1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Giáo trình thị trường tài chính

121 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phát hành thương phiếu được tiến hành trên cơ sở tín dụng thương mại.. dụng ở NHTM, do đó lãi suất thương phiếu rẻ hơn lãi suất ưu đãi của ngân hàng, chi phí của thương phiếu cũng [r]

Trang 2

Lời giới thiệu

Để đáp ứng nhu cầu về tài liệu giảng dạy và học tập cho sinh viên ngành Tài chính – Ngân hàng trình độ cao đẳng, đặc biệt là yêu cầu đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo; Trường Cao đẳng Thương mại chủ trương tổ chức biên soạn giáo trình, các học phần đang được triển khai giảng dạy

Thực hiện chủ trương trên, Khoa Tài chính -Ngân hàng đã phân công giảng viên, Thạc sĩ Lý Vân Phi làm chủ biên, biên soạn Giáo trình Thị trường tài chính, để dùng chung cho sinh viên ngành Tài chính- Ngân hàng giúp cho việc giảng dạy của giảng viên và việc học tập của sinh viên được thuận lợi

Giáo trình Thị trường tài chính được biên soạn theo đề cương chi tiết học phần Thị trường tài chính (theo hệ thống tín chỉ) và tham khảo các tài liệu, giáo trình của một số nguồn, tác giả trong nước

Nội dung của giáo trình này gồm 4 chương:

Chương 1: Thị trường tài chính; chương 2: Thị trường tiền tệ, do Ths Lý Vân Phi, CN Hồ Thị Thùy Linh biên soạn;

Chương 3: Thị trường ngoại hối, do Ths Lý Vân Phi, CN Lưu Thị Mỹ Hạnh biên soạn;

Chương 4: Thị trường chứng khoán, do Ths Lý Vân Phi, Ths Trần Thị Hòa biên soạn

Trong quá trình biên soạn tác giả đã chú ý cập nhật khá đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan (đến tháng 4 năm 2012) và đưa vào bài đọc thêm, ví

dụ minh họa được biên soạn từ các tài liệu, tạp chí và kinh nghiệm giảng dạy, nhằm giúp sinh viên hiểu sâu hơn và liên hệ được với thực tiễn về kiến thức đã học trước đó

Để giáo trình này đến tay người đọc, tác giả ghi nhận và cảm ơn sự giúp đỡ, tham gia góp ý kiến, biên tập, sửa chữa của Hội đồng khoa học trường Cao đẳng Thương mại, cùng các giảng viên khoa Tài chính- Ngân hàng và các đồng nghiệp

Mặc dù đã rất cố gắng, tác giả nghĩ rằng Giáo trình Thị trường tài chính này

có thể còn hạn chế, sai sót trong quá trình biên soạn Tác giả chân thành mong đợi nhận được sự phê bình, góp ý của bạn đọc để lần tái bản bản sau được hoàn thiện hơn

Các ý kiến tham gia xin được gửi về địa chỉ: email: phiteacher@gmail.com Trân trọng cảm ơn!

Nhóm tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

Lời giới thiệu

Mục lục

CHƯƠNG 1 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 1

I Khái niệm, chức năng và vai trò của của thị trường tài chính 1

1 Khái niệm 1

2 Chức năng 1

3 Vai trò 3

II Phân loại thị trường tài chính 4

1 Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn 4

1.1 Thị trường tiền tệ 4

1.2 Thị trường vốn 5

2 Căn cứ vào tính chất chuyên môn hóa của thị trường 6

2.1 Thị trường các công cụ nợ 7

2.2 Thị trường công cụ vốn 7

2.3 Thị trường công cụ phái sinh 7

3 Căn cứ vào cơ cấu thị trường 7

3.1 Thị trường sơ cấp 7

3.2 Thị trường thứ cấp 8

III Các định chế tài chính trung gian 8

1 Ngân hàng thương mại 8

2 Tổ chức tín dụng phi ngân hàng 8

2.1 Công ty tài chính 8

2.2 Công ty bảo hiểm 9

2.3 Quỹ đầu tư 9

2.4 Công ty cho thuê tài chính 10

Câu hỏi ôn tập 11

Bài đọc thêm……….12

Tài liệu tham khảo 14

CHƯƠNG 2 THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ 15

I Khái niệm và vai trò của thị trường tiền tệ 15

1 Khái niệm 15

2 Vai trò 15

II Công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ 16

1 Tín phiếu kho bạc 16

2 Chứng chỉ tiền gửi 16

3 Thương phiếu ( Kỳ phiếu thương mại) 17

4 Hối phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng 17

5 Hợp đồng mua lại 17

III Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ 18

1 Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn 18

1.1 Nghiệp vụ phát hành tín phiếu kho bạc 18

1.2 Nghiệp vụ phát hành chứng chỉ tiền gửi 23

1.3 Nghiệp vụ phát hành thương phiếu 23

1.4 Nghiệp vụ phát hành các hợp đồng mua lại 24

2 Nghiệp vụ chuyển nhượng giấy tờ có giá ngắn hạn 25

Trang 4

2.1 Thị trường thứ cấp của tín phiếu kho bạc 25

2.2 Thị trường thứ cấp về chứng chỉ tiền gửi 26

2.3 Thị trường thứ cấp của thương phiếu 26

Câu hỏi ôn tập 27

Bài đọc thêm 29

Tài liệu tham khảo 31

CHƯƠNG 3 THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 32

I Khái quát về thị trường ngoại hối 32

1 Lịch sử hình thành và phát triển thị trường ngoại hối 32

1.1 Thời kỳ sơ khai 32

1.2 Thời kỳ sau đại chiến thế giới thứ nhất và cuộc đại suy thoái 33

1.3 Thời kỳ sau đại chiến thế giới lần thứ hai 33

2 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thị trường ngoại hối 34

2.1 Khái niệm 34

2.2 Đặc điểm 35

2.3 Chức năng của thị trường ngoại hối 36

3 Các thành viên tham gia 37

3.1 Nhóm khách hàng mua bán lẻ 37

3.2 Các ngân hàng thương mại 37

3.3 Những nhà môi giới ngoại hối 37

3.4 Ngân hàng trung ương 38

II Những vấn đề cơ bản trong kinh doanh ngoại hối 38

1 Các khái niệm 38

1.1 Tỷ giá 38

1.2 Đồng tiền yết giá, đồng tiền định giá 39

1.3 Ngân hàng yết giá, ngân hàng hỏi giá 40

1.4 Yết tỷ giá hai chiều 40

2 Các phương pháp yết tỷ giá 40

3 Tỷ giá mua, tỷ giá bán và chênh lệch tỷ giá 41

3.1 Tỷ giá mua và tỷ giá bán 41

3.2 Chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán 43

3.3 Lãi (lỗ) trong kinh doanh ngoại hối 44

4 Tỷ giá chéo và kinh doanh tỷ giá chéo 45

4.1 Khái niệm 45

4.2 Phương pháp xác định tỷ giá chéo 45

III Nghiệp vụ giao ngay 47

1 Khái niệm 47

2 Tổ chức thị trường 48

Câu hỏi ôn tập 50

Bài đọc thêm……….52

Tài liệu tham khảo 57

CHƯƠNG 4 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 58

I Khái quát về thị trường chứng khoán (TTCK) 58

1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán 58

1.1 Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán trên thế giới 58

1.2 Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam 59

2 Khái niệm, chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán 60

2.1 Khái niệm 60

Trang 5

2.2 Chức năng 63

2.3 Vai trò của thị trường chứng khoán 64

II Công cụ lưu thông của thị trường chứng khoán 65

1 Cổ phiếu 65

1.1 Cổ phiếu thường (commom stock) 66

1.2 Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock) 69

2 Trái phiếu 71

2.1 Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu 71

2.2 Phân loại trái phiếu 72

2.3 Lợi tức và rủi ro của trái phiếu 73

3 Chứng chỉ quỹ đầu tư 74

3.1 Khái niệm và đặc điểm 74

4 Chứng khoán phái sinh (derivatives) 76

4.1 Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contracts) 77

4.2 Hợp đồng tương lai (Future Contracts) 77

4.3 Hợp đồng quyền chọn (Option Contracts) 78

III Phát hành và niêm yết chứng khoán 79

1 Phát hành chứng khoán 79

1.1 Chủ thể và mục đích phát hành chứng khoán 79

1.2 Phương thức phát hành 79

1.3 Điều kiện phát hành 80

2 Niêm yết chứng khoán 81

2.1 Khái niệm 81

2.2 Những ưu điểm và hạn chế của việc niêm yết chứng khoán 81

2.3 Quản lý niêm yết 82

IV Giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung – Sở giao dịch chứng khoán (Sở GDCK) 83

1 Khái niệm và cơ cấu tổ chức Sở GDCK 83

1.1 Khái niệm 83

1.2 Cơ cấu tổ chức Sở GDCK 83

2 Thành viên của Sở giao dịch chứng khoán 84

2.1 Người môi giới chứng khoán (brokers) 84

2.2 Người môi giới chuyên môn (hay chuyên gia chứng khoán- Specsialist) 85

2.3 Người môi giới độc lập (independent broker) 85

2.4 Người kinh doanh chứng khoán (Dealers) 85

3 Các nguyên tắc hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán 85

3.1 Nguyên tắc công khai 85

3.2 Nguyên tắc trung gian 86

3.3 Nguyên tắc đấu giá 86

4 Các phương thức giao dịch trên thị trường chứng khoán 87

4.1 Quy trình giao dịch 87

4.2 Một số quy định chung về giao dịch chứng khoán 89

4.3 Các loại lệnh giao dịch 91

4.4 Phương thức giao dịch 98

V Giao dịch chứng khoán trên thị trường phi tập trung (Over The Counter- OTC) 101

1 Khái niệm và đặc điểm giao dịch trên thị trường OTC 101

1.1 Khái niệm 101

Trang 6

1.2 Đặc điểm giao dịch trên thị trường OTC 102

2 Quy trình giao dịch trên thị trường OTC 103

VI Trung tâm lưu ký chứng khoán và thanh toán bù trừ 104

1 Trung tâm lưu ký chứng khoán 104

1.1 Khái niệm 104

1.2 Mô hình quản lý của trung tâm lưu ký chứng khoán 104

2 Trung tâm thanh toán bù trừ 105

2.1 Khái niệm 105

2.2 Phương thức bù trừ 105

Câu hỏi ôn tập 105

Bài đọc thêm……… 109

Tài liệu tham khảo 112

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 7

CHƯƠNG 1 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH Mục tiêu

Chương này trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường tài chính như:

- Khái niệm, chức năng và vai trò của thị trường tài chính;

- Phân loại thị trường tài chính;

- Các định chế tài chính trung gian hoạt động trên thị trường tài chính

Trên thực tế thị trường tài chính được coi là nơi tập trung huy động các nguồn vốn trong xã hội để tài trợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế thông qua quá trình mua bán, chuyển nhượng các tài sản tài chính tài chính Các tài sản tài chính ở đây có thể là các công cụ vốn xác nhận sự đóng góp của các chủ thể như cổ phiếu, cũng có thể là các công cụ nợ để ghi nhận một khoản vay mượn như trái phiếu, tín phiếu và cả những công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng

kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi…

Vì vậy có thể nói: Thị trường tài chính là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,…

