đó, mặc dù chênh lệch sản lượng quý 3 và 4 năm 2015 có ở mức dương nhưng tính chung cả năm vẫn ở mức âm do số liệu chuỗi số liệu GDP theo quý bị mùa vụ ảnh hưởng rất lớn (như phân tích ở phần Chương 2), độ lệch sản lượng dương trong 6 tháng cuối năm 2015 có thể là nguyên nhân tác động đến lạm phát trong quý 2 năm 2016 (độ lệch sản lượng có tác động tới lạm phát nhưng thường trễ 1-2 quý) Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2016, chênh lệch sản lượng vẫn ở mức âm nhưng tỷ lệ lạm phát và chênh lệch sản lượng đã tiếp tục lại có diễn biến cùng chiều

Từ phân tích trên, có thể nói việc ước lượng độ lệch sản lượng sẽ cho phép phân tích dự báo sự thay đổi của lạm phát, đây là một trong các mục tiêu điều hành quan trọng của CSTT của hầu hết NHTW Độ lệch sản lượng dương trong một thời gian sẽ cho thấy

áp lực về cầu tăng lên và theo đó áp lực lên lạm phát đang gia tăng Nhờ đó, NHTW sẽ có các biện pháp về điều hành chính sách tiền tệ thích hợp nhằm ổn định thị trường tiền tệ

và giữ lạm phát theo mục tiêu đã đề ra Ví dụ, nếu NHTW muốn lạm phát giảm trong ngắn hạn thì các chính sách của NHTW sẽ theo hướng thắt chặt, do vậy, sẽ làm giảm tổng cầu, giảm áp lực lên lạm phát

Ngoài ra, mối quan hệ giữa lạm phát và độ lệch sản lượng còn được thể hiện qua mối quan hệ trong đường cong Phillips, trong đó, độ lệch sản lượng được sử dụng thay thế cho độ lệch về thất nghiệp Tỷlệ thất nghiệp tự nhiên và sản lượng tiềm năng là chỉ số tương đồng nhau về mặt khái niệm Mối quan hệ giữa độ lệch sản lượng và độ lệch về thất nghiệp được thể hiện thông qua Định luật Okun (liên hệ giữa thay đổi của tỷ lệ thất nghiệp và sự thay đổi sản lượng) Đường cong Phillips đã chứng minh là một công cụ

Trang 4

hiệu quả cho phân tích chính sách và các bằng chứng đáng kể chỉ ra rằng độ lệch sản lượng là một yếu tố quyết định của lạm phát tại một số nước

Sử dụng độ lệch sản lượng thay cho độ lệch thất nghiệp trong đường cong Phillips nên NHTW có thể phản ứng sớm nhất có thể trước các tín hiệu về áp lực lạm phát nổi nên do tổng cầu tăng Do vậy, ngày nay một số NHTW đã sử dụng độ lệch sản lượng (thay cho độ lệch về tỷ lệ thất nghiệp) như là một chỉ số phản ánh mức dư cầu trong phân tích đường cong Phillips

Hai là, ứng dụng độ lệch sản lượng trong điều hành lãi suất của NHNN

Độ lệch sản lượng và lãi suất có mối liên hệ được thể hiện qua Nguyên tắc Taylor

Nguyên tắc này là“ngân hàng trung ương nên thay đổi lãi suất danh nghĩa ra sao để đáp ứng các thay đổi của lạm phát, GDP hoặc các điều kiện kinh tế khác Theo đó, quy tắc nói rằng nếu lạm phát tăng thêm 1% thì ngân hàng trung ương nên tăng lãi suất danh nghĩa thêm hơn 1%”

Như vậy, từ quy tắc Taylor, NHTW có thể căn cứ vào chỉ tiêu độ lệch sản lượng (ước lượng) và LPMT để đưa ra các quyết định lãi suất Từ thực tiễn điều hành tại các NHTW cũng như quan điểm của các nhà nghiên cứu, có thể thấy TR là một công cụ định lượng tốt để phân tích CSTT, có khả năng đóng góp tích cực vào việc nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của NHTW Vì vậy, việc ước lượng độ lệch sản lượng sẽ giúp đỡ công tác điều hành lãi suất của NHTW một cách định lượng hơn trên cơ sở một hàm phản ứng chính sách Kinh nghiệm của một số nước cho thấy TR có thể là một chỉ báo tiềm năng, cần được xem xét đánh giá, nhất là trong trung và dài hạn

