Việc phân chi tính toán CPNCTT, CPNVLTT, CPSXC đều thực hiện một cách chi tiết, thực hiện đúng chế độ quy định của Nhà nước. Với các đặc điểm đó đã tạo tiền đề cho việc triển khai tính[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trước xu thế toàn cầu hóa, các DN sản xuất tại Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ở thị trường trong nước, khu vực và trên thế giới Để thành công trong môi trường này, các nhà quản trị phải có thông tin về chi phí được cập nhật một cách liên tục, đầy đủ, chính xác Trong hoạt động quản trị, chi phí là mối quan tâm hàng đầu vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra Do đó vấn đề được đặt ra là làm sao kiểm soát được các khoản chi phí
Đối với doanh nghiệp, thông thường có hai hệ thống kế toán được sử dụng là: kế toán tài chính và tính chi phí kinh doanh Hai hệ thống này được thiết lập để đáp ứng những nhu cầu thông tin cho các đối tượng khác nhau, nhưng có quan hệ với nhau Thông tin do kế toán tài chính cung cấp đáp ứng nhu cầu thông tin của các chủ thể có liên quan ở bên ngoài quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Với các nhà quản trị doanh nghiệp, ngoài thông tin do kế toán tài chính cung cấp, họ cần những thông tin phù hợp với thực trạng kinh doanh của mình để ra quyết định kinh doanh chính xác, đó là thông tin do công tác tính CPKD cung cấp Như vậy, công tác tập hợp, phân tích, tính CPKD có vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp Tính CPKD có mục tiêu là thu thập, xử lý thông tin về các nguồn lực hiện
có trong nội bộ doanh nghiệp nhằm cung cấp cơ sở thông tin kinh tế bên trong cần thiết để nhà quản trị đưa ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong hiện tại, tương lai Do đó việc xây dựng hệ thống tính CPKD là mối quan tâm của các doanh nghiệp trong nước mà đặc biệt là các doanh nghiệp ngành than, trong đó có công ty Cổ phần than Núi Béo
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Tính CPKD tại Công ty Cổ phần than Núi Béo”
1 Cơ sở tính chi phí kinh doanh ở các doanh nghiệp khai thác than
1.1 Tổng quan về ngành Than hiện nay
Ngành Than đóng vai trò là ngành kinh tế trọng điểm, cung cấp nhiên liệu hoạt động cho rất nhiều ngành, đặc biệt là điện, phân bón, giấy, xi măng – là
Trang 2những ngành sử dụng than nhiều nhất trong sản xuất, do đó nguồn cầu than trên thị trường hiện đang rất lớn
1.2 Công tác tính chi phí ở các doanh nghiệp khai thác than hiện nay
Ở Việt Nam hiện nay, tính CP đã xuất hiện gắn liền với sự phát triển của chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các DN
Trong cơ chế kinh tế mới đòi hỏi các DN ngành than phải xuất phát từ sự phân biệt giữa hai đối tượng nhận thông tin kinh tế: Các thông tin cung cấp cho các đối tượng bên ngoài DN và các thông tin kinh tế cung cấp cho các đối tượng bên trong DN – đó là đối tượng bên trong DN Các thông tin cung cấp cho đối tượng bên trong phải thường xuyên, liên tục, đa dạng; phải thật cụ thể; đồng thời phản ánh đúng thực trạng SX-KD của DN
Để thực hiện được những yêu cầu trên, cần có hệ thống tính CPKD trong
DN (kế toán quản trị) Mặc dù vậy, trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, việc triển khai tính CPKD vẫn còn một số tồn tại sau: chưa nhìn nhận một cách đầy đủ,