Thành phần tham gia giao dịch trên thị trường tài chính bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và Chính phủ là những người tham gia mua và bán các loại tài sản tài chính- hàng hóa của thị trường tài chính

2 Chức năng

Một là, khơi thông các nguồn vốn và dẫn vốn để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Đây là chức năng quan trọng nhất của thị trường tài chính Chức năng này thể hiện qua việc thị trường tài chính tập trung các nguồn vốn trong xã hội để tài trợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế Qua đó giúp cho việc dịch chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu sinh lời sang người có cơ hội đầu

tư sinh lời Chức năng này được thể hiện qua kênh tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp

Trang 8

Sơ đồ dưới đây thể hiện sự vận động của dòng vốn trên thị trường tài chính Các mũi tên cho thấy dòng vốn từ người cho vay tới người vay qua 02 kênh: Tài chính gián tiếp và tài chính trực tiếp

Ngoài ra đối với người đầu tư nhờ việc trung gian tài chính đứng giữa làm cầu nối và chịu trách nhiệm với khoản vay của họ, nguồn vốn của họ sẽ an toàn hơn rất nhiều Với một lượng vốn ít họ cũng có thể gửi tiền vào các trung gian tài chính để nhận một khoản lãi

Đối với người sử dụng vốn tài chính gián tiếp tạo cơ hội cho người vay có các khoản tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với các doanh nghiệp nhỏ vẫn có thể vay một lượng vốn lớn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh của mình đồng thời kích thích họ phải sử dụng vốn như thế nào để thu được lợi nhuận cao nhất

+ Kênh tài chính trực tiếp: Tài chính trực tiếp là kênh dẫn vốn mà trong đó người vay vốn trực tiếp từ người cho vay trong thị trường tài chính bằng cách bán cho

họ những chứng khoán mà không thông qua bất kì một trung gian tài chính nào Những chứng khoán này là những trái quyền, quyền được hưởng đối với thu nhập hoặc tài sản tương lai của người vay

Các thị trường Tài chính

Các trung gian tài chính

Người cho vay

Trang 9

Hai là, kích thích tiết kiệm và đầu tư

Quá trình chuyển dịch nguồn vốn trên thị trường tài chính tạo điều kiện cho các khoản tiết kiệm sinh lời Người cho vay sẽ có thể kiếm được thu nhập dưới các hình thức như tiền lãi, cổ tức, lãi trên vốn Khi người thiếu vốn cần tăng cường thêm vốn, thị trường tài chính sẽ chuyển thông tin này cho người tiết kiệm thông qua việc tăng tỷ suất sinh lời nhằm động viên các tổ chức, cá nhân tiêu dùng ít và tiết kiệm nhiều hơn

để tạo ra nguồn tài chính dư thừa đáp ứng cho nhu cầu vốn nới trên Bên cạnh đó, khi

sử dụng các nguồn lực tài chính vay mượn này, người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay hiệu quả nhất do họ cần phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo ra thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình

Như vậy, thị trường tài chính tạo ra cơ chế kích thích cho cả quá trình tiết kiệm

và đầu tư gia tăng

Ba là, hình thành giá của các tài sản tài chính

Thông qua tác động qua lại giữa những người mua và người bán, giá của các tài sản tài chính được xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định Yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp gọi vốn chính thức là mức lợi tức mà các nhà đầu tư yêu cầu; chính đặc điểm này của thị trường tài chính đã phát tín hiệu cho biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản tài chính Quá trình đó được gọi là quá trình hình thành giá

Bốn là, tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính

Thị trường tài chính không những tạo ra cơ chế huy động vốn mà còn tạo ra cơ chế giao dịch chuyển đổi sở hữu chứng khoán cho phép nhà đầu tư kiếm lời trên khoản chênh lệch giá, tức là tạo ra tính thanh khoản cho các tài sản tài chính1

Tính thanh khoản được thực hiện nhờ vai trò của thị trường thứ cấp Chính ở đây diễn ra việc mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thông qua quá trình tạo tính thanh khoản cho các tài sản tài chính, thị trường tài chính cho phép nhà đầu tư có thể rút vốn đầu tư ra khỏi thị trường khi họ bán các công

cụ tài chính trên thị trường thức cấp Đồng thời nếu muốn, người đầu tư có thể chuyển vốn sang lĩnh vực khác sang dạng đầu tư khác một cách thuận tiện và dễ dàng trong khi người kinh doanh có đủ vốn hoạt động

3 Vai trò

Thứ nhất, thị trường tài chính góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của nền

kinh tế

Quá trình phát triển của một nền kinh tế luôn cần tập trung các nguồn lực, trong

đó nguồn lực tài chính đóng vai trò rất quan trọng Thông qua thị trường tài chính, nguồn lực tài chính sẽ được tập trung cho những người kinh doanh có nhu cầu vốn và

có khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn vốn Nhờ có sự sàng lọc này, người kinh doanh có thể mở rộng sản xuất, tăng quy mô hoạt động kinh doanh Bởi vậy nên những chủ thể này ngày càng có thể tăng khả năng tập trung các nguồn lực tài chính một cách dễ dàng hơn

1 Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng chuyển hóa các tài sản tài chính thành tiền mặt ở tại mức giá gần bằng hay bằng giá trị của nó

Trang 10

Không chỉ với các chủ thể riêng biệt, mà cả với các khoản đầu tư của nhà nước

và chính phủ, thị trường tài chính cũng phát huy một vai trò hỗ trợ các công cụ vay vốn như phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ Việc vay nợ trên thị trường tài chính thay cho biện pháp phát hành thêm tiền có thể kiềm chế lạm phát và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh đó, với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập của mỗi quốc gia Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia mua bán chứng khoán Qua đó có thể huy động một bộ phận quan trọng các ngườn lực tài chính từ bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Chính vì vậy thị trường tài chính góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế Nên thị trường tài chính nếu hoạt động có hiệu quả tất yếu sẽ tận dụng được các nguồn lực trong nước và ngoài nước một cách cao nhất để phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, thị trường tài chính tạo môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kinh

tế của các chủ thể kinh tế

Giá cả trên thị trường tài chính được hình thành trên quy luật cung cầu, nó dung hòa quyền lợi của các chủ thể Nếu tồn tại sự thiên lệch về lợi ích của một cá nhân hay chủ thể nào đó, thị trường tài chính sẽ điều chỉnh về mức cân bằng trong thời gian rất ngắn Do đó nếu thiếu thị trường tài chính hoặc thị trường tài chính kém phát triển, giá

cả sẽ không phản ảnh chính xác quan hệ cung cầu và lợi ích của các chủ thể tham gia trên thị trường tài chính sẽ không được đảm bảo

Thứ ba, thị trường tài chính là công cụ xác định giá thị trường của doanh nghiệp

Sở dĩ thị trường tài chính thể hiện được chức năng này là do khi định giá mua bán chứng khoán trên thị trường, các chủ thể giao dịch sẽ đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp Đây chính là thước đo xác định lại giá trị của doanh nghiệp bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình Do đó giá cổ phiếu giao dịch trên thị trường thể hiện sự đồng thuận của thị trường về giá trị của doanh nghiệp đó Hơn nữa sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường chính là công cụ đo lường sức khỏe của từng doanh nghiệp và của cả nền kinh tế

Chính nhờ vai trò này của thị trường tài chính mà nhà đầu tư có phương hướng đầu

tư rõ ràng, người quản ký doanh nghiệp có cơ sở để đưa ra những quyết sách cho doanh nghiệp trong tương lai, và cả chính phủ sẽ có cơ sở để điều tiết nền kinh tế

II Phân loại thị trường tài chính

1 Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn

1.1 Thị trường tiền tệ

- Khái niệm

Thị trường tiền tệ là thị trường phát hành và mua bán các công cụ tài chính có thời gian ngắn hạn (tối đa 1 năm) như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, hối phiếu đã được ngân hàng chấp nhận Theo nghĩa rộng thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tài chính và khách hàng của họ

Chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm các NHTM, các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính, bảo hiểm, quỹ đầu tư, các doanh nghiệp và các hộ gia đình…Tuy

Trang 11

nhiên tham gia tích cực và chủ yếu nhất trên thị trường này là các ngân hàng Các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư sinh lời bằng cách cho các tổ chức khác thiếu vốn tạm thời vay Phần lớn các ngân hàng đi vay đều để duy trì khả năng thanh toán của mình Chính vì vậy lưu hành trên thị trường tiền tệ chủ yếu là các công cụ nợ gồm: tín phiếu kho bạc, các khoản vay ngắn hạn, các thỏa thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng, thương phiếu

- Các loại thị trường tiền tệ

+ Thị trường liên ngân hàng (Interbank Market): Đây là thị trường vốn ngắn hạn giữa các NH với nhau do NHTW tổ chức để giải quyết nhu cầu vốn giữa các NHTM để bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng Nghiệp vụ mua bán được thực hiện bằng cách chuyển vốn trên tài khoản của các tổ chức tín dụng tại NHTW Thông qua thị trường này, các nguồn ngân quỹ tạm thời dư thừa của ngân hàng này sẽ hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu cân đối ngân quỹ trong ngày do yêu cầu của tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW Chính vì vậy mà giá cả trên thị trường này chính là “lãi suất”

+ Thị trường vốn ngắn hạn (Shorten Loans Market): Đây là thị trường tín dụng- nơi luân chuyển các nguồn vốn từ nơi dư thùa đến nơi thiếu vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Hình thức tài chính chủ yếu của thị trường này là tài chính gián tiếp thông qua các tài chính trung gian

+ Thị trường ngoại hối (Foreign Exchange Market): Thị trường ngoại hối là thị trường diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ khác Thị trường ngoại hối được hình thành để đáp ứng như cầu mua bán, trao đổi ngoại tệ nhằm phục vụ cho quá trình chu chuyển, thanh toán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại

Đây còn là công cụ để ngân hàng trung ương thực hiện các chính sách tiền tệ nhắm điều tiết nền kinh tế theo các mục tiêu cầu chính phủ Ngoài ra các chủ thể tham gia trên thị trường này còn tìm kiếm các công cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái trong quá trình trao đổi ngoại tệ, đồng thời tìm kiếm cơ hội kinh doanh với sự thay đổi của giá cả trên thị trường này chính là tỷ giá hối đoái.Các chủ thể tham gia trên thị trường này là các ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu tư, các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các cá nhân có nhu cầu mua bán ngoại tệ

và nhà môi giới – chủ thể trung gian trong các giao dịch ngoại hối,

1.2 Thị trường vốn

- Khái niệm

Thị trường vốn hay còn gọi là thị trường vốn dài hạn Đây là thị trường giao dịch các công cụ tài chính có kỳ hạn trên 01 năm như trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương, cổ phiếu…

Chủ thể tham gia thị trường vốn là những người cần vốn dài hạn có thể là Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, ngân hàng và những người có khả năng cung ứng vốn như các hộ gia đình hoặc cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức tham gia đầu tư Công cụ giao dịch trên thị trường là các chứng khoán dài hạn, trong đó phổ biến nhất là cổ phiếu và trái phiếu

- Các loại thị trường vốn: Thị trường vốn bao gồm ba thị trường bộ phận:

+ Thị trường thế chấp (Mortgage market): Hoạt động trên thị trường này là các NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Đặc điểm cơ bản của thị trường này là