Sử dụng kết quả ước lượng độ lệch sản lượng bằng phương pháp HP cho Việt Nam, nghiên cứu đã tính toán lãi suất điều hành theo quy tắc Taylor và so sánh lãi suất Taylor với các mức lãi suất của Việt Nam trong giai đoạn 2004Q1 đến 2016Q2 để mô phỏng mối quan hệ nêu trên Từ Hình 3.2 có thể thấy lãi suất Taylor biến động cùng xu hướng của lãi suất TCV và TCK (đây chính là các mức lãi suất được sử dụng trong điều hành) và lãi suất thị trường, trong đó bám sát nhất là lãi suất cho vay bình quân Lãi suất Taylor có độ biến động khá lớn chủ yếu do lạm phát biến động lớn, thậm chí có thời điểm lạm phát so với cùng kỳ tăng gần 29%, đã khiến cho mức lãi suất Taylor ở mức hơn 41%

Trang 5

Kể từ cuối năm 2011, lãi suất Taylor giảm dần, phù hợp với xu hướng giảm của các loại lãi suất và lạm phát Như vậy, kết quả tính toán ban đầu này dựa trên hai giả định về mục tiêu lạm phát và lãi suất thực nhưng cũng ít nhiều phản ánh được xu hướng lãi suất của Việt Nam trong các năm qua

Và ba là, ứng dụng độ lệch sản lượng trong phân tích chu kỳ kinh tế và tỷ

lệ thất nghiệp

Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở “Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ) tương ứng bao gồm các giai đoạn thu hẹp, phục hồi và mở rộng kinh tế”.Kinh tế của hầu hết các nước đều gặp phải các vấn đề của chu kỳ kinh tế,

đó là vấn đề sản suất đình trệ, lạm phát và thất nghiệp Phân tích chu kỳ kinh tế tập trung vào các cú sốc lên tổng cầu và các biến động có tính chất lặp đi lặp lại (hay chính là tính chu kỳ) của độ lệch sản lượng

Độ lệch sản lượng là một chỉ số hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế nói chung và CSTT nói riêng vì nó cung cấp các tín hiệu về nền kinh tế đang ở trong giai đoạn nào của chu kỳ kinh tế (tăng trưởng kinh tế đang ở trên hay ở dưới mức tiềm năng)

để có thể đưa ra các gợi ý về chính sách tiền tệ Cụ thể, độ lệch sản lượng dương, tức là hoạt động của nền kinh tế đang ở trên mức sản lượng tiềm năng, điều này phát đi tín hiệu nền kinh tế đang trong thời kỳ tăng trưởng nóng hay đang trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp thấp Trạng thái này tạo áp lực làm gia tăng lạm phát và

vì vậy NHTW phải hạ nhiệt nền kinh tế bằng cách thắt chặt CSTT ví dụ như tăng lãi suất Trái lại, khi GDP thực tế ở dưới mức GDP tiềm năng, tương ứng với độ lệch sản lượng

âm, điều này báo hiệu nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao và

do đó CSTT cần phải nới lỏng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phục hồi Như vậy, có thể cho rằng, nghiên cứu về độ lệch sản lượng sẽ cho phép xác định nền kinh tế đang ở điểm nào của chu kỳ kinh tế để từ đó CSTT có những phản ứng chính sách thích hợp để điều chỉnh tổng cầu, nhằm ổn định kinh tế

Ngoài ra, mối quan hệ giữa GDP tiềm năng và một số biến số vĩ mô đại diện của chu kỳ kinh tế còn được thể hiện thông qua Định luật Okun và đường cong Phillips Theo

Trang 6

Định luật Okun “mối quan hệ giữa sản lượng tiềm năng, sản lượng thực tế với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và tỷ lệ thất nghiệp thực tế” Định luật này có 2 phát biểu, cách một là theo Samuelson và Nordhaus “khi sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng 2% thì thất nghiệp thực tế tăng thêm 1%” Khái quát là “nếu sản lượng thực tế này thấp hơn sản lượng tiềm năng x% thì thất nghiệp thực tế sẽ tăng thêm x%/2” Cách hai là theo Fischer và Dornbusch “Khi sản lượng thực tế tăng nhanh hơn sản lượng tiềm năng 2,5% thì thất nghiệp thực tế sẽ giảm bớt 1%” Cho dù được phát biểu theo cách nào thì Định

luật Okun vẫn thể hiện được mối quan hệ giữa sản lượng thực tế, sản lượng tiềm năng và

tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế nên các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các nhà hoạch định và điều hành về CSTT hoàn toàn có thể dựa vào các thông tin này để đưa ra các quyết sách của mình

Đường cong Phillips có hai phiên bản thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp với tỷ lệ lạm phát hoặc với tốc độ tăng trưởng kinh tế Cụ thể, đường cong Phillips phiên bản lạm phát thể hiện quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát Và đường cong Phillips phiên bản GDP thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tốc độ tăng trưởng GDP

Tóm lại, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếp tục đổi mới hoạt động hoạt động của hệ thống ngân hàng là một yêu cầu cấp bách cả trên phạm vi toàn cầu, cũng như của mỗi quốc gia Hoạt động điều hành CSTT của NHNN Việt Nam

đã và đang có những chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực, thu được nhiều thành công đáng ghi nhận, nhất là trong việc chuyển từ điều hành trực tiếp sang điều hành gián tiếp, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành mang tính thị trường hơn để đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế đang có những biến đổi sâu sắc Ước lượng độ lệch sản lượng nhằm phục vụ công tác điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng ngày càng trở nên quan trọng đối với hầu hết các NHTW Việt Nam đang hướng tới

cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo khuôn khổ LPMT linh hoạt như một số NHTW

có điều kiện tương tự như Việt Nam và vì vậy, chỉ tiêu độ lệch sản lượng càng cần thiết

để làm đầu vào cho các mô hình phản ứng chính sách liên quan đến lãi suất, lạm phát Luận văn đã tiến hành ước lượng độ lệch sản lượng cho Việt Nam và lựa chọn được

Trang 7

phương pháp phù hợp để NHNN có thể ứng dụng độ lệch sản lượng trong quá trình điều hành CSTT của mình, để CSTT được điều hành một cách hiệu quả hơn thông qua việc ứng dụng độ lệch sản lượng vào phân tích và dự báo lạm phát; điều hành lãi suất; và phân tích chu kỳ kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp./

Ngày đăng: 16/01/2021, 21:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

CөthӇ , lҥ m phát sӁ Fy[XKѭ ӟng әQÿ ӏ nh nӃ Xÿ ӝlӋ ch sҧ QOѭ ӧQJNK{QJWKD\ÿ әi. Hình 3.1 cho thҩ \ÿӝ lӋch sҧQOѭӧQJѭӟFOѭӧQJÿѭӧc bҵnJSKѭѫQJSKiS+3GLӉn biӃn rҩt sát so vӟi  diӉn biӃn lҥm phát cӫa nӅn kinh tӃ ÿһc biӋt tӯ JLDLÿRҥQTXêÿӃn quý 2/2014 mһc  dù diӉn b - Ứng dụng phương pháp ước lượng độ lệch sản lượng nhằm hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
th Ӈ , lҥ m phát sӁ Fy[XKѭ ӟng әQÿ ӏ nh nӃ Xÿ ӝlӋ ch sҧ QOѭ ӧQJNK{QJWKD\ÿ әi. Hình 3.1 cho thҩ \ÿӝ lӋch sҧQOѭӧQJѭӟFOѭӧQJÿѭӧc bҵnJSKѭѫQJSKiS+3GLӉn biӃn rҩt sát so vӟi diӉn biӃn lҥm phát cӫa nӅn kinh tӃ ÿһc biӋt tӯ JLDLÿRҥQTXêÿӃn quý 2/2014 mһc dù diӉn b (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w