cụ thể, rõ ràng và đúng đắn về công cụ tính CPKD, do đó hầu như chưa có sự phân định rõ ràng, đúng đắn giữa KTTC và tính CPKD Trong thực tế ở các DN khai thác than cũng như trong các DN ở nước ta hiện nay, đại đa số vẫn chỉ duy trì bộ phận KTTC Các DN chỉ quan tâm đến việc lập báo cáo định kỳ để nộp theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên mà chưa thấy được sự nguy hại của việc nếu cứ tiếp tục không quan tâm đến công tác tổ chức phân tích, tập hợp và tính CPKD trong cơ chế kinh tế mới Nhiều CP phát sinh vẫn chưa được đưa vào giá thành Điều này làm cho kết quả tính CPSX và giá thành không chính xác Thông tin về CPSX thiếu chính xác này vừa không đáp ứng được nhu cầu thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, và không đáp ứng được nhu cầu thông tin của
bộ máy QTDN
1.3 Cơ sở tính CPKD ở các doanh nghiệp khai thác than
Là một lĩnh vực tính toán độc lập, tính CPKD sử dụng các khái niệm, phạm trù riêng của nó Đó là: chi phí, chi phí kinh doanh, chi tiêu và chi phí tài chính
Trang 3Haberstock đã định nghĩa “ Tính chi phí kinh doanh là tính toán hướng nội,
nó mô tả - về nguyên tắc được thực hiện hàng tháng - đường vận động các nhân tố sản xuất trong quá trình kết hợp chúng và giới hạn ở việc tính toán mọi hao phí nhằm tạo ra và thực hiện các kết quả của doanh nghiệp, đó chính là chi phí kinh doanh “
Để hiểu rõ bản chất của tính CPKD chúng ta hãy dựa trên cơ sở phân biệt
thật rõ ràng hai phạm trù kế toán tài chính và tính CPKD Kế toán tài chính có
tính chất bắt buộc đối với các doanh nghiệp, do Nhà nước qui định với những chuẩn mực chung cho mọi doanh nghiệp Hệ thống này thường được thể hiện bởi
hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và báo cáo do nhà nước ban hành Đó là lý
do để coi hệ thống kế toán tài chính là hệ thống “cứng” đối với doanh nghiệp Đặc
điểm cơ bản của hệ thống kế toán tài chính là chỉ ghi chép các số liệu bằng đơn vị
tiền tệ phát sinh trong khoảng thời gian đã định Tính CPKD, khác với kế toán tài chính, là do doanh nghiệp xây dựng theo mục tiêu quản trị của mình Tính
CPKD hình thành do nhu cầu tự nhiên của doanh nghiệp chứ không có tính bắt buộc về mặt pháp luật Mặt khác, tính CPKD không hoàn toàn đồng nhất giữa các doanh nghiệp vì nó được thiết lập tuỳ thuộc đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp Thậm chí, trong một doanh nghiệp, ở những thời kỳ khác nhau cũng có thể có sự điều chỉnh trong hệ thống tính CPKD để đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu quản trị cũng như đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp ở thời
kỳ xem xét Đó là lý do để coi hệ thống tính CPKD là hệ thống “mềm” đối với doanh nghiệp
Sự cần thiết của tính CPKD: Cung cấp thông tin về CPKD đầy đủ và liên tục theo yêu cầu là điều kiện để ra các quyết định kinh doanh có cơ sở vững chắc (Điều kiện cần) Xây dựng hệ thống kế toán nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin kinh tế đa dạng là đòi hỏi cấp bách của cơ chế kinh tế mới (Điều kiện đủ)
Tính CPKD có 3 nhiệm vụ cơ bản là cung cấp thông tin kinh tế bên trong làm cơ sở cho: các quyết định quản trị, chính sách giá cả và kiểm soát, đánh giá tính hiệu quả hoạt động ở từng bộ phận và cá nhân
Trang 4Tính CPKD được thực hiện bằng phương pháp sử dụng bảng Muốn vậy sẽ phải thiết kế các bảng tính CPKD thích hợp Để làm được điều đó tính CPKD phải theo 3 bước là tính CPKD theo loại, tính CPKD theo điểm và tính CPKD theo đối tượng
Tính CPKD phải tuân thủ các nguyên tắc chủ yếu sau: phù hợp với kế toán tài chính, phù hợp với cơ cấu doanh nghiệp, bảo toàn tài sản về hiện vật, ưu tiên tính toán nhanh với độ chính xác chấp nhận được và hiệu quả