Trang 12

cung cấp tín dụng trung và dài hạn cho các doanh nghiệp nhưng đòi hỏi phải có tài sản thế chấp

+ Thị trường cho thuê tài chính (Leasing market):

Theo nghị định số 16/2001/NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động của công

ty cho thuê tài chính, cho thuê tài chính được định nghĩa như sau: “Cho thuê tài chính

là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê.” 2

Theo khái niệm trên thì cho thuê tài chính được xem là một trong những loại hình tài trợ vốn dài hạn cho doanh nghiệp để đầu tư tài sản dài hạn Đây là một trong những loại hình được áp dụng nhiều trên thế giới

Hoạt động cho thuê tài chính có những điểm đặc trưng khác biệt so với cho thuê hoạt động thông thường như sau:

* Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê khi hết thời hạn thuê

* Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận

* Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính

* Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng Với các đặc trưng như trên cho thuê tài chính thực chất là một hình thức cấp tín dụng Khi một hợp đồng thuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một khoản vốn Khoản vốn này có được do doanh nghiệp không phải bỏ tiền

ra mua tài sản mà vẫn có tài sản sử dụng lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vì đáng lẽ ra, có thể doanh nghiệp đã phải đi vay một số vốn tương đương giá trị tài sản trong hợp đồng thuê trả cho công ty cho thuê tài chính bao gồm cả vốn gốc và lãi Cho thuê tài chính được xem là loại hình đặc biệt của tín dụng trung và dài hạn, trong đó người cho thuê có vai trò là nhà tài trợ vốn trung và dài hạn dưới dạng tài sản + Thị trường chứng khoán (Securities market): Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán; qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán

Chứng khoán được xem là một công cụ vốn, chứng nhận quyền sở hữu của người chủ sở hữu với phần vốn góp của mình vào công ty cổ phần Khi chứng khoán được phát hành thì tất yếu sẽ nảy sinh việc mua bán và giao dịch các loại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp Do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi thông qua hai thị trường trên

2 Căn cứ vào tính chất chuyên môn hóa của thị trường

2 Điều 1 nghị định số 16/2001 NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

Trang 13

Thị trường tài chính phân làm ba loại: thị trường công cụ nợ, thị trường công cụ vốn và thị trường công cụ phái sinh

2.1 Thị trường các công cụ nợ

Thị trường công cụ nợ là nơi mua bán, trao đổi các công cụ nợ như trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, hối phiếu Các công cụ này đều có chung một đặc điểm là người vay vốn thanh toán cho người nắm giữ công cụ nợ một khoản tiền nhất định trong một khoảng thời gian và khi đến thời điểm đáo hạn thì thanh toán toàn

bộ phần gốc Chính vì vậy nên mối quan hệ giữa người nắm giữ các công cụ nợ và người phát hành là mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ

Các công cụ nợ có thời gian tồn tại cụ thể, lợi tức cố định và được thanh toán theo một thời hạn đã ấn định trước Các công cụ nợ sẽ được ưu tiên thanh toán lãi trước khi công ty chia cổ tức và trong trường hợp công ty phá sản thì chủ sở hữu sẽ được ưu tiên thanh toán vốn gốc trước công cụ vốn Chính vì vậy việc đầu tư vào các công cụ nợ là

ít gặp rủi ro

2.2 Thị trường công cụ vốn

Thị trường công cụ vốn là thị trường mua bán các cổ phiếu do các công ty cổ phần phát hành Người nắm giữ cổ phiếu được goị là cổ đông Họ được quyền hưởng một số quyền nhất định về tài sản và vốn của công ty

Khác với các công cụ nợ, cổ phiếu thường không có thời hạn mà tồn tại cùng với thời gian tồn tại của công ty, lợi tức của các cổ đông sẽ phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty

Việc thanh toán lợi tức của chủ sỡ hữu cổ phiếu được thực hiện cuối cùng trong quá trình phân phối cổ tức Nếu công ty phá sản người nắm giữ cổ phiếu được chia giá trị còn lại cuối cùng

2.3 Thị trường công cụ phái sinh

Thị trường công cụ phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng khoán phái sinh Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất… Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai Những công cụ trên còn có thể kết hợp với nhau, với những khoản vay hoặc những chứng khoán truyền thống để tạo nên các công cụ lai tạo

3 Căn cứ vào cơ cấu thị trường

3.1 Thị trường sơ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường tài chính giao dịch các công cụ tài chính trong lần đầu tiên, khi các tổ chức, cá nhân phát hành ra các công cụ này Chính vì vậy người ta gọi thị trường này là thị trường các công cụ phát hành

Thị trường này có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế nói chung là huy động vốn cho các tổ chức phát hành nói riêng và cho nền kinh tế nói chung một cách trực tiếp

Trang 14

3.2 Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội Thị trường này không kém phần quan trọng, tạo ra tính thanh khoản cho các công cụ tài chính, nghĩa là nó tạo ra khả năng chuyển đổi từ các công cụ tài chính sang tiền mặt Do đó, người đầu tư dễ dàng mua chúng trên thị trường sơ cấp vì họ có thể dễ dàng chuyển chúng sang tiền mặt khi cần thiết

Thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đã phát hành Việc này làm tăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc thay đổi thời hạn của vốn,

từ vốn ngắn hạn sang trung và dài hạn, đồng thời tạo điều kiện cho việc phân phối vốn một cách hiệu quả

III Các định chế tài chính trung gian

1 Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc thực hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng là đi vay và cho vay Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ tài chính quan trọng khác như thanh toán, mua bán ngoại tệ, ủy thác…

Theo điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Trong luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định hoạt động ngân hàng như sau:

“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển thị trường tài chính, cả đối với thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp NHTM được ví như chiếc cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Bên cạnh đó NHTM được xem như “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp

2 Tổ chức tín dụng phi ngân hàng

2.1 Công ty tài chính

Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới

01 năm

Trang 15

Nguồn vốn hoạt động của các công ty tài chính chủ yếu là vốn huy động, vốn đi vay Hoạt động huy động vốn chủ yếu của công ty tài chính bao gồm: Nhận tiền gửi

có kỳ hạn từ một năm trở lên của các tổ chức, cá nhân theo quy định của ngân hàng nhà nước; phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tín dụng, tài chính trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế; tiếp nhận vốn ủy thác của chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước…

Từ các nguồn vốn huy động được công ty tài chính tài trợ cho các doanh nghiệp bằng các hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn để mua máy móc thiết bị, tài trợ cho các khoản phải thu của doanh nghiệp, mua nợ của họ dưới hình thức bao thanh toán…

2.2 Công ty bảo hiểm

Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính mà hoạt động chủ yếu là nhằm bảo vệ tài chính cho những người có hợp đồng bảo hiểm về những rủi ro thuộc trách nhiệm của bảo hiểm trên cơ sở những người tham gia phải trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Công ty bảo hiểm hoạt động trên cơ sở huy động vốn bằng cách bán chứng nhận bảo hiểm cho công chúng và sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường tài chính Nguyên tắc hoạt động của công ty bảo hiểm là huy động sự đóng góp của nhiều người để bồi thường cho người cho một số người khác gặp tai nạn hay rủi

* Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư là nguồn vốn bổ sung quan trọng Đối với các công ty lớn hoạt động lâu năm, có vị thế trên thị trường thì nguồn thu này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của công ty bảo hiểm

+ Công ty bảo hiểm phi nhân thọ: là các công ty bảo hiểm về tài sản như xe cộ, nhà cửa và các phương tiện khác hoặc bảo hiểm rủi ro thường xuyên hơn đã dẫn đến lượng tiền bảo hiểm phải chi là rất cao Do đó các công ty bảo hiểm rất ít dùng vốn đầu tư các tài sản lâu dài Thông thương họ chỉ đầu tư vào các tài sản dễ thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty với yêu cầu là thu nhập ổn định và

dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường

2.3 Quỹ đầu tƣ

Quỹ đầu tư là một mô hình định chế tài chính trung gian tập trung những nguồn vốn nhỏ bé, lẻ tẻ của nhiều người lại để đầu tư trung và dài hạn, đặc biệt là các dự án có nhu cầu vốn lớn trong nền kinh tế quốc dân hoặc là để đầu tư vào thị trường chứng khoán

Quỹ đầu tư đặt dưới sự quản trị chuyên nghiệp của các công ty quản lý quỹ Quỹ này đứng ra tập hợp tiền của nhiều nhà đầu tư riêng lẻ thành một tập thể đầu tư lớn, có lợi thế hơn khi mua bán chứng khoán các loại theo quy mô Quỹ được hình thành bởi

Trang 16

nhà quản trị tài chính chuyên nghiệp, chịu trách nhiệm về kinh doanh vốn hiệu quả để phân phối lợi nhuận ngược lại cho những nhà đầu tư sỡ hữu quỹ Quỹ này đem lại lợi ích cho các nhà đầu tư nhất là khả năng đa dạng hóa và trình độ chuyên nghiệp những thứ mà nhà đầu tư bình thường không thể nào có được

Quỹ đầu tư là một dạng doanh nghiệp thuộc loại công ty cổ phần, nó phát hành và bán cổ phiếu để lấy vốn hoạt động

Quỹ đầu tư là một doanh nghiệp đặc biệt, nó không dùng vốn của mình để mua máy móc thiết bị, các yếu tố sản xuất khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà

nó dùng vốn để đầu tư dài hạn, thông qua góp vốn liên doanh, mua cổ phần hoặc các loại chứng khoán khác với mục đích thu lợi nhuận

Hoạt động kinh doanh của quỹ đầu tư là kinh doanh đầu tư vốn bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

+ Đầu tư trực tiếp: là việc các quỹ đầu tư dùng vốn của mình để thâm nhập trực tiếp vào các công ty, vào các dự án bằng cách góp vốn cổ phần, mua cổ phiếu phát hành lần đầu với tư cách là cổ đông sáng lập như các sáng lập viên khác

+ Đầu tư gián tiếp: là việc các quỹ đầu tư dùng vốn của mình tham gia vào thị trường chứng khoán với tư cách của một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc mua đi bán lại các chứng khoán để hưởng chênh lệch giá hay nhận cổ tức của các công ty phát hành chứng khoán

Xem bài đọc thêm một số quỹ đầu tư tại Việt Nam trang12

2.4 Công ty cho thuê tài chính

“ Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng giữa bên thuê và bên cho thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã thoải thuận Khi kết thúc thời hạn thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê” 3

Công ty cho thuê tài chính là một định chế tài chính chuyên cung cấp tín dụng trung

và dài hạn cho các DN thông qua việc cho DN thuê các máy móc, trang thiết bị, bất động sản với thời gian dài hạn và tạo điều kiện cho DN sở hữu luôn tài sản đó khi kết thúc hợp đồng cho thuê

Công ty tài chính hoạt động với ý nghĩa tài trợ vốn trung, dài hạn linh hoạt giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện đổi mới tài sản cố định bắt kịp với nhịp độ phát triển

khoa học kỹ thuật, duy trì năng lực sản xuất ở mức độ cao Nguồn vốn hoạt động chủ

yếu của công ty tài chính là phát hành các loại chứng khoán nợ, cổ phiếu hoặc vay của

các ngân hàng thương mại

- Công ty cho thuê tài chính được thực hiện các nghiệp vụ sau:

+ Cho thuê tài chính;

+ Mua và cho thuê lại các hình thức cho thuê tài chính;

3 Điều 1, Nghị định số 16/2001/ NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

Trang 17

+ Tư vấn cho khách hàng về những vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính;

+ Thực hiện các dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính;

+ Các hoạt động khác khi được Ngân hàng nhà nước chấp nhận

Câu hỏi ôn tập

1 Thế nào là thị trường tài chính? Phân biệt các loại thị trường sau đây: thị trường tiền tệ và thị trường vốn, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

2 Trình bày chức năng của thị trường tài chính Trong các chức năng của thị trường tài chính, chức năng nào đóng vai trò quan trọng nhất ? Vì sao?

