1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Đề cương ôn tập ngữ văn 6 học kì 2 năm học 2019 – 2020 trường THCS Thường Phước

6 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 287,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không khó để làm một bài văn tả cảnh nhưng muốn viết hay thì đòi hỏi chúng ta phải biết quan sát và có kỹ năng viết văn tả cảnh.Trong một bài văn tả cảnh thì năng lực quan sát của ngườ[r]

Trang 1

Trường THCS Thường Phước 1 Trần Phước Lộc

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 6 I/ Văn miêu tả cảnh thiên nhiên:

Tả cảnh là tái hiện lại những bức tranh về thiên nhiên hay cảnh sinh hoạt gợi ra trước mắt người đọc về đặc điểm từng nét riêng của cảnh Không khó để làm một bài văn

tả cảnh nhưng muốn viết hay thì đòi hỏi chúng ta phải biết quan sát và có kỹ năng viết văn tả cảnh.Trong một bài văn tả cảnh thì năng lực quan sát của người viết thường bộc lộ

rõ nhất, do đó, để viết được bài văn tả cảnh thì học sinh phải biết được đối tượng miêu

tả, lựa chọn các hình ảnh tiêu biểu và biết trình bày những điều quan sát được theo một thứ tự hợp lý

Ví dụ: Về cảnh mùa đông, có thể nên những đặc điểm:

- Bầu trời âm u, nhiều mây

- Gió lạnh, có thể có mưa phùn

- Cây cối rụng lá chờ cành

- Chim chóc bay đi tránh rét

- Trong nhà, người ta đốt lửa sưởi

Dàn ý làm văn tả cảnh thiên nhiên như sau:

Mở bài: Cảnh ở đâu? Em thấy cảnh đó vào dịp nào?

Khung cảnh bao quát xung quanh thế nào?

– Mở bài thông thường là giới thiệu cảnh (đối tượng miêu tả) Ví dụ:

Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng – những màu vàng rất khác nhau

(Tô Hoài, Quang cảnh làng mạc ngày mùa)

– Hoặc có thể vừa giới thiệu vừa tả khái quát hoặc đánh giá chung Ví dụ:

Luỹ làng là một vành đai phòng thủ kiên cố! Luỹ làng có ba vòng bao quanh làng Màu xanh là màu của luỹ

(Ngô Văn Phú, Luỹ làng) Cuối buổi chiều, Huế thường trở về trong một vẻ yên tĩnh lạ lùng, đến nỗi tôi cảm thấy một cái gì đó đang lắng xuống thêm một chút nữa trong cái thành phố vốn hằng ngày đã rất yên tĩnh này

(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng hôn trên sông Hương)

– Cũng có thể mở đầu bằng một hình ảnh có tính chất làm nền cho cảnh:

Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây cao, rồi nhạt dần và như lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng

(Phạm Đức, Chiều tối)

Thân bài:

- Miêu tả cảnh vật theo trình tự nhất định:

+ Trình tự không gian: Miêu tả từ xa tới gần (hoặc ngược lại), từ mảng cảnh này đến mảng cảnh khác, từng chi tiết của cảnh

VD: Trong Ngữ văn 6, tập hai, trang 45-46, đoạn văn của Đoàn Giỏi tả sông Năm Căn theo trình tự xuôi dòng của thuyền đi; bài Luỹ làng theo trình tự từng lớp của luỹ phòng thủ

Trang 2

Trường THCS Thường Phước 1 Trần Phước Lộc

+ Trình tự thời gian: Miêu tả cảnh vật trong những mùa, những khoảng thời gian khác nhau,sáng – trưa – chiều – tối, từ lúc bắt đầu đến kết thúc

VD: Bài Biển đẹp (Ngữ vãn 6, tập hai, trang 47-48) theo trình tự thời gian nhưng không phải thời gian liên tục mà thời gian ở nhiều thòi điểm khác nhau

+ Kết hợp cả hai trình tự không gian và thời gian

- Hoạt động của người và vật trong cảnh

- Đặc điểm nổi bật thu hút sự chú ý của mọi người

Thân bài gồm nhiều phần Các phần được sắp xếp theo trình tự miêu tả (theo từng mảng cảnh hoặc theo thứ tự thời gian).Thân bài nên chia ra nhiều đoạn, mỗi đoạn một cảnh, hoặc một cảnh viết thành nhiều đoạn Trong bài Luỹ làng(Ngữ văn 6, tập hai, tr 45), luỹ làng được tả từ lớp ngoài cùng, đến lớp giữa và lớp trong cùng

Kết bài:

- Cảm xúc của em trước cảnh là gì?

- Suy nghĩ về việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên để có cuộc sống tốt đẹp hơn

Kết bài có thể phát biểu cảm nghĩ (nhận xét, đánh giá) mà cũng có thể không Khi đó, có thể kết bài bằng một cảnh cuối cùng có tính chất khép lại toàn cảnh (như cảnh tròi tối hẳn, nếu

tả cảnh chiều tối; cảnh ánh sáng đã chan hoà khắp làng quê/ xóm phố, nếu tả cảnh bình minh) Ví dụ:

– Kết bài bằng nhận xét:

Biển nhiều khi rất đẹp, ai cũng thấy như thế Nhưng có một điều ít ai chú ý là: vẻ đẹp của biển, vẻ đẹp kì diệu muôn màu, muôn sắc ấy phần lớn là do mây trời và ánh sáng tạo nên

(Vũ Tú Nam, Biển đẹp) – Kết bài bằng cách lấy một cảnh cuối để khép lại:

Mưa đã ngớt, trời rạng dần Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót răm ran Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh

(Tô Hoài, Mưa rào)

* Cần chú ý thứ tự khi miêu tả

Ví dụ:

a) Tả quang cảnh lớp học trong giờ viết bài tập làm văn:

- Có thể theo thời gian: Trống vào lớp Cô giáo (thầy giáo) cho chép đề Các bạn bắt tay vào làm bài Kết thúc buổi làm bài, thu, nộp bài cho thầy, cô

- Có thể theo không gian: Bên ngoài lớp Trên bảng, cô (thầy) ngồi trên bàn giáo viên Các bạn trong lớp bắt tay vào làm bài Không khí cả lớp và tinh thần thái độ làm bài của bạn ngồi cạnh người viết (hay chính bản thân người viết)

b) Tả sân trường giờ ra chơi:

- Miêu tả theo không gian:

+ Từ xa tới gần

+ Miêu tả theo thời gian trước, trong và sau khi ra chơi

Trang 3

Trường THCS Thường Phước 1 Trần Phước Lộc

Cũng có thể có một cách thứ ba là kết hợp cả không gian và thời gian (Cách này khó và phức tạp hơn) Trước hết, em hay chọn trật tự miêu tả Sau đó chọn cảnh sân trường giờ ra chơi để viết thành đoạn văn

- Miêu tả theo thứ tự thời gian:

+ Sân trường vắng lặng trong giờ học

+ Hiệu lệnh trống ra chơi, mọi người ùa ra

+ Có tốp chơi đá cầu, nhảy dây, đá bóng, có tốp chỉ đứng xem, hoặc tranh cãi nhau về điều

gì đó

+ Có thể tả màu sắc quần áo, những tiếng cười nói, hò reo và một vài bạn chơi tích cực nhất

II/ Văn kể chuyện sáng tạo, tưởng tượng:

Kể chuyện tưởng tượng là những chuyện do người kể nghĩ ra bằng trí tưởng tượng của mình, không có sẵn trong sách vở hay trong thực tế nhưng có một ý nghĩa nào đó Truyện tưởng tượng được kể ra một phần dựa vào những điều có thật, có ý nghĩa rồi tưởng tượng thêm cho thú vị và làm cho ý nghĩa thêm nổi bật

- Kể chuyện tưởng tượng (trong văn tự sự) có thể tạm hiểu theo ba kiểu sau (trên cơ sở dựa vào những điều có thật để tưởng tượng ra):

+ Mượn lời một đồ vật, con vật (nhân hóa để nó kể chuyện- đóng vai hợp với lôgic)

+ Thay ngôi kể để kể chuyện đã được đọc ở sách, truyện

+ Tưởng tượng một đoạn kết mới cho một truyện cổ tich, truyền thuyết

Những yêu cầu của một bài văn đúng và hay:

* Trước khi làm bài học sinh phải xác định được phần tìm hiểu đề:

* Xác định nội dung trọng tâm của bài viết (Nội dung trọng tâm của bài viết chính là đối tượng mà đề bài yêu cầu “kể lại”, “kể về”,… và những suy nghĩ của em về đối tượng đó)

* Xác định các yếu tố cấu thành văn bản

- Lựa chọn những chi tiết chính

- Lựa chọn ngôi kể

+ Với ngôi thứ nhất người kể chuyện (xưng “tôi”) có thể trực tiếp kể lại những gì mình nghe, mình thấy…

+ Với ngôi kể thứ ba, người kể tự giấu mình đi, gọi nhân vật bằng tên gọi của chúng…

- Lựa chọn thứ tự kể

+ Kể theo trình tự tự nhiên

+ Kể không theo trình tự tự nhiên

* Xác định phạm vi tư liệu (Tư liệu của bài văn tự sự thường nằm ở một số nguồn xác định:)

- Từ tác phẩm văn học đã được nêu ở đề bài Ví dụ: Trong vai Mỵ Nương con gái yêu của vua Hùng hãy kể lai truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh

- Từ thực tế cuộc sống: Ví dụ Mỗi dịp tết đến xuân về trên bàn thờ gia tiên nhà nào cũng có vài cặp bánh chưng Em hãy kể lai một giấc mơ trò chuyên với nhân vật chính trong truyền thuyết Bánh Chưng, Bánh Giầy để làm rỗ vấn đề này

*Lập dàn ý:

Trang 4

Trường THCS Thường Phước 1 Trần Phước Lộc

Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệ thống của lập luận, tính cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi ý, từ đó phân bố thời gian hợp lí Lập dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ biết lựa chọn đúng cách diễn đạt, cách trình bày bài viết

*Dàn ý gồm cấu trúc 3 phần:

a Mở bài: Có vai trò quan trọng đối với một bài văn Mở bài đúng và hay sẽ khai thông được mạch văn

Ở phần mở bài người viết cần giới thiệu khái quát vấn đề sẽ kể, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết Để có được mở bài hay, cần nêu trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ kể một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ

b Thân bài: Có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề mà mở bài đã nêu Thân bài gồm nhiều đoạn Giữa các đoạn có câu hoặc từ chuyển tiếp

Thông thường kết cấu một bài văn tự sự nói chung và kể chuyện tưởng tượng nói riêng gồm các phần:

- Trình bày (nhân vật, mối quan hệ giữa các nhân vật, hoàn cảnh…)

- Thắt nút: mâu thuẫn xuất hiện, những phản ứng của các nhân vật

- Phát triển: mâu thuẫn ngày càng phát triển, nhân vật phản ứng mạnh mẽ trong mâu thuẫn

- Cao trào: mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, đòi hỏi phải có phương án giải quyết

- Mở nút: mâu thuẫn được giải quyết, “nút thắt” được cởi

c Kết bài: Là phần kết thúc bài viết Vì vậy, nó tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã đặt ra ở mở bài và giải quyết ở thân bài Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ “gói lại” mà còn phải khơi gợi suy nghĩ trong người đọc

*Cách làm một đề văn cụ thể

II.1 Kiểu đề bài mượn lời đồ vật hay con vật gần gũi, kể chuyện tình cảm giữa em và

đồ vật, con vật đó

Với kiểu đề bài này học sinh cần chú ý: Nên nhân cách hóa đồ vật, con vật, tạo ra những yếu tố cảm xúc tâm trạng giống hệt con người Giọng kể trò chuyện tâm tình xen lẫn lời thoại Đây là chuyện kể tình cảm nên có nhiều cung bậc: yêu, ghét, vui, buồn…

Ví dụ cụ thể qua đề bài: Trong nhà em có ba phương tiện giao thông: xe đạp, xe máy và ô

tô Chúng cãi nhau, so bì hơn thua kịch liệt hãy tưởng tượng em nghe thấy cuộc cãi nhau đó

và sẽ dàn xếp như thế nào

a Phân tích đề:

* Nội dung trọng tâm:

- Cuộc cãi nhau so bì hơn thiệt của ba loại phương tiện giao thông: xe đạp, xe máy, ô tô

- Những suy nghĩ của em về cuộc cãi vã đó

* Xác định các yếu tố:

- Ngôi kể: ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba

- Trình tự kể: nên kể từ hiện tại rồi hồi tưởng lại quá khứ

- Các chi tiết chính:

+ Hoàn cảnh chứng kiến cuộc so bì, tranh cãi

Trang 5

Trường THCS Thường Phước 1 Trần Phước Lộc

+ Cuộc tranh cãi của các phương tiện giao thông

+ Sự phân xử, dàn xếp cuộc tranh cãi

* Phạm vi tư liệu: thực tế cuộc sống

b Dàn bài

* Mở bài: giới thiệu việc em nghe được cuộc cãi vã của các phương tiện giao thông (đang ngủ thì nghe tiếng tranh cãi ồn ào hoặc đi học về thì vô tình nghe thấy,…)

* Thân bài:

- Cuộc cãi vã bắt đầu như thế nào, phương tiện nào bắt đầu và bắt đầu ra sao? (Chiếc xe đạp vừa đưa em đi học về thân thở về hai loại phương tiện kia hoặc chiếc ô tô ngồi buồn than thở cho số phận của mình, xe đạp, xe máy đi làm về nghe thấy,…)

- Tại sao ba phương tiện giao thông lại cãi nhau? (mỗi loại phương tiện đều thấy vai trò của mình không được phương tiện khác đánh giá đúng bèn lên tiếng phản bác, tranh nhau hơn thua)

- Lí lẽ của từng loại phương tiện giao thông:

+ Xe đạp có ưu điểm, nhược điểm gì?

(nhẹ, gọn, di chuyển linh hoạt, thong thả, kết hợp tập luyện thể thao, đi chậm nhất, tốn sức đạp, không chở nặng được, …)

+ Xe máy có ưu điểm, nhược điểm gì?

(đi nhanh, linh động, khả năng chở nặng, thoáng đãng,… so với xe đạp thì cồng kềnh hơn, nặng hơn, sữa chữa phức tạp hơn; so với ô tô chở được ít hơn, dễ bị bụi bặm, dễ gặp tai nạn,…)

+ Ô tô có ưu điểm gì, nhược điểm gì?

(chở được nhiều người, an toàn hơn, di chuyển nhanh,… tốn nhiều diện tích, giá thành cao,

ô nhiễm môi trường,…)

- Cuộc cãi vã đó được dàn xếp như thế nào: (bác ô tô già nhất, điềm tĩnh nhất đã suy nghĩ kĩ liền nhắc nhở hòa giải với hai phương tiện kia hoặc em bước vào dàn xếp hòa giải cuộc cãi vã,…: loại phương tiện nào cũng có ưu điểm, nhược điểm riêng của mình, dù thế nào thì tất

cả đều có ích đối với cuộc sống và đều được sử dụng và đối xử đúng mực,…)

- Thái độ của các phương tiện giao thông trước cách thu xếp đó: (hài lòng, vui vẻ tiếp tục làm việc chăm chỉ, trở lại không khí hòa thuận như trước…)

- Dù là phương tiện nào thì cũng phải bảo đảm an toàn giao thông, văn minh trên đường

* Kết bài: Suy nghĩ của em sau sự việc đã được chứng kiến (tưởng tượng)

II.2 Kiểu bài thay ngôi kể để bộc lộ tâm tình một nhân vật trong truyện cổ tích, truyền thuyết mà em yêu thích

Với kiểu bài này học sinh cần chú ý: Ngôi kể phải là ngôi thứ nhất, coi như mình đã trải qua một sự việc nào đó, mình bộc lộ tâm tư, tình cảm cho người khác hiểu

Ví dụ cụ thể qua đề bài:

Hãy đóng vai bà đỡ Trần trong truyện Con hổ có nghĩa để kể lại câu chuyện ấy

a Phân tích đề

* Nội dung trọng tâm:

Trang 6

Trường THCS Thường Phước 1 Trần Phước Lộc

- Hóa thân vào nhân vật bà đỡ Trần trong truyện Con hổ có nghĩa để kể lại truyện, sử dụng ngôi thứ nhất xưng “tôi”

- Tâm trạng và những suy nghĩ của bà đỡ Trần trước sự việc kì lạ xảy ra với mình

* Xác định các yếu tố:

- Ngôi kể: ngôi kể thứ nhất trong vai bà đỡ Trần

- Trình tự kể: nên kể từ hiện tại hồi tưởng lại quá khứ

- Các chi tiết chính:

+ Tình huống bà đỡ Trần gặp con hổ

+ Bà đỡ Trần giúp hổ mẹ sinh nở

+ Hổ bố đưa bà về và trả ơn

* Phạm vi tư liệu: Truyện con hổ có nghĩa

b Dàn bài:

* Mở bài: Nhân vật bà đỡ Trần tự giới thiệu mình và hoàn cảnh câu chuyện: tôi là bà đỡ họ Trần, tôi đã gặp một tình huống đặc biệt (đỡ đẻ cho hổ)

Ví dụ: Tôi là một phụ nữ họ Trần ở huyện Đông Triều Công việc của tôi khá đặc biệt, đó là giúp đỡ cho những sản phụ trong ngày nở nhụy khai hoa Tôi làm công việc khó khăn và tốt đẹp ấy đã nhiều năm rồi Tôi đã gặp nhiều chuyện kì lạ: những bà mẹ chấp nhận hi sinh để cứu lấy con, những đứa bé tưởng không còn hi vọng gì lại chợt cất tiếng oe oe khóc… Nhưng cả đời mình tôi chưa gặp tình huống nào kì lạ đến thế, vì lần đó, tôi đỡ đẻ không phải cho người mà là cho… hổ

* Thân bài:

- Tình huống bà đỡ Trần gặp con hổ: đang đêm có tiếng gõ cửa, cửa mở ra thì có một con hổ mang đi tâm trạng bà hoang mang lo sợ

- Việc bà đỡ Trần gặp hổ mẹ đang lên cơn đau đẻ: hổ bố mang bà đỡ đến chỗ hổ mẹ và nhìn

bà với ánh mắt van ơn, bà đỡ hiểu ra sự việc suy nghĩ của bà đỡ: sự việc kì lạ, đỡ lo lắng, nhưng vẫn hoang mang

- Bà đỡ Trần giúp hổ mẹ sinh nở

- Hổ bố đưa bà về và trả ơn suy nghĩ của bà đỡ: kinh ngạc

* Kết bài: Ấn tượng của bà đỡ Trần sau sự việc kì lạ ấy

Ví dụ: Không kể với ai nhưng suốt đời tôi không quên được câu chuyện kì lạ về con hổ có nghĩa ấy Loài thú vật còn có tình nghĩa như vậy, chẳng lẽ con người lại kém chúng sao? Nghĩ vậy, suốt cuộc đời tôi cố gắng sống có tình có nghĩa, có trước có sau với những người làng xóm, láng giềng Và số bạc hổ cho, tôi cũng đã sẻ chia vớ bao người để cùng qua nạn đói…

II.3 Kiểu bài tưởng tượng đoạn kết cho một truyện cổ tích

Với kiểu bài này học sinh cần lưu ý: Đoạn kết các nhân vật không sống cuộc sống bình thường, yên ổn một chỗ mà các nhân vật cần tiếp tục cuộc hành trình khám phá thế giới của mình, thêm những chi tiết li kì càng hấp dẫn người đọc

Ngày đăng: 16/01/2021, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w