Ngày nay, tính CPKD đã phát triển thành nhiều hệ thống khác nhau Hai hệ thống phổ biến nhất là hệ thống tính CPKD đầy đủ với nguyên tắc tính mọi CPKD phát sinh vào đối tượng tính toán và hệ thống tính CPKD không đầy đủ với nguyên tắc chung là chỉ tính một bộ phận CPKD phát sinh cho đối tượng tính toán Tuy nhiên, mọi hệ thống tính CPKD đều có chung đặc điểm là thực hiện ba bước tính CPKD: theo loại, theo điểm và theo đối tượng
2 Thực trạng công tác tính CP tại công ty Cổ phần than Núi Béo
2.1 Khái quát về Công ty
Công ty Cổ phần than Núi Béo, tiền thân là Mỏ than Núi Béo, là một doanh nghiệp hạch toán độc lập, là Công ty con của tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, được thành lập ngày 07/11/1988, với tên giao dịch là VNBC Công ty có trụ sở tại 799 Lê Thánh Tông – TP.Hạ Long – Quảng Ninh Công hoạt động với chức năng là DN sản xuất than cho các ngành công nghiệp khác như điện, xi măng, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước và xuất khẩu Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất kinh doanh than theo phương pháp khai thác lộ thiên, và thực hiện một số nhiệm vụ do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam giao cho
Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, Công ty có một bộ máy quản lý chặt chẽ, bao gồm: Hội đồng quản trị công ty, Ban Giám đốc, dưới là các phòng ban chức năng và các Công trường sản xuất than, các phân xưởng vận tải và sửa chữa
Trang 5Công trường khai thác than Vỉa 11 là một đơn vị trực thuộc Công ty, có bộ máy quản lý đơn giản, gọn nhẹ Đứng đầu là quản đốc và các phó quản đốc, tiếp theo là các nhân viên nghiệp vụ, bộ phận phụ trợ, bộ phận sản xuất (sơ đồ 2.1)
Công trường có nhiệm vụ chính là khai thác than nguyên khai tại Vỉa, với công nghệ sản xuất chính gồm các khâu: Khoan nổ, Xúc bốc (than và đất đá), vận tải (than và đất đá), thải đất đá
Sơ đồ 2.1 Bộ máy quản lý Công trường Vỉa 11
Hiện nay Công ty là một đơn vị hạch toán độc lập, thực hiện chế độ kế toán theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 do Bộ Tài chính ban hành Công ty áp dụng tổ chức kế toán theo hình thức tập trung tại văn phòng phòng tài
vụ của Công ty Ở Công trường Vỉa 11, không có đơn vị kế toán riêng, chỉ có nhân viên thống kê theo dõi, ghi chép số liệu và cung cấp cho bộ phận kế toán của Công ty
Với đặc điểm sản xuất kinh doanh quy mô lớn Khối lượng công tác kế toán nhiều và phức tạp, Công ty cổ phần than Núi Béo sử dụng hầu hết các tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp áp dụng thống nhất trong cả nước Công ty áp dụng phương pháp hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên, tính thuế theo phương pháp khấu trừ Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế
Công trường Vỉa 11
Trang 6toán: Việt nam đồng Niên độ kế toán bắt đầu từ 01 -01 đến 31 -12 hàng năm và
kỳ hạch toán được tính theo tháng
2.2 Thực trạng công tác tính chi phí tại Công ty Cổ phần than Núi Béo
Căn cứ vào quy trình công nghệ và đặc điểm sản xuất kinh doanh, Công ty
đã phân loại CP theo các khoản mục CP chính sau: CP NVLTT, CPNCTT, CPSX chung
Phương pháp tập hợp chi phí: theo phương pháp kê khai thường xuyên Cách tính các loại CP áp dụng theo cách tính CPTC
2.3 Đánh giá công tác tính CP tại Công ty
Việc phân chi tính toán CPNCTT, CPNVLTT, CPSXC đều thực hiện một cách chi tiết, thực hiện đúng chế độ quy định của Nhà nước Việc chia công trường Vỉa 11 thành hai bộ phận (bộ phận sản xuất và ngoài sản xuất) một cách rõ ràng giúp cho việc tính tập hợp, phân bổ và tính CP, giá thành sản xuất khoa học và chính xác cao Cơ cấu tổ chức Vỉa 11 rõ ràng, khoa học Với các đặc điểm đó đã tạo tiền đề cho việc triển khai tính CPD theo điểm gắn với cơ cấu tổ chức của Vỉa, phân chia ĐCP đến từng cá nhân, tổ sản xuất
Tuy nhiên, việc tính CP của Công ty đều là dựa trên nguyên tắc tính CPTC
mà không phải là tính CPKD Vì vậy những nội dung tính toán thực hiện nêu trên mới chỉ ở mức độ ghi nhận sự kiện, chưa tổng hợp thành các thông tin phục vụ yêu cầu quản trị, chưa phục vụ cho công tác tính CPKD Cụ thể:
- Đối với khoản mục CPNVLTT
Mới chỉ tính được tổng số NVL đã sử dụng vào cuối tháng Quá trình ký duyệt, chuyển qua các bộ phận đến khi kiểm tra bị chậm trễ, không phát hiện ngay thiết sót để điều chỉnh, chưa đảm bảo tính kịp thời của tính CPKD Mặt khác, với đặc thù là khai thác than lớn, kỹ thuật cao nên đòi hỏi NVL đầu vào đảm bảo chất lượng, hàng tháng phải nhập với số lượng NVL lớn nên không thể dữ trữ quá nhiều Tuy nhiên giá NVL đầu vào lại không ổn định do tác động về giá cả nhiên liệu, NVL thay thế … và do sự biến động giá cả các loại NVL trên thị trường Do
đó việc công ty áp dụng tính giá NVLTT theo hình thức dựa vào giá mua (giá
Trang 7nhập) thực tế trong tháng để định giá cho NVL xuất dùng là chưa đủ để phục vụ cho công tác tính CPKD
- Đổi với khoản mục CPNCTT
Công ty tiến hành tính các khoản trích theo lương phục vụ cho công tác tính CPTC (các khoản bảo hiểm bằng 18% quỹ lương cơ bản) Trên thực tế, CPKD bảo hiểm bằng 25% quỹ lương cơ bản Như vậy, cách tính khoản mục này chưa phù hợp cho công tác tính CPKD
- Đối với khoản mục CPSX chung
+ Đối với khoản mục: CP dịch vụ mua ngoài, CP trích trước, CP bằng tiền đều được tập hợp chi tiết Tuy nhiên, bộ phận kế toán không tận dụng hết các số liệu ghi chép và không đánh giá được chính xác tổ sản xuất nào sử dụng có hiệu quả hay không
+ Đối với khoản mục CP khấu hao TSCĐ, công ty không tính đến sự biến động giá, mặc dù máy móc thiết bị có tốc độ tăng giá rất lớn Việc tính CPKD TSCĐ theo phương pháp khấu hao đường thẳng, không đảm bảo nguyên tắc bảo toàn tài sản về mặt hiện vật theo tính CPKD
Đặc biệt, Công ty chưa tính đến phần tính CP sử dụng vốn cố định mặc dù
hệ thống máy móc thiết bị của Công ty có giá trị rất lớn
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do:
- Lãnh đạo Công ty chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của tính CPKD như một công cụ đắc lực thường xuyên cung cấp thông tin kinh tế bên trong cho bộ máy quản trị Mặt khác, bộ phận kế toán áp dụng tính CP theo CPTC thuần túy do quy định, chưa được tập huấn hay tìm hiểu các kiến thức về công tác tính CPKD
- Nhà nước chưa ban hành một cách đầy đủ những chính sách hay quy định
kế toán thích hợp về tính CPKD triển khai trong các DN, để các DN lấy đó làm cơ
sở áp dụng tính CPKD trong DN của mình
- Các cơ quan chức năng chậm trễ trong việc tuyên truyền, hướng dẫn cụ thể các DN trong việc triển khai công tác tính CPKD
3 Các giải pháp triển khai tính CPKD tại Công ty Cổ phần than Núi Béo
Trang 8Với cơ sở vận dụng các vấn đề lý thuyết về tính CP tại các DN khai thác than, kết hợp với thực trạng công tác tính CP của Công ty than Núi Béo, tác giả đưa ra những giải pháp triển khai tính CPKD tại Công ty than Núi Béo
Công ty Cổ phần than Núi Béo có quy mô lớn, có hệ thống quản lý theo từng bộ phận nên nội dung tính CPKD được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế - tài chính theo từng bộ phận để phục vụ hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định của từng nhà quản trị ở từng cấp quản trị Chính vì vậy, Công ty nên hình thành thêm hệ thống tính CPKD bên cạnh
hệ thống tài chính đã có sẵn trong công ty Cụ thể, để áp dụng tính CPKD tại Công trường vỉa 11, cần thực hiện các công tác sau:
Một là, xây dựng mô hình tính CPKD:
- Đảm bảo nguyên tắc: thống nhất giữa kế toán tài chính và tính CPKD; Phù hợp với cơ cấu Công ty; bảo toàn tài sản về mặt hiện vật; ưu tiên tính toán nhanh với độ chính xác chấp nhận được;
- Phân loại CPKD theo tiêu thức thích hợp
Để tiến hành tính CPKD theo loại, phân CPKD thành: CPKD sử dụng lao động, CPKD sử dụng NVL, CPKD dịch vụ thuê ngoài và các khoản phải nộp, CPKD không trùng CPTC
Để tiến hành bước tính CPKD theo điểm và đối tượng, CPKD được phân thành: CPKD trực tiếp, CPKD chung
- Hình thành các ĐCP trong công trường vỉa 11: dựa vào cơ cấu tổ chức, quy trình sản xuất của Vỉa, phân thành các ĐCP như sau: ĐCP chung, ĐCP NVL, ĐCP sản xuất, ĐCP quản trị;
- Việc tập hợp và tính CPKD áp dụng theo hình thức và nguyên tắc tính CPKD cho các loại CPKD (CPKD sử dụng NVL, CPKD sử dụng lao động, CPKD không trùng CPTC, CPKD dịch vụ thuê ngoài và các khoản phải nộp);
- Thiết lập và tính CPKD trong bảng điểm
Hai là, thiết lập quan hệ với kế toán tài chính
Trang 9Công ty cần xác lập mối quan hệ giữa bộ phận kế toán với các bộ phận quản lý, bộ phận sản xuất kinh doanh Muốn vậy, Công ty cần làm tốt các công tác sau:
- Vẫn giữ quy trình khai thác than tại Vỉa 11, nhưng cần phân định ranh giới rõ ràng giữa các bước trong quy trình, các khâu trong từng bước và trách nhiệm của từng bộ phận ở khâu trong quy trình mà bộ phận đó đảm nhiệm;
- Xác lập hệ thống quản lý SXKD và định hướng phát triển hệ thống quản
lý SXKD để làm cơ sở cung cấp thông tin cho bộ phận kế toán, bởi bộ phận này có thể xác định kiểm soát, đánh giá giá thành SP, chủ yếu là giá thành SP của từng quá trình sản xuất
Trang 10Ba là, tổ chức bộ máy kế toán quản trị
Qua phân tích thực tế cho thấy, bộ máy tính CPKD nằm trong phòng kế toán và làm việc theo hình thức kết hợp giữa kế toán tài chính với tính CPKD theo từng phần hành kế toán và phải phân định rõ hai hình thức kế toán này
Công ty cần gửi cán bộ đi học để đào tạo về tính CPKD (kế toán quản trị), biết sử dụng các công cụ xử lý thông tin hiện đại Đồng thời tuyển thêm một số nhân sự kế toán có năng lực chuyên môn cả kế toán tài chính và tính CPKD
Bốn là, ứng dụng phần mềm quản lý để tính CPKD thích hợp với phần mềm
kế toán hiện này của Công ty
Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước và các tổ chức đào tạo,
tư vấn về kế toán
Mục tiêu chính của các doanh nghiệp hiện nay là làm thế nào để đạt lợi nhuận cao nhất Có nhiều cách thức khác nhau để doanh nghiệp áp dụng, hoặc là tìm cách đẩy mạnh doanh số bán hàng, tăng doanh thu, hoặc giảm chi phí, hoặc kết hợp cả hai cách, hoặc tốc độ tăng chi phí thấp hơn tốc độ tăng doanh thu … Dù
áp dụng cách nào, các doanh nghiệp cũng phải luôn luôn chú ý đến vấn đề chi phí, đặc biệt trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt ngày nay, việc tăng doanh thu là vô cùng khó khăn, thì việc xây dựng và sử dụng công cụ tính chi phí kinh doanh là một biện pháp vô cùng hữu hiệu để doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả hoạt động kinh tế của mình Hệ thống tính chi phí kinh doanh là phương tiện quan trọng để cung cấp thông tin kinh tế bên trong hữu ích cho các nhà quản trị để có những quyết định đúng đắn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách kịp thời Hầu như bất cứ sự thay đổi nào trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều gắn liền với sự thay đổi trong các khoản chi phí, thu nhập của doanh nghiệp Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu vấn đề tính chi phí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với công ty Cổ phần than Núi Béo