3 Phân tích vai trò của thị trường tài chính đối với nền kinh tế? Liên hệ thực tiễn với Việt Nam?

4 Trình bày sự khác biệt giữa định chế ngân hàng thương mại với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng?

5 Thế nào là tài sản tài chính? Kể tên một vài tài sản tài chính mà anh chị biết

Trang 18

 Bài đọc thêm

MỘT SỐ QUỸ ĐẦU TƢ TẠI VIỆT NAM 4

 Quỹ tập trung vào Private Equity

Private Equity là một công cụ hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp , thuộc phần vốn chủ sở hữu, do một nhà đầu tư (phần lớn trong các trường hợp là một định chế tài chính ) mua tạm thời một phần vốn của doanh nghiệp (đóng vai trò như một chủ sở hữu tạm thời ) Các doanh nghiệp này thường là các doanh nghiệp chưa niêm yết , có tiềm năng lớn, năng động trong cách ngành có nhiều hứa hẹn với mục đích là kiếm lời bằng việc tham gia vào vốn của doanh nghiệp trong khoảng thời gian trung và dài hạn Ở Việt Nam hiện nay có một số quỹ đầu tư hoạt động theo dạng này như: Ngân hàng Đầu tư Private Equity, Mekong Capital, Saigon Capital…

 Quỹ tập trung vào công nghệ và đầu tƣ mạo hiểm

Đầu tư vào công nghệ và đầu tư mạo hiểm là phương thức đầu tư mà theo đó nhà đầu tư rót vốn vào doanh nghiệp mới thành lập, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán (chủ yếu là doanh nghiệp khoa học và công nghệ) Khác với đầu tư tài chính thông thường, đối tượng được đầu tư mạo hiểm phần lớn là doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ mới có quy mô vừa và nhỏ trong giai đoạn khởi nghiệp.Vì đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ mới nên độ rủi ro rất cao, nhưng thành công thì lợi nhuận rất lớn Một trong những đặc điểm của đầu tư mạo hiểm là nhà cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm không trực tiếp cung cấp vốn cho doanh nghiệp mà thông qua một tổ chức

chuyên nghiệp để thực hiện đầu tư và quản lý vốn đầu tư

IDG Venture Việt Nam, VinaCapital la hai quỹ đầu tư thực hiện hình thức đầu tư vào công nghệ và đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam

 Quỹ tập trung vào bất động sản:

là những quỹ mà nguồn vốn chủ yếu tập trung vào các dự án bất động sản Những quỹ này sẽ đầu tư vốn vào khu bán lẻ, khu nhà ở, khách sạn cao cấp, khu nghỉ mát, hoặc căn hộ cao cấp và văn phòng Hiện nay ở Việt Nam do đặc tính đang phát triển của thị trường bất động sản nên nhưng quỹ đầu tư bất động sản khá nhiều Trong đó có một số quỹ tên tuổi như: Saigon Asset Management Corporation, Dragon Capital Việt Nam, Indochina Capital, Ireka Corporation Berhad, JSM Indochina, VinaCapital…

 Quỹ tập trung vào cổ phần công cộng, các công ty cổ phần hoá

Đối tượng chính của các quỹ dạng này là tập trung vào cổ phiếu của các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa Các quỹ hiện nay đang hoạt động trong lĩnh vực này bao gồm: Saigon Asset Management Corporation, Bảo Tín Equity Fund, Quỹ Đầu tư Bảo Việt, BIDV-Việt Nam, Quỹ Dragon của Việt Nam, Tập đoàn tài chính Golden Bridge,

Quỹ Manulife Việt Nam, Mekong Capital Việt Nam, Quản lý Quỹ Vietcombank…

4

http:/translate.google.com.vn/translate?hl=vi&langpair=en%7Cvi&u

Trang 19

 Bài đọc thêm

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ NGÂN HÀNG

Trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, đặc biệt là với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán trong vài năm trở lại đây, công ty tài chính không còn là khái niệm xa lạ ở Việt Nam Tuy nhiên, trong thực tế, rất nhiều người còn nhầm lẫn giữa công ty tài chính với các công ty được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nói chung hay ranh giới giữa tổ chức ngân hàng với công ty tài chính Bài viết này sẽ so sánh một

số điểm khác biệt giữa công ty tài chính và ngân hàng thương mại nhằm giúp bạn đọc

có thêm thông tin để phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khác

- Bản chất và phạm vi hoạt động

Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm

Trong khi đó, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, cụ thể là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi,

sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán

- Mức vốn pháp định

Công ty tài chính và ngân hàng đều phải có vốn pháp định, song vốn pháp định của công ty tài chính thấp hơn ngân hàng Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngày 22/11/2006 của Chính phủ, công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị định 141/2006/NĐ- CP của Chính phủ có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng; công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định

là 500 tỷ đồng

Nhưng vốn pháp định đối với một ngân hàng áp dụng cho đến năm 2008 không thấp hơn 1.000 tỷ đồng, tùy theo loại hình ngân hàng và áp dụng cho đến năm 2010 trở đi không thấp hơn 3.000 tỷ đồng

- Loại hình tổ chức hoạt động

Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ phân chia công ty tài chính thành các loại: công ty tài chính nhà nước, công ty tài chính cổ phần, công ty tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài Cách phân chia này hiện không còn tương thích với Luật Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam Theo dự thảo sửa đổi Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, quy định công ty tài chính chỉ được thành lập theo một trong ba loại hình sau: công ty tài chính TNHH một thành viên; công ty tài chính TNHH hai thành viên trở lên và công ty tài chính cổ phần Xét ở khía cạnh nào đó thì ngân hàng hoạt động như một doanh nghiệp Tuy nhiên, xét về tính chất và mục tiêu hoạt động, ngân hàng lại chia thành ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

Trang 20

- Thời hạn hoạt động

Thời hạn hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm Trong khi đó, thời hạn hoạt động của các ngân hàng không bị pháp luật khống chế

- Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại

Xét ở khía cạnh nào đó, các công ty tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại nước ngoài và công ty tài chính nước ngoài mới được thành lập công ty tài chính liên doanh

và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn

Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty Vì thế, rủi

ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn

Một trong những hạn chế của các công ty tài chính so với các tổ chức ngân hàng là: Không được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 01 năm Tuy vậy, các công

ty tài chính hiện nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch vụ này đã giúp công ty tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại

Như vậy, có thể thấy lợi ích của công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một công ty tài chính Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn

Nguồn: www.tracnghiemthue.com

Tài liệu tham khảo

[1] PGS.TS Bùi Kim Yến, Thị trường tài chính thị trường chứng khoán, Trường

Đại học Kinh tế TP HCM, NXB Thống kê, 2008;

[2] PGS.TS Lê Văn Tư, Thị trường chứng khoán, NXB Thống Kê, 2006;

[3] Nghị định số 16/2001 NĐ-CP của chính phủ về Tổ chức và hoạt động của công

ty cho thuê tài chính, Nghị định

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ Mục tiêu

Chương này trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường tiền tệ như:

- Khái niệm, vai trò của thị trường tiền tệ;

- Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ;

- Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ

Nội dung

I Khái niệm và vai trò của thị trường tiền tệ

1 Khái niệm

Có nhiều quan điểm khác nhau về thị trường tiền tệ như sau:

- Quan điểm 1: Thị trường tiền tệ là thị trường bán buôn các công cụ nợ với thời hạn ngắn, độ rủi ro thấp và tính lỏng cao Nói cách khác, thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các công cụ nợ ngắn hạn có thể chuyển nhượng được trong một năm hay nhỏ hơn một năm

- Quan điểm 2: Thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích điều tiết vốn giữa các ngân hàng thương mại với các tổ chức tín dụng nhằm khai thông năng lực thanh toán cho các tổ chức tín dụng

- Quan điểm 3: Thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ giữa ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại qua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết khấu đã trở thành một trong những công cụ linh hoạt để ngân hàng trung ương điều tiết

vĩ mô nền kinh tế trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ

- Theo điều 9 khoản 02, Luật ngân hàng Nhà nước năm 2011: Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác

2 Vai trò

Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính và thực hiện những dịch

vụ quan trọng của hệ thống tài chính Thị trường tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với thị trường vốn dài hạn Xét về lịch sử và lý luận, thị trường tiền tệ ra đời sớm, gắn liền với hoạt động điều chuyển vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng thương mại dưới nhiều hình thức Vì vậy, thị trường tiền tệ nguyên thủy có tên gọi là thị trường liên ngân hàng Hoạt động của thị trường tiền tệ có vai trò to lớn đối với các tác nhân tham gia thị trường thể hiện như sau:

+ Ở tầm vĩ mô:

* Thị trường tiền tệ góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu bằng cách luân chuyển các khoản vốn ngắn hạn Do tính linh hoạt và thanh khoản cao của các chứng khoán nợ mà việc điều chuyển vốn ngắn hạn này vô cùng nhanh nhạy với thời hạn và lãi suất theo thoả thuận Các nghiệp vụ

Trang 22

trên thị trường tiền tệ đã tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội mà vẫn đảm bảo nguồn vốn đầu tư

* Thị trường tiền tệ chính là thực thi nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương Bằng việc mua bán các loại chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, ngân hàng trung ương sẽ thực hiện các tác động đến sự phát triển kinh tế

+ Ở tầm vi mô:

* Thị trường tiền tệ tạo ra môi trường sinh lợi cho cá nhân, doanh nghiệp có nguồn vốn nhàn rỗi Họ mua bán những chứng từ có giá ngắn hạn và sinh lợi Thị trường tiền tệ góp phần tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên thị trường

II Công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ

1 Tín phiếu kho bạc

Tín phiếu kho bạc (TPKB) là công cụ dùng để vay nợ của chính phủ do kho bạc nhà nước phát hành với kỳ hạn thanh toán là 3, 6, 12 tháng qua hình thức đấu thầu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước và thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ

TPKB là công cụ quan trọng nhất trên thị trường tiền tệ, có tính lỏng cao và được mua bán thường xuyên nhất, với khối lượng lớn nhất ở các nước Tùy thị trường mỗi nước, những TPKB chủ yếu do các NHTM nắm giữ, còn lượng nhỏ do dân cư, các doanh nghiệp và những trung gian tài chính khác nắm giữ

Tại Việt Nam, tín phiếu kho bạc bao gồm hai loại: Tín phiếu kho bạc nhà nước do

Bộ Tài chính đại diện cho chính phủ phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước và tín phiếu ngân hàng nhà nước do NHNN phát hành để thực hiện chính sách tiền tệ Tuy nhiên cũng giống như các nước khác, cả hai loại này đều phát hành thông qua NHNN Việt Nam

Trang 23

3 Thương phiếu ( Kỳ phiếu thương mại)

Thương phiếu là giấy nhận nợ ngắn hạn do các doanh nghiệp phát hành nhằm vay vốn tạm thời của các đối tác khác nhau trên thị trường

Theo điều 219, Luật thương mại Việt Nam: Thương phiếu là chứng chỉ ghi nhận sự cam kết thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định Thương phiếu ra đời trên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trong nền kinh tế Trong quá trình phát triển thương phiếu dần biến đổi tính chất từ một tờ giấy chứng nhận nợ thông thưong đã trở thành công cụ lưu thông tín dụng, có thể thay thế cho tiền mặt và tách rời khỏi quan hệ thương mại

Thương phiếu có một số đặc điểm như sau:

- Thương phiếu có tính trừu tượng bởi trên thương phiếu ghi những thông tin khái quát như số tiền nợ, thời gian trả nợ lãi suất, người phải trả

- Thương phiếu có tính chất bắt buộc: Người mắc nợ phải thanh toán cho người thụ

hưởng hay người nắm giữ nó số tiền ghi trên thương phiếu mà không được phép từ

chối hay trì hoãn

- Thương phiếu có tính lưu thông: Thương phiếu có thể chuyển nhượng được bằng cách chiết khấu hoặc ký hậu

Thương phiếu tồn tại dưới hai hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:

- Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua phải trả một số tiền xác định trong một khoản thời gian xác định và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hường,

- Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một số tiền xác định trong một khoản thời gian xác định và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng,

4 Hối phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng

Hối phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng là giấy do 1 công ty phát hành, bảo đảm rằng một ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện một khoản tiền nhất định vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người nắm giữ giấy này

Hối phiếu được chấp nhận sẽ được thanh toán trong tương lai và được NHTM đảm

bảo thanh toán bằng đóng dấu “đã chấp nhận” lên hối phiếu Muốn được ngân hàng

chấp nhận, công ty phát hành hối phiếu buộc phải gửi vào tài khoản ngân hàng một khoản tiền tương ứng với lượng tiền ghi trên chấp phiếu để đảm bảo khả năng trả tiền hối phiếu

Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên chấp phiếu ngân hàng là một công cụ

nợ có độ an toàn khá cao, đặc biệt là ngân hàng đứng ra chấp nhận bảo lãnh càng có uy tín lớn thì tờ chấp phiếu càng có độ an toàn cao Khi cần tiền mặt gấp thì người sở hữu chấp phiếu sẽ có thể đem bán chúng trên thị trường tiền tệ

5 Hợp đồng mua lại

Hợp đồng mua lại là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán chứng khoán, theo

đó người bán có thể mua lại các chứng khoán với một mức giá đã thỏa thuận tại thời

Trang 24

điểm nhất định Hợp đồng mua lại thực tế là những khoản vay ngắn hạn (thường với

kỳ hạn ít hơn 2 tuần lễ) trong đó các trái phiếu kho bạc được dùng làm tài sản đảm bảo nếu người đi vay không trả được nợ

Hợp đồng mua lại có hai loại: Hợp đồng mua lại và hợp đồng mua lại ngược.5

- Hợp đồng mua lại (Repurchase Agreement): Là hợp đồng bán chứng khoán kèm

theo cam kết sẽ mua lại với mức giá cao hơn đã xác định trước vào một thời điểm nhất định Chênh lệch giữa giá mua và bán chính là lợi nhuận của người đầu tư

Một người kinh doanh tìm người mua (các ngân hàng, công ty tài chính, công ty phi tài chính) có vốn để đầu tư qua đêm hay đầu tư trong thời gian ngắn (có thể đến vài tháng) Người kinh doanh sẽ bán chứng khoán (thường là TPKB) với giá nhất định kèm theo thỏa thuận sẽ mua lại sau một khoảng thời gian với giá cao hơn Lúc bấy giờ, người kinh doanh có thể sử dụng vốn này tùy ý Người mua sẽ có được khoản lãi cho vay do chênh lệch giá mua và bán Khoản vay này được đảm bảo bằng chứng khoán

- Hợp đồng mua lại ngược (Reverse Repurchase Agreement): Là sự đổi chiều của

hợp đồng mua lại Người kinh doanh mua chứng khoán từ người đầu tư (các ngân hàng, công ty tài chính, công ty phi tài chính) kèm theo thỏa thuận sẽ bán lại chứng khoán sau một khoảng thời gian nhất định (thường là tương đối ngắn) với giá cao hơn Lúc bấy giờ, người đầu tư sẽ có vốn để sử dụng vốn tùy ý và chênh lệch giữa giá bán lại và giá mua chính là lãi của nhà kinh doanh

Ngoài việc mua bán bằng các hợp đồng mua lại hay hợp đồng mua lại ngược với các nhà kinh doanh, các ngân hàng cũng có thể giao dịch với các khách hàng nhỏ lẻ

III Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ

1 Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn

1.1 Nghiệp vụ phát hành tín phiếu kho bạc

1.1.1 Phát hành tín phiếu kho bạc bằng cách đấu thầu qua ngân hàng trung ương

Căn cứ vào nhiệm vụ huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển, Bộ Tài chính quyết định khối lượng tín phiếu kho bạc (TPKB) phát hành hằng năm Kho bạc nhà nước chủ động quyết định khối lượng và thời điểm phát hành từng đợt cho phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn và tình hình thị trường tài chính tiền tệ Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan đại lý của Bộ tài chính trong việc tổ chức đấu thầu, thanh toán tín phiếu kho bạc

- Đối tượng tham gia đấu thầu tín phiếu kho bạc:

+ Các tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng

+ Các công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, các chi nhánh quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

+ Các đơn vị thụ hưởng kinh phí ngân sách nhà nước không được sử dụng kinh phí nhà nước cấp để mua tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ

- Điều kiện tham gia đấu thầu:

5 Từ tháng 7 năm 2000, các hợp đồng mua lại và hợp đồng mua lại ngược bắt đầu được ngân hàng nhà nước Việt Nam sử dụng là một trong những công cụ của nghiệp vụ thị trường mở.

Trang 25

+ Các đối tượng tham gia thị trường đấu thầu TPKB tại NHNN phải là DN có

tư cách pháp nhân;

+ Có vốn pháp định từ 20 tỷ đồng trở lên;

+ Có tài khoản tiền đồng mở tại NHNN hoặc các TCTD được chỉ định;

+ Phải ký quỹ tại NHNN tối thiểu 5% giá trị đăng ký đấu thầu;

+ Có đơn đề nghị tham gia thị trường đấu thầu TPKB được NHNN Việt Nam chấp nhận

- Thời gian tổ chức đấu thầu: Việc đấu thầu tín phiếu kho bạc được tổ chức theo

tuần, tháng hoặc quý tùy thuộc vào nhu cầu vốn của ngân sách Nhà nước, tiến độ triển khai các công trình và tình hình thị trường tài chính, tiền tệ

- Thông báo đấu thầu: Trước ngày tổ chức đấu thầu 2 ngày làm việc, căn cứ đề

nghị phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ của Bộ Tài chính (Kho bạc Nhà nước), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gửi thông báo phát hành cho các thành viên tham gia đấu thầu và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Nội dung thông báo bao gồm: khối lượng tín phiếu, trái phiếu phát hành; ngày đấu thầu; ngày phát hành, ngày đến hạn thanh toán; hình thức đấu thầu; hình thức tín phiếu, trái phiếu;

hình thức bán tín phiếu, trái phiếu; phương thức thanh toán gốc, lãi

- Đăng ký đấu thầu và mở thầu

+ Thủ tục đăng ký đấu thầu, trình tự mở phiếu đặt thầu, kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của phiếu đặt thầu cũng như trình tự và thủ tục đấu thầu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định

+ Khối lượng đặt thầu tín phiếu kho bạc tối thiểu là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) Khối lượng trái phiếu ngoại tệ đặt thầu tối thiểu là 10.000 đơn vị tiền

tệ (mười ngàn đơn vị tiền tệ) của loại ngoại tệ phát hành

- Xác định khối lượng và lãi suất tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ trúng thầu Căn cứ xác định khối lượng và lãi suất tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ trúng thầu bao gồm:

+ Khối lượng và lãi suất đặt thầu của các tổ chức tham gia đấu thầu;

+ Khối lượng tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ thông báo phát hành và lãi suất trần (nếu có)

- Phương thức đấu thầu

Khối lượng và lãi suất tín phiếu kho bạc trúng thầu được xác định được xác định dựa trên hai phương thức đấu thầu là:

+ Đấu thầu cạnh tranh lãi suất

* Trường hợp không có lãi suất trần: Khối lượng tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ trúng thầu được xét chọn theo thứ tự từ mức lãi suất thấp nhất đến mức lãi suất đạt được khối lượng tín phiếu, trái phiếu thông báo phát hành

Trường hợp có nhiều phiếu đặt thầu cùng mức lãi suất mà tại mức lãi suất đó khối lượng tín phiếu, trái phiếu trúng thầu vượt quá khối lượng tín phiếu, trái phiếu thông báo phát hành thì khối lượng tín phiếu, trái phiếu trúng thầu (sau khi đã trừ khối lượng

Trang 26

trúng thầu với mức lãi suất thấp hơn) được phân chia cho mỗi phiếu đặt thầu tỷ lệ thuận với khối lượng tín phiếu, trái phiếu đặt thầu của từng phiếu

* Trường hợp có lãi suất trần: Khối lượng tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại

tệ trúng thầu được xét chọn theo thứ tự tăng lên của lãi suất đặt thầu trong phạm vi lãi suất trần Tại mức lãi suất đặt thầu cao nhất trong phạm vi lãi suất trần có khối lượng tín phiếu, trái phiếu đặt thầu vượt quá khối lượng tín phiếu, trái phiếu thông báo phát hành thì khối lượng tín phiếu, trái phiếu trúng thầu (sau khi đã trừ khối lượng trúng thầu với mức lãi suất thấp hơn) được phân chia cho mỗi phiếu đặt thầu tỷ lệ thuận với khối lượng tín phiếu, trái phiếu đặt thầu tại mức lãi suất đó

Trong cả 2 trường hợp trên, lãi suất trúng thầu cao nhất là lãi suất phát hành áp dụng chung cho mọi đối tượng trúng thầu

Ví dụ: Kho bạc đấu giá 1.200 tỷ đồng tín phiếu kho bạc 26 tuần không có lãi suất

trần với các chủ thể tham gia như sau

Nhà thầu Khối lƣợng đặt mua Lãi suất đặt mua

Trang 27

Tại mức lãi suất 9%/năm, tổng khối lượng đặt mua tích lũy đạt 1.650 tỷ vượt khối lượng phát hành (1.200 tỷ) Như vậy mức lãi suất trúng thầu sẽ là 9%/năm Các phiếu đặt thầu với mức lãi suất thấp hơn 9%/năm sẽ trúng thầu

Tại mức lãi suất 9%/năm số lượng TPKB cần bán ra là 1.200 -1000 = 200 tỷ có 2 ngân hàng đặt mua là NH A và NH H

Khối lượng trúng thầu của các chủ thể tham gia đấu thầu là:

Xác định khối lượng đấu thầu cạnh tranh lãi suất và không cạnh tranh lãi suất:

* Trường hợp khối lượng đặt thầu không cạnh tranh lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng 30% khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại tệ thông báo phát hành thì khối lượng đấu thầu không cạnh tranh lãi suất bằng khối lượng đặt thầu Khối lượng đấu thầu cạnh tranh lãi suất bằng khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại tệ thông báo phát hành trừ (-) khối lượng đấu thầu không cạnh tranh lãi suất

* Trường hợp khối lượng đặt thầu không cạnh tranh lãi suất lớn hơn 30% khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại tệ thông báo phát hành thì khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại tệ đấu thầu không cạnh tranh lãi suất bằng 30% và khối lượng tín phiếu, trái phiếu đấu thầu cạnh tranh lãi suất bằng 70% khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại tệ thông báo phát hành

Xác định khối lượng và lãi suất trúng thầu:

* Đối với các đối tượng tham gia đấu thầu cạnh tranh lãi suất: Khối lượng

và lãi suất trúng thầu của các thành viên đấu thầu cạnh tranh lãi suất được xác định như quy định như trên

* Đối với các đối tượng tham gia đấu thầu không cạnh tranh lãi suất: Các đối tượng tham gia đấu thầu không cạnh tranh lãi suất được mua tín phiếu, trái phiếu

Trang 28

ngoại tệ theo mức lãi suất phát hành đối với các đối tượng đấu thầu cạnh tranh lãi suất Trường hợp khối lượng đặt thầu không cạnh tranh lãi suất lớn hơn 30% khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại tệ thông báo phát hành thì khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại

tệ phát hành cho các đối tượng này được phân chia tỷ lệ thuận với khối lượng tín phiếu, trái phiếu ngoại tệ đặt thầu của từng đối tượng

Trường hợp, các đối tượng tham gia đấu thầu không mua hết khối lượng tín phiếu kho bạc của phiên đấu thầu thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được mua phần còn lại

Ví dụ: Kho bạc đấu giá 1000 tỷ đồng tín phiếu kho bạc 26 tuần với các chủ thể tham

gia như sau:

Nhà thầu Khối lƣợng đặt mua Lãi suất đặt mua

Lãi suất đặt mua

Khối lƣợng đặt mua lũy kế

Giá trị mua đƣợc

Tại mức lãi suất 9%/năm khối lượng trúng thầu còn lại là 950 - 900 = 50 tỷ Như vậy khối lượng trúng thầu của NH A sẽ là 50 tỷ

Trang 29

NH E không trúng thầu vì lãi suất đặt thấu 9,25%/năm > mức lãi suất trúng thầu 9%/năm

1.1.2 Phát hành trái phiếu kho bạc trực tiếp thông qua kho bạc nhà nước

Các đơn vị kho bạc nhà nước tỉnh, thành phố, quận huyện được trực tiếp tổ chức bán lẻ tín phiếu kho bạc cho người mua là các cá nhân, doanh nghiệp, hội đoàn thể… Hàng năm KBNN lập kế hoạch phát hành và thanh toán (gốc và lãi) trình cấp có thẩm quyền phê duyệt KBNN trưng ương có trách nhiệm tổ chức in, bảo quản, chuyển giao tín chỉ tín phiếu tới các đơn vị kho bạc nhà nước

Trước mỗi đợt phát hành, Bộ tài chính thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng các thông tin liên quan đến đợt phát hành như: Doanh số, thời hạn, lãi suất, phương thức trả lãi, các loại mệnh giá, địa điểm và phương thức thanh toán

1.1.3 Phát hành tín phiếu kho bạc thông qua đại lý

Các đơn vị kho bạc tỉnh được phép ký hợp đồng đại lý hoa hồng phát hành tín phiếu kho bạc theo hướng dẫn của kho bạc trung ương

Đại lý phát hành tín phiếu bao gồm: Các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, các tổ chức tín dụng cấp tỉnh và trung ương quản lý đáp ứng các điều kiện sau:

+ Có tư cách pháp nhân có vốn hoạt động >= 5 tỷ đồng;

+ Là đơn vị kinh doanh có hiệu quả và có công tác quản lý tài chính- tiền tệ tốt; + Có đơn đề nghị làm đại lý gửi kho bạc trung ương hoặc kho bạc tỉnh, phải nộp tiền ký quỹ tại cơ quan kho bạc nơi giao đại lý mức tiền bằng 5% tổng giá trị tín phiếu nhận bán mỗi đợt

Cuối mỗi ngày, các đại lý có trách nhiệm chuyển đủ số tiến bán tín phiếu về KBNN nơi ký hợp đồng Cuối mỗi đợt phát hành, cơ quan đại lý thực hiện thanh lý hợp đồng với kho bạc và được hưởng hoa hồng 0,25% giá trị tín phiếu đã bán

1.2 Nghiệp vụ phát hành chứng chỉ tiền gửi

Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ mang lãi suất và có thời hạn từ 5-7 ngày đến 5-7 năm Tuy nhiên, thời hạn thông thường của chứng chỉ tiền gửi là 1-5 năm

Ngân hàng có thể phát hành trực tiếp hay gián tiếp qua người kinh doanh Ngân hàng thường phát hành gián tiếp qua người kinh doanh khi có nhu cầu vốn cho các chương trình lớn Hàng ngày người kinh doanh sẽ liên lạc với ngân hàng để tìm loại chứng chỉ tiền gửi có lãi suất và thời hạn thanh toán phù hợp với nhu cầu của thị trường Nếu ngân hàng chấp nhận giá mua, ngân hàng sẽ phát hành ngang giá và trả phí cho người kinh bgdoanh

Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi dựa trên lãi suất cạnh tranh của thị trường tiền tệ và tình hình tài chính của ngân hàng phát hành Nếu ngân hàng có uy tín phát hành thì chứng chỉ tiền gửi sẽ có lãi suất thấp hơn so với chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng khác

1.3 Nghiệp vụ phát hành thương phiếu

Việc phát hành thương phiếu được tiến hành trên cơ sở tín dụng thương mại Khi cần giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn, song tiền vay từ các ngân hàng thường có lãi suất cao hơn Nhà phát hành thương phiếu phải thường xuyên có một hạn mức tín

Trang 30

dụng ở NHTM, do đó lãi suất thương phiếu rẻ hơn lãi suất ưu đãi của ngân hàng, chi phí của thương phiếu cũng thấp hơn vì không cần có số kết dư bù trừ theo yêu cầu Vì vậy, thương phiếu là một công cụ tài chính mà các công ty tài trợ lẫn nhau mà không qua NHTM

Thương phiếu cho phép các doanh nghiệp lớn giải quyết tình trạng thiếu vốn tức thời, họ có thể phát hành qua công ty môi giới, ngân hàng bảo lãnh hoặc trực tiếp phát hành Nhìn chung doanh nghiệp phát hàng thương phiếu là chủ thể vay vốn còn người mua là chủ thể cho vay trong mối quan hệ vay mượn có thời hạn ngắn

Thương phiếu được bán trên cơ sở khấu trừ lãi và khối lượng thương phiếu được phát hành bởi các nhà giao dịch sẽ được công bố theo định kỳ Thương phiếu có hạn chế là thị trường thứ cấp của nó rất hẹp, có nhà giao dịch chỉ có thể mua lại các thương phiếu được phát hành qua họ và với giá có thể cao hơn giá thị trường

- Phát hành thương phiếu: Có 2 cách phát hành thương phiếu đó là phát hành trực tiếp và phát hành gián tiếp, cụ thể:

+ Phát hành trực tiếp

Các nhà phát hành bán thẳng cho nhà đầu tư không cần thông qua môi giới và người kinh doanh Tổ chức phát hành định trước lãi suất và kỳ hạn Các tổ chức phát hành trực tiếp thường là ngân hàng, các công ty tài chính hay các công ty phi tài chính

* Lãi suất mà người phát hành trực tiếp trả thường căn cứ vào mức độ uy tín nên thương thấp hơn so với phát hành gián tiếp và họ có thể thay đổi lãi suất với các khách hàng lớn

1.4 Nghiệp vụ phát hành các hợp đồng mua lại 6

Hợp đồng mua lại là một nghiệp vụ phát sinh từ các nghiệp vụ cho vay có đảm bảo hay nghiệp vụ cho vay cầm cố giấy tờ có giá, cho vay có bảo đảm bằng chứng khoán

6 Ở Việt Nam, nghiệp vụ này bắt đầu xuất hiện từ tháng 7 năm 2000

Trang 31

Hợp đồng mua lại thực tế là những khoản vay ngắn hạn thường với kỳ hạn ít hơn 2 tuần) trong đó các TPKB được dùng làm tài sản đảm bảo nếu người đi vay không trả được nợ Chẳng hạn như công ty XYZ có số vốn nhàn rỗi muốn cho vay ngắn hạn, công ty dùng 1 triệu USD để mua TPKB từ ngân hàng với điều kiện ngân hàng sẽ mua lại số TPKB vào hôm sau hoặc một thời gian sau với giá cao hơn

Nguồn vốn hợp đồng mua lại cung cấp cho ngân hàng một phương tiện huy động vốn tích cực, nguồn vốn này không áp dụng dự trữ bắt buộc hay khống chế lãi suất Do vậy chi phí thực hiện hợp đồng mua lại thấp hơn chứng chỉ tiền gửi Mặt khác ngân hàng có thể thỏa thuận thời hạn hợp đồng mua lại theo nhu cầu của mình

Hợp đồng mua lại và mua lại ngược bản chất là giao dịch đi vay và cho vay có thời hạn và được sử dụng phổ biến trên thị trường tiền tệ Thời hạn của các hợp đồng này thường rất ngắn từ 1 đến 15 ngày Lãi suất của hợp đồng mua lại phụ thuộc vào lãi suất của ngân hàng trung ương, lợi tức của tín phiếu kho bạc và thường thấp hơn so với vay từ thị trường liên ngân hàng

Để hiểu rõ hơn về hợp đồng mua lại tại Việt Nam xem bài đọc thêm trang 29

2 Nghiệp vụ chuyển nhượng giấy tờ có giá ngắn hạn

2.1 Thị trường thứ cấp của tín phiếu kho bạc

Việc giao dịch tín phiếu kho bạc trên thị trường thứ cấp có thể diễn ra trên thị trường chứng khoán trước khi tín phiếu kho bạc đáo hạn, việc mua bán tuân thủ theo quy định đơn vị giao dịch đối với trái phiếu cuả thị trường chứng khoán

Việc yết giá trên thị trường chứng khoán đối với tín phiếu kho bạc theo 2 cách: yết giá theo giá hay yết giá theo lãi suất

- Yết giá theo giá: giá mua bán được yết theo điểm, mỗi điểm tương ứng với 1%

mệnh giá Một tín phiếu kho bạc có mệnh giá 100.000 USD (1lô chẳn) thì 1% (1 điểm)

là 1.000 USD Thông thường đơn vị yết giá là 1/22 của 1 điểm

Ví dụ: Một trái phiếu có mệnh giá 1000 USD được yết giá mua BID là 99,28 có nghĩa là người mua đồng ý mua với giá 99 điểm và giá chào bán OFFER là 99,32 có nghĩa là người bán đồng ý bán trái phiếu này với giá 99 điểm Khoản chênh lệch 4/22 của 1 điểm 10 USD, tức là nhà kinh doanh được hưởng chênh lệch giá là: 1,81 USD

Giá đặt mua (bid) Giá đặt bán (offer)

- Yết giá theo lãi suất: Các giá yết thị được thực hiện với điểm cơ sở, một điểm cơ

sở tương ứng với 1/100 của 1%

Giá đặt mua (bid) Giá đặt bán (offer)

Chênh lệch của người kinh doanh này là 4 điểm cơ sở, tương ứng với 0,04% của mệnh giá TB

Ví dụ: Nếu mua TB với mệnh giá 1.000.000 US có thời hạn 91 ngày, thì nhà kinh

doanh thu được 0,04% x 1.000.000 USD = 400USD

Trang 32

+ Giá trị giao dịch tối thiểu là 1 triệu USD

+ Giá chứng chỉ tiền gửi biến động theo lãi suất trên thị trường tiền tệ

+ Thị trường giao dịch chứng chỉ tiền gửi gồm: thị trường giao ngay và thị trường kỳ hạn

+ Ngày thanh toán của giao dịch thông thường là ngày làm việc tiếp theo so với ngày giao dịch hay ngay trong ngày giao dịch nếu thanh toán bằng tiền mặt

- Chứng chỉ tiền gửi Châu Âu: Các công ty môi giới Châu Âu thường hoạt động về các chứng chỉ tiền gửi Châu Âu kỳ hạn, các nhà kinh doanh và các công ty chiết khấu giao dịch chứng chỉ tiền gửi với nhau và tạo ra thị trường thứ cấp đối với chứng chỉ tiền gửi này Tại thị trường này giá chào bán và giá chào mua thường cách nhau 10 điểm cơ sở Phí môi giới do hai bên thanh toán và thường là 1/22

2.3 Thị trường thứ cấp của thương phiếu

Thương phiếu có tính thanh khoản cao nên hoạt động giao dịch thương phiếu là khá lớn Thị trường này là một phần quan trọng của thị trường tiền tệ và hoạt động giao dịch thương phiếu mang lại lợi nhuận cho người tham gia

Việc giao dịch thương phiếu có thể được tiến hàng bằng cách mua bán trực tiếp hay gián tiếp Đối với mua bán thông qua các nhà môi giới, các nhà kinh doanh mua thương phiếu công khai từ người phát hành và bán lại cho các công ty phi tài chính hay cho ngân hàng Cũng giống như TPKB và chứng chỉ tiền gửi cũng như các giấy tờ

có giá khác, thương phiếu được mua bán dễ dàng trên thị trường trước khi đáo hạn Thương phiếu được chuyển nhượng giữa những người liên quan để chuyển quyền

sở hữu cho người khác Thương phiếu cũng là đối tượng cầm cố tại các ngân hàng thương mại, hoặc NHTM cũng có thể sử dụng thương phiếu đã chiết khấu làm vật cầm

cố đảm bảo cho khoản vay tại NHTW

Thương phiếu được giao dịch bằng phương pháp chiết khấu Chiết khấu thương phiếu là một hình thức tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại được thực hiện dưới hình thức khách hàng sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng để nhận một khoản tiền thấp hơn mệnh giá của thương phiếu, giống như tín phiếu kho bạc và tỷ suất lợi tức quyết định bởi phương thức chiết khấu của ngân hàng Số tiền chênh lệch giữa mệnh giá thương phiếu so với số tiền khách hàng được nhận được gọi là chi phí chiết khấu

Trang 33

Câu hỏi ôn tập

Bài 1: NHTW thông báo phát hành một lô tín phiếu kho bạc với khối lượng 400 tỷ

Các thành viên đăng kí dự thầu theo bảng sau:

Nhà thầu Khối lƣợng đặt mua Lãi suất đặt mua

Bài 2: NHTW dự kiến phát hành 3500 tỷ đồng tín phiếu kho bạc theo phương thức

đấu thầu lãi suất Các thành viên đăng kí dự thầu như bảng sau:

Nhà thầu Khối lƣợng đặt mua Lãi suất đặt mua

Trang 34

Bài 3: NHTƯ dự kiến phát hành 2500 tỷ đồng tín phiếu kho bạc theo phương thức

đấu thầu lãi suất Các thành viên đăng ký dự thầu như bảng sau:

Nhà thầu

Khối lƣợng đặt mua Lãi suất đặt mua

Yêu cầu: Hãy xác định kết quả của phiên đấu thầu?

Bài 4: NHTW dự kiến phát hành 6000 tỷ đồng tín phiếu kho bạc theo phương

thức đấu thầu lãi suất Hãy xác định kết quả của phiên đấu thầu

Trang 35

Về bản chất, giao dịch repo chứng khoán là việc nhà đầu tư (người có tài sản nhưng đang thiếu tiền để kinh doanh) dùng chứng khoán của mình “tạm bán” hoặc

“bán có thời hạn” cho CTCK (người có sẵn tiền nhưng không có tài sản) với cam kết

sẽ mua lại số chứng khoán đó sau một thời gian Việc “bán có thời hạn” trong hợp đồng repo bao giờ cũng kèm theo một “lời hứa” của người bán sẽ mua lại số chứng khoán này khi hợp đồng repo đáo hạn

Nếu nhìn vào hình thức của giao dịch nói trên, người tiêu dùng dịch vụ dễ lầm hợp đồng repo với hợp đồng cho vay cầm cố chứng khoán, bởi lẽ cả hai hợp đồng này đều nhằm mục đích vay tiền và đều có sự chuyển giao tài sản tạm thời từ người bán (hay người cầm cố) sang cho người mua (hay người nhận cầm cố) Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, hợp đồng repo chứng khoán có một số điểm khác biệt quan trọng so với một hợp đồng cho vay cầm cố thông thường

- Những đặc trưng cơ bản của hợp đồng repo chứng khoán

Thứ nhất, trong hợp đồng repo, luôn có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ

người bán sang người mua Theo hợp đồng, trong thời hạn repo, người mua (CTCK và

là người cho vay) là chủ sở hữu của tài sản, người bán (nhà đầu tư và là người vay) phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán cho người mua Trong thời hạn hợp đồng, bên mua chịu rủi ro và được hưởng những lợi ích phát sinh từ tài sản Đây là điểm khác biệt so với cầm cố chứng khoán vì khi cầm cố, người vay vẫn là chủ sở hữu cổ phiếu còn CTCK chỉ là người “giữ” cổ phiếu mà thôi

Thứ hai, nếu trong hợp đồng cho vay cầm cố, CTCK được “giữ” cổ phiếu của

người vay nhưng không được phép dùng cổ phiếu này để kinh doanh, thì ở hợp đồng repo, CTCK được sử dụng cổ phiếu để kinh doanh kiếm lời trong thời hạn hợp đồng

Thứ ba, tuy quan hệ giữa các bên trong hợp đồng repo là quan hệ mua – bán,

nhưng quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này không hẳn giống với quyền, nghĩa vụ của các bên trong một hợp đồng mua bán thông thường Nếu như ở hợp đồng mua bán thông thường, sau khi chuyển quyền sở hữu tài sản cho người mua, người bán không còn được hưởng những lợi ích phát sinh từ tài sản (kể cả lợi ích phát sinh từ trước hay sau khi bán) thì trong hợp đồng repo, mặc dù đã chuyển quyền sở hữu chứng khoán sang cho người mua, nhưng người bán vẫn tiếp tục được hưởng cổ tức và một

số quyền lợi khác phát sinh (trước đó) từ số cổ phiếu mà họ đã chuyển nhượng cho

Trang 36

CTCK (như quyền tham dự đại hội đồng cổ đông, quyền bỏ phiếu v.v ) Đây chính là điểm khác biệt có tính chất đặc thù của hợp đồng repo, khiến cho loại hợp đồng này khác hẳn một hợp đồng mua bán thông thường

Trong hợp đồng repo, yếu tố quan trọng nhất mà cả hai bên đều quan tâm – mà thiếu nó, hợp đồng repo sẽ mất đi sự linh hoạt và tính cạnh tranh so với các hình thức cho vay khác – đó là giá repo Bởi, trên cơ sở giá này, cả hai bên sẽ cùng thiết lập một công thức tính giá sao cho đảm bảo được lợi ích của cả hai khi giao kết hợp đồng3

- Hạn chế của hợp đồng repo chứng khoán

Thông thường, hoạt động repo sẽ mang lại lợi ích cho các bên nếu thị trường có tính thanh khoản cao Tuy nhiên, nếu tình hình thị trường ảm đạm như hai năm qua thì hiệu quả kinh doanh qua nghiệp vụ repo của nhà đầu tư cũng giảm sút, khả năng có tiền để mua lại cổ phiếu của mình sẽ khó thực hiện được, điều này đã tác động đến hoạt động của chính CTCK Tình trạng mất thanh khoản của thị trường đã làm ảnh hưởng tới việc xử lý các hợp đồng repo

Bên cạnh đó, việc các nhà đầu tư sử dụng nguồn vốn vay được từ repo chứng khoán để rồi lại tiếp tục mua cổ phiếu để “lướt sóng” khiến giá thị trường cổ phiếu bị đẩy lên, dẫn đến việc tăng giá ảo chứ không phải giá cổ phiếu tăng do sự tăng trưởng thực sự của doanh nghiệp Dưới góc độ này, chính nghiệp vụ repo đã góp phần làm tăng ảo giá cổ phiếu6

Ngoài ra, repo là một hoạt động rất nhạy cảm và rủi ro của nó không chỉ phụ thuộc vào “sức khoẻ” của các doanh nghiệp trong nước, khả năng tài chính của nhà đầu tư hay trình độ quản lý của cơ quan có thẩm quyền, mà nó bị tác động rất lớn từ tình hình kinh tế thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua đã khiến nhiều công ty rơi vào tình trạng thua lỗ khiến giá cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp giảm mạnh, từ đó, nhiều hợp đồng repo không tất toán được, gây rủi ro không chỉ cho nhà đầu tư mà còn cho bản thân các CTCK

Tuy có những điểm hạn chế nêu trên, vẫn cần khẳng định, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hợp đồng repo là loại hợp đồng đem lại cho các bên những lợi ích nhất định Chính vì lẽ đó mà trong thời gian qua, bên cạnh hình thức repo chứng khoán, thị trường bắt đầu nổi lên hình thức repo trong lĩnh vực đầu tư bất động sản

 Hợp đồng repo bất động sản

Dưới danh nghĩa hợp đồng “hứa mua hứa bán”, nhiều công ty kinh doanh bất động sản đã liên kết với một hoặc nhiều ngân hàng thực hiện dịch vụ repo bất động sản Dịch vụ repo bất động sản thường được chào cho những khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp trước đây thường vay vốn ngân hàng để mua bất động sản và phải trả lãi vay ở mức khá cao

Với hợp đồng repo bất động sản, khách hàng sau khi bán bất động sản cho công

ty để lấy tiền trả nợ trước hạn cho ngân hàng, có thể vay lại với mức lãi suất ưu đãi hơn để rồi trở lại mua bất động sản mà mình đã bán cho công ty Về phía mình, công

ty mua bất động sản của khách hàng đồng thời sẵn sàng bán lại bất động sản này cho khách hàng theo giá đã mua cộng với khoản phí 1% giá trị tài sản và một mức lãi suất nhất định Tính tất cả các khoản chi phí và lãi phải trả cho công ty, cho ngân hàng, khách hàng vẫn được vay một khoản tiền với lãi suất thấp hơn nhiều so với lãi suất trong hợp đồng vay thông thường Trong trường hợp người repo bất động sản không giữ lời “hứa mua lại” của mình như thoả thuận, thì công ty bất động sản sẽ mua đứt bất

Trang 37

động sản này Dưới góc độ tài chính, repo bất động sản được coi như một công cụ lưu chuyển dòng vốn linh hoạt, cho phép nhà đầu tư có thêm một “kênh” khác để tiếp cận vốn bên cạnh kênh truyền thống là ngân hàng

Về lợi ích của hợp đồng repo, có lẽ không có nhiều ý kiến trái chiều Tuy nhiên,

do chưa có một khung pháp lý đủ để điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các bên trong loại hợp đồng này nên những rủi ro của nó cũng là vấn đề đáng quan ngại

Dưới khía cạnh kỹ thuật, để đảm bảo an toàn cho hợp đồng repo, nghĩa là bảo đảm rằng người bán sẽ phải giữ lời hứa trở lại mua tài sản, khi định giá để ký hợp đồng, công ty bất động sản thường định giá hứa mua khá thấp Đây chính là điểm ưu việt của hợp đồng repo – trong trường hợp người bán có đủ tiền để quay lại mua lại tài sản Tuy nhiên, chính nó cũng lại là sự rủi ro trong trường hợp người bán không có đủ điều kiện để mua lại khi hợp đồng repo đáo hạn Định giá mua thấp cũng có nghĩa là người bán được vay tiền ít Và nếu việc repo tài sản để vay tiền lại không đủ để cải thiện năng lực tài chính, không có tiền để quay lại mua tài sản, tài sản của nhà đầu tư – khi hết thời hạn repo – sẽ thuộc quyền sở hữu của công ty bất động sản Nghĩa là, trong trường hợp này, nhà đầu tư đã phải bán tài sản với giá rẻ hơn nhiều so với giá thị trường

Với những đặc điểm của hợp đồng repo chứng khoán và repo bất động sản như

đã phân tích, có thể nhận thấy đây chính là một dạng đặc thù, một “nhánh phái sinh” của hợp đồng chuộc lại tài sản mà pháp luật nhiều nước và pháp luật Việt Nam đã có quy định

Nguồn: Tổng hợp từ internet

Tài liệu tham khảo

[1] PGS.TS Lê Hoàng Nga, Nghiệp vụ thị trường tiền, NXB Tài chính, 2008;

[2] PGS.TS Lê Văn Tư, Thị trường chứng khoán, NXB Thống Kê, 2006

Trang 38

CHƯƠNG 3 THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI Mục tiêu

Chương này trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường ngoại hối như:

- Sự ra đời và phát triển, khái niệm, đặc điểm, chức năng và các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối;

- Những nội dung cơ bản trong kinh doanh ngoại hối như: các khái niệm và phương pháp yết tỷ giá và kinh doanh tỷ giá

Nội dung

I Khái quát về thị trường ngoại hối

1 Lịch sử hình thành và phát triển thị trường ngoại hối

1.1 Thời kỳ sơ khai

Trao đổi thương mại hàng hoá và dịch vụ quốc tế đã được hình thành và phát triển cách đây hàng nghìn năm Buổi ban đầu, phương thức trao đổi hàng lấy hàng là phương thức thanh toán đầu tiên và phổ biến, phương thức này đã giúp các quốc gia đạt được mục tiêu cơ bản là cho phép trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia với nhau trên thế giới

Cách đây chừng 4.000 năm đã diễn ra bước ngoặc trong phương thức thanh toán quốc tế, đó là việc xuất hiện sử dụng những đồng xu có dán tem của ngân hàng, của nhà buôn, của nhà vua Việc sử dụng tiền kim loại dần dần trở thành phổ thông trong thương mại quốc tế Những ngày đầu xuất hiện, giá trị của những đồng xu kim loại được xác định theo giá trị thực của kim loại làm nên chính đồng xu đó Tuy nhiên khi khối lượng các đồng xu trong lưu thông tăng lên theo nhu cầu của thương mại và lòng tin của dân chúng và các giá trị của các đồng xu với vai trò phương tiện trao đổi tăng lên, thì bắt đầu xuất hiện những nhà đổi tiền chuyên nghiệp đầu tiên vào thời cổ ở Trung Đông Những nhà đổi tiền chuyên nghiệp đã có thể đổi được một lượng nhất định các đồng xu này để lấy lượng tương ứng các đồng xu khác Với sự phát triển ở dạng sơ khai này đã đánh dấu sự ra đời của việc kinh doanh ngoại hối và thị trường ngoại hối

Sau khi đế quốc Rom sụp đổ và trong suốt thời gian đầu thời kỳ Trung cổ, các giao dịch kinh doanh ngoại hối bị giảm sút đáng kể, bởi vì do các điều kiện về tài chính, chính trị không ổn định và khối lượng thương mại quốc tế giảm đáng kể Vào thế kỷ

XI, việc kinh doanh ngoại hối trở nên thịnh vượng trở lại Khi các luồng thương mại

và tư bản quốc tế tăng lên, việc trao đổi ngoại hối bằng các đồng xu trở nên không hiệu quả, do đó các giao dịch bằng tiền xu ngày càng giảm

Để đáp ứng được nhu cầu thương mại quốc tế ngày càng tăng, đã tạo điều kiện cho hình thức ngân hàng quốc tế ra đời và phát triển Các ngân hàng này mở chi nhánh và phát triển các mối quan hệ với các ngân hàng đại lý ở các nước bạn hàng là đối tác Các hối phiếu ra đời và trở thành các công cụ chuyển nhượng được Khi người hưởng lợi hối phiếu chuyển nhượng hối phiếu cho bên thứ ba, thì một hình thức tiền tệ mới đã được tạo ra Sự phát triển này đã giúp cho thị trường trở nên linh hoạt hơn và tăng được khối lượng kinh doanh ngoại hối (mua đi bán lại nhiều lần) Khi các giao dịch

Trang 39

chuyển khoản giữa các ngân hàng trở nên nhanh hơn đã trở thành điều kiện thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển

1.2 Thời kỳ sau đại chiến thế giới thứ nhất và cuộc đại suy thoái

Trong khoảng thời gian đầu của thế kỷ XX, hai cuộc đại chiến thế giới đã làm gián đoạn sự phát triển của thị trường ngoại hối giữa các quốc gia thù địch, thị trường ngoại hối bị vỡ ra từng mảnh nhỏ Trong những năm đầu sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, thị trường ngoại hối trở nên vô cùng biến động và trở thành đối tượng đầu cơ với quy

mô lớn Các giao dịch thương mại quốc tế kéo theo việc mua hay bán ngoại tệ thường

có mức độ rủi ro rất cao và biện pháp tự bảo hiểm bằng hợp đồng kỳ hạn trở nên rất phổ biến Trong thực tế, việc sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm rủi ro trở nên phổ biến đến mức trong một số lĩnh vực nó đã trở thành một bộ phận cấu thành bắt buộc trong hợp đồng thương mại Tuy nhiên, nhiều ngân hàng, những nhà chính trị và những nhà hoạch định chính sách trong một số lĩnh vực đã cho rằng các hợp đồng kỳ hạn có bản chất là hoạt động đầu cơ, nhưng xuất phát từ các nhu cầu thương mại quốc

tế thì thị trường kỳ hạn vẫn phát triển

Sự đình chỉ chế độ bản vị vàng vào năm 1931 cùng với sự sụp đổ của các ngân hàng

và các vấn đề khó khăn trong thanh toán đối với một số đồng tiền đã trở thành những trở ngại đáng kể cho sự phát triển thị trường ngoại hối Tuy nhiên từ giữa những năm

1930 điều kiện hoạt động dần dần trở lại bình thường

1.3 Thời kỳ sau đại chiến thế giới lần thứ hai

Vị thế là trung tâm tài chính thế giới của nước Anh đã bị giảm sút rõ rệt trong khoảng thời gian đại chiến thế giới thứ hai Sau chiến tranh, đồng tiền Mỹ là USD đã trở thành một trong những đồng tiền chính mang tính quốc tế Đồng Bảng Anh vẫn tiếp tục đóng vai trò là đồng tiền chủ đạo Sự tham gia của Chính phủ trên thị trường ngoại hối ngày càng rõ rệt vào các năm 1930 và càng trở nên thường xuyên hơn sau Đại chiến thế giới lần thứ 2 và được duy trì cho đến ngày nay

Điểm khởi đầu của thời kỳ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai thực tế được diễn ra trước khi chiến tranh kết thúc, bằng cuộc họp của Liên hợp quốc Thoả thuận Bretton Woods vào năm 1944 đã mang lại sự ổn định trên thị trường ngoại hối Tỷ giá của các đồng tiền chính được neo cố định với USD và giá trị của USD được neo cố định với vàng với tỷ lệ 35 USD = 1 ounce USD được các ngân hàng trung ương trên thế giới chọn làm đồng tiền dự trữ quốc tế, bởi vì nước Mỹ cam kết rằng sẽ chuyển đổi USD thành vàng không hạn chế theo tỷ giá cố định 35 USD = 1 ounce

Hệ thống tỷ giá cố định bị sụp đổ năm 1971, nguyên nhân chính là do tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán giữa các quốc gia và người nước ngoài nắm giữ USD ngày càng nhiều Sau nỗ lực nhằm phục hồi hệ thống này vào năm 1973 không thành đã mở đầu cho thời kỳ chế độ thả nổi và được duy trì đến ngày nay Những đồng tiền chính trên thị trường ngoại hối được thả nổi dưới sự giám sát của các ngân hàng trung ương Các ngân hàng trung ương tham gia can thiệp trên thị trường

mở thường xuyên nhằm duy trì các hoạt động trên thị trường ngoại hối có trật tự hơn hoặc nhằm mục đích điều chỉnh hướng biến động của tỷ giá theo mong muốn của mình Các đồng tiền của các nước nhỏ hơn thường được neo cố định với một trong số đồng tiền chính chủ yếu là USD, hoặc với đồng tiền của nước bạn hàng thương mại lớn nhất Hệ thống tỷ giá thả nổi đã làm cho công tác dự báo tỷ giá giao ngay trong tương lai trở nên cực kỳ khó khăn, nhưng nó lại trở thành công cụ linh hoạt hơn nhiều

Trang 40

so với chế độ cố định trong việc xử lý các áp lực của thị trường và những cú sốc trên thị trường ngoại hối

Trong những năm 1970, 1980 và những năm đầu 1990 thị trường ngoại hối biến động không ngừng, điều này xuất phát từ những lý do sau:

- Sự gia tăng đáng kể của các thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ hội sinh lời khi tỷ giá biến động Ngoài ra, các nguồn lực về kỹ thuật và công nghệ sẵn có của các nhà kinh doanh, các nhà quản trị tài chính và các công ty tự bảo hiểm đã được cải tiến một cách cơ bản

Trong những năm đầu 1990, ngân hàng và những nhà kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp vẫn tiếp tục là những người đóng vai trò chủ đạo trên thị trường ngoại hối Các công ty thường xuyên tích cực tham gