- Quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình chỉ được xem xét, kết nạp vào Đảng khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn[r]
Trang 1TÀI LIỆU PHỤ VỤ SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 11 NĂM 2018
MỘT SỐ KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ 8,
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII
Toàn cảnh khai mạc hội nghị - Ảnh nguồn: TTXVN.
Từ ngày 02 - 06/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã họp Hội nghị lần thứ 8 để bàn và quyết định một số nội dung quan trọng:
Về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2018 và nhiệm vụ năm 2019
Ban Chấp hành Trung ương thống nhất ban hành Kết luận về tình hình kinh tế
-xã hội năm 2018; kế hoạch phát triển kinh tế - -xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 với các nội dung cơ bản sau:
a) Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2018: Năm 2018, kinh tế toàn cầu phục hồi
nhưng còn có rủi ro, xu hướng bảo hộ, tranh chấp thương mại gia tăng Trong nước, ngay từ đầu năm, các cấp, các ngành đã quyết liệt triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Nhờ sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, tình hình kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đà chuyển biến tích cực Kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm ước tính tăng dưới 4%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt khoảng 475 tỉ USD và là năm thứ 3 liên tiếp xuất siêu Tăng trưởng GDP dự báo vượt chỉ tiêu đề ra (6,7%) Tỉ lệ hộ nghèo còn 5,2 - 5,7%, giảm 1 - 1,5% Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu có nhiều tiến bộ Cải cách hành chính, công tác thanh tra, giải
Trang 2quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được chỉ đạo và thực hiện quyết liệt Tiềm lực quốc phòng; an ninh được tăng cường; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều thành tựu, vị thế và uy tín của
Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được,
nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn còn chậm Sản xuất kinh doanh vẫn còn khó khăn Đời sống một bộ phận nhân dân chưa được cải thiện, còn khó khăn Tình hình
an ninh, trật tự, an toàn xã hội có lúc, có nơi diễn biến phức tạp
b) Về một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2019: (1) Tiếp tục củng cố nền
tảng vĩ mô, kiểm soát lạm phát, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (2) Thực hiện đồng bộ, quyết liệt các đột phá chiến lược (3) Tạo chuyển biến rõ nét trong cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh (4) Phát triển văn hoá, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân (5) Chấn chỉnh công tác quản lý tài nguyên, môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu (6) Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí (6) Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế (8) Làm tốt hơn nữa công tác thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội,
tạo niềm tin và khát vọng dân tộc (9) Về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019: Giữ
vững kỷ luật tài chính - ngân sách nhà nước; tiếp tục củng cố cơ sở thuế, tăng cường chống thất thu, nợ đọng thuế, chuyển giá Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỉ trọng thu nội địa, chi đầu tư và giảm tỉ trọng chi thường xuyên; giảm bội chi ngân sách nhà nước; quản lý và sử dụng hiệu quả, bảo đảm an toàn nợ công
Dự kiến đến cuối năm 2019, nợ công khoảng 61,3%, nợ Chính phủ khoảng 52,2%, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 49,9% GDP
Về Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Ban Chấp hành Trung ương thống nhất ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có một số nội dung đáng chú ý như:
Mục tiêu tổng quát đến năm 2030: Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển
mạnh đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững Kinh tế biển xanh đóng vai trò chủ đạo; hình thành văn hoá sinh thái biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng; chống sạt lở bờ biển và biển xâm thực; khoa
Trang 3học, công nghệ tiên tiến và những thành tựu khoa học - công nghệ mới trở thành nhân
tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển
Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền
vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào các vấn đề biển và đại dương của quốc tế và khu vực, góp phần quan trọng xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về một số chủ trương: Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất 5 chủ trương lớn: (1) Phát triển kinh tế biển và ven biển: Đến năm 2030, phát triển thành
công, có bước đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: Phát triển du lịch biển, đảo; Kinh tế hàng hải; Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; Nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản và phát triển hạ tầng nghề cá; Phát triển công
nghiệp đóng tàu; Phát triển năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế mới (2) Phát
triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển (3) Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai (4) Xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển (5) Bảo đảm quốc phòng,
an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế
Về các khâu đột phá: Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định 3 đột phá: (l)
Hoàn thiện thể chế phát triển bền vững biển, ưu tiên tạo hành lang pháp lý đổi mới
mô hình phát triển theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, năng suất, chất lượng cao, cạnh tranh quốc tế của các ngành kinh tế biển, các vùng biển, ven biển, hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp và thống nhất về biển; (2) Phát triển khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, thu hút chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu, nhân lực chất lượng cao; (3) Phát triển kết cấu hạ tầng đa mục tiêu, đồng bộ dựa trên hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, kết nối chiến lược Bắc - Nam, Đông
- Tây giữa các vùng trong nước và với quốc tế
Về các giải pháp thực hiện: Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất 7
nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo đồng thuận trong toàn xã hội (2) Hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển bền vững biển (3) Phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển (4) Đẩy mạnh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển (5) Tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển (6) Chủ động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển (7) Huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển, xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh
Trang 4Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua nội dung cơ bản Quy định
về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: Sự nêu gương của cán bộ, đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, cũng là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và bước đầu đạt được một số kết quả tích cực Tuy nhiên, nhận thức và thực hiện trách nhiệm nêu gương của không ít cán bộ, đảng viên còn hạn chế Việc ban hành và thực hiện hiệu quả Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ tạo sự lan toả mạnh mẽ, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhất là đối với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư Do vậy, ban hành Quy định là cần thiết trong tình hình hiện nay
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng tình, nhất trí cao với việc ban hành Quy định để việc nêu gương trở thành việc làm tự giác, thường xuyên và nếp văn hóa; nâng cao ý thức trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, trước hết là
Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; góp phần quan trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng và đảng viên; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng Đồng thời, Quy định được ban hành sẽ có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và phòng ngừa sai phạm…
Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: Từng đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng khoá XII thật sự soi vào bản thân mình, đề cao trách nhiệm nêu gương và gương mẫu đi đầu thực hiện thì sẽ có sức lan tỏa rất lớn, sẽ tạo được chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào Đảng, vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư
Ban Chấp hành Trung ương giao cho Bộ Chính trị chỉ đạo tiếp thu ý kiến thảo luận của Trung ương, hoàn thiện dự thảo Quy định để xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương Đảng bằng văn bản trước khi ban hành
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và thống nhất, quyết định
thành lập 5 Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng gồm: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế - Xã hội; Tiểu ban Điều lệ Đảng; Tiểu ban Nhân sự và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các Tiểu ban cần khẩn
Trang 5trương xây dựng chương trình, kế hoạch để sớm đi vào hoạt động.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất cao (100%) giới thiệu đồng
chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng để Quốc hội bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIV (2016 - 2021) tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV; bầu bổ sung hai
Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khoá XII; cho ý kiến để Bộ Chính trị xem xét, quyết định theo thẩm quyền việc giới thiệu đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, quyền Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông để Thủ tướng Chính phủ trình Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông
Về thi hành kỷ luật cán bộ
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Bắc Son, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông bằng hình thức: Cách chức
Ủy viên Trung ương Đảng khoá XI và Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và
Truyền thông nhiệm kỳ 2011 - 2016.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Trần Văn Minh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, nguyên Phó Bí thư Thành uỷ, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng bằng hình thức: Khai trừ
ra khỏi Đảng
Theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban
Bí thư khoá XII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét và thống nhất cao với Báo cáo các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 7 đến Hội nghị Trung ương 8, khoá XII; Báo cáo công tác tài chính đảng năm 2017
Trang 6MỘT SỐ NÉT CHÍNH VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA
THÁNG 9 VÀ 9 THÁNG N
Phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 9 Ảnh nguồn: Thống Nhất
Một số kết quả cụ thể:
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2018 của nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực; cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng đi vào thực chất hơn Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát Thị trường tiền tệ, tín dụng, chứng khoán phát triển ổn định Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III năm 2018 duy trì đà tăng cao, ước đạt 6,88%; 9 tháng ước đạt 6,98%, cao nhất so với cùng kỳ trong 07 năm qua; thu hút 11,6 triệu lượt khách quốc tế, tăng 22,9% Xuất khẩu 9 tháng tăng 15,4% so với cùng kỳ; xuất siêu đạt gần 5,4 tỷ USD Thu ngân sách nhà nước tăng 13,7%; tỷ lệ nợ công
so với GDP giảm Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện tăng 10,9% Môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện Số doanh nghiệp đăng ký thành lập và quy mô vốn bình quân đều tăng so với cùng kỳ Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, an toàn vệ sinh thực phẩm được chú trọng Chính sách an sinh xã hội được bảo đảm, đặc biệt là công tác đền ơn, đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng được quan tâm thực hiện tốt Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Công tác đối ngoại, hội nhập được chú trọng, tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới về ASEAN (WEF ASEAN) năm 2018, khẳng định và góp phần nâng cao vị
Trang 7thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội nước ta còn gặp không ít khó khăn, thách thức: cuộc chiến thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc; rủi ro tỷ giá, lãi suất gia tăng; căng thẳng địa chính trị diễn biến khó lường; khoa học công nghệ và cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta trên nhiều phương diện Áp lực lạm phát vẫn còn hiện hữu; đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng giảm; giải ngân đầu tư công và vốn ODA còn thấp so với yêu cầu Số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động tăng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ, khiếu kiện đông người
ở một số địa bàn diễn biến phức tạp Thời gian qua, thời tiết, thiên tai, bão lũ đã gây thiệt hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống
Một số nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:
Để phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, tạo thế và lực tốt hơn cho đất nước vào những năm cuối nhiệm kỳ, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương không chủ quan, lơ là, theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình trong nước và thế giới, kịp thời có đối sách phù hợp; tập trung thực hiện đồng
bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, các Nghị quyết chuyên đề và Nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề cao trách nhiệm cá nhân, tập trung chỉ đạo, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ, công việc được giao, đặc biệt là các nhiệm vụ về xây dựng và hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo chuyển biến rõ nét trong những tháng còn lại của năm 2018; trong đó tập trung thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình giá cả, thị
trường, tăng cường công tác phân tích, dự báo, kịp thời có các biện pháp điều hành phù hợp, kiểm soát lạm phát, nhất là vào thời điểm cuối năm
Thứ hai, tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về cơ cấu lại nền kinh tế,
tăng năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, khả năng chống chịu của nền kinh tế; thúc đẩy phát triển các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân; tăng năng lực cạnh tranh của các đô thị; coi khoa học - công nghệ là động lực tăng trưởng mới Chủ động nghiên cứu, xây dựng chương trình hành động nâng cao năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư của từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương, nhất là xây dựng khung pháp lý, quản lý hiệu quả các mô hình kinh tế ứng dụng công nghệ thông tin Tập trung thực hiện nghiêm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư tại cuộc họp lãnh đạo chủ chốt
Trang 8Thứ ba, Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử, cơ quan thường trực là Văn phòng
Chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ, đôn đốc việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp
về xây dựng Chính phủ điện tử theo phân công, bảo đảm tiến độ và hiệu quả
Thứ tư, các bộ, ngành chủ động phối hợp với Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại
doanh nghiệp thực hiện bàn giao các tập đoàn, tổng công ty nhà nước theo đúng kế hoạch, bảo đảm hoạt động bình thường của các doanh nghiệp
Thứ năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài
chính, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học
và Công nghệ, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ cụ thể được giao trong Nghị quyết số 124/NQ-CP của Chính phủ, ngày 06/10/2018
MỘT SỐ LƯU Ý KHI KẾT NẠP NGƯỜI VI PHẠM CHÍNH SÁCH DÂN SỐ
VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH VÀO ĐẢNG
Ngày 28/8/2018, Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 05-QĐi/TW quy định một
số điểm về kết nạp lại đối với đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng và kết nạp quần chúng
vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình vào Đảng (Quy định này thay thế Quy định số 173-QĐ/TW, ngày 11/3/2013 của Ban Bí thư khoá XI và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký), như sau:
(1) Tiêu chuẩn, điều kiện, thẩm quyền kết nạp lại vào Đảng đối với đảng viên đã
bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình:
- Đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình chỉ được xem xét, kết nạp lại vào Đảng khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Trung ương và yêu cầu thực
tế của công tác xây dựng Đảng của địa phương, đơn vị; là người có uy tín trong cơ quan, đơn vị, cộng đồng dân cư, được cấp uỷ nơi công tác và nơi cư trú, các tổ chức đoàn thể mà mình là thành viên đánh giá cao về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm
vụ được giao, về ý thức trách nhiệm đối với nhân dân và phải có thời gian phấn đấu ít nhất là 24 tháng đối với trường hợp vi phạm sinh con thứ ba hoặc 36 tháng đối với trường hợp vi phạm sinh con thứ tư kể từ ngày bị đưa ra khỏi Đảng đến ngày chi bộ họp xét đề nghị kết nạp vào Đảng
- Việc kết nạp lại đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách dân số
và kế hoạch hoá gia đình vào Đảng phải được ban thường vụ cấp ủy trực thuộc Trung
Trang 9ương đồng ý bằng văn bản trước khi ban thường vụ cấp ủy huyện (hoặc tương đương) quyết định kết nạp
(2) Tiêu chuẩn, điều kiện, thẩm quyền kết nạp vào Đảng đối với quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình:
- Quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình chỉ được xem xét, kết nạp vào Đảng khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Trung ương và yêu cầu thực tế của công tác xây dựng Đảng của địa phương, đơn vị; là người có uy tín trong cơ quan, đơn vị, cộng đồng dân cư, được cấp uỷ nơi công tác và nơi cư trú, các tổ chức đoàn thể mà mình là thành viên đánh giá cao về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, về ý thức trách nhiệm đối với nhân dân và phải có thời gian phấn đấu ít nhất là 24 tháng đối với trường hợp vi phạm sinh con thứ ba hoặc 36 tháng đối với trường hợp vi phạm sinh con thứ tư kể từ ngày sinh con đến ngày chi bộ họp xét đề nghị kết nạp vào Đảng
- Việc kết nạp quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình vào Đảng do ban thường vụ cấp uỷ huyện (hoặc tương đương) xem xét, quyết định
(3) Các trường hợp không xem xét kết nạp lại và kết nạp vào Đảng:
Đảng viên sau khi bị đưa ra khỏi Đảng lại vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
Quần chúng đã vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình trong trường hợp sinh con thứ năm trở lên
BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP
CỦA ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG QUA 70 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương tiền thân là Liên chi bộ cơ quan Trung ương được thành lập ngày 07/11/1948, tại Chiến khu Việt Bắc với 6 chi bộ và vài chục đảng viên công tác trong các cơ quan Trung ương Trải qua các thời kỳ, theo yêu cầu của thực tiễn cách mạng, Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương (Đảng bộ Khối)
đã có 4 lần được sắp xếp, tổ chức lại, đến nay, Đảng bộ Khối có 64 đảng bộ, chi bộ trực thuộc với gần 7 vạn đảng viên, sinh hoạt trong 5.469 chi bộ
70 năm xây dựng và phát triển, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các cấp ủy trong Đảng bộ Khối đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những
thành tích toàn diện trên các mặt công tác Trong những năm kháng chiến chống
giặc ngoại xâm, thống nhất Tổ quốc, Đảng bộ Khối đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của mình Nổi bật là, công tác chỉnh huấn, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ và kiểm tra công tác đảng và sinh hoạt chi bộ Nhờ làm tốt công tác này, nhiều lớp cán bộ, đảng viên của Đảng đã được đào tạo, bồi dưỡng và có những đóng góp lớn cho cách mạng,
Trang 10cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi các cuộc đấu tranh giải phóng, giành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong những năm gần đây, nhất là sau khi được tổ chức lại (năm 2007 đến nay),
Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương đã thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, lựa chọn những vấn đề có trọng tâm, trọng điểm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
và tổ chức thực hiện, đạt nhiều thành tích, được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhất (2013); Huân chương Lao động hạng Nhất (2010 và năm 2017)…
Chặng đường 70 năm xây dựng và phát triển của Đảng bộ Khối bên cạnh những yếu tố thuận lợi, cũng gặp không ít khó khăn, thách thức luôn đặt ra cho các cấp ủy,
tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải quyết tâm, đồng lòng, đoàn kết, thống nhất cùng lao động sáng tạo vượt qua khó khăn, thách thức xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, những bài học sâu sắc để viết lên những trang sử hào hùng của Đảng bộ Khối, đó là:
Thứ nhất, phát huy dân chủ Dân chủ trong xây dựng mục tiêu, lý tưởng, trong
hoạch định đường lối phát triển của Đảng bộ; trong thực hiện các nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng; Dân chủ trong công tác tham mưu các chủ trương, đường lối cho Đảng và xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước hợp lòng dân, vì lợi ích của nhân dân
Thứ hai, truyền thống đoàn kết Đoàn kết thống nhất, có tổ chức và kỷ luật chặt
chẽ theo nguyên tắc của Đảng, trên cơ sở tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình và tình thương yêu đồng chí Tinh thần đoàn kết đó, đã được hun đúc qua bao thế hệ cán bộ lãnh đạo, đảng viên của Đảng bộ Khối, trải qua các thời kỳ cách mạng, vượt qua bao khó khăn, thách thức, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao
Thứ ba, sự tỏa sáng về trí tuệ Đội ngũ cán bộ, đảng viên Đảng bộ Khối luôn biết
phát huy những tri thức, kinh nghiệm của mình trong việc tham mưu cho Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật có giá trị thực tiễn cao, được khắc ghi dấu son trong nhiều giai đoạn cách mạng của đất nước…
Thứ tư, sự đổi mới Đổi mới vừa là mục tiêu, vừa là động lực được Đảng bộ
Khối xác định trong xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh và trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị Đó là sự đổi mới trong công tác tham mưu, hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho Đảng và Nhà nước với mục tiêu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng của dân tộc Đó là sự đổi mới trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Khối và các tổ chức đảng trực thuộc
Thứ năm, sự phát triển Sự phát triển thể hiện trong xây dựng tổ chức, từ một liên
chi bộ với quy mô nhỏ (6 chi bộ với vài chục đảng viên), qua quá trình xây dựng, kế thừa và phát triển những giá trị tinh hoa của thế hệ đi trước, phát triển thành Đảng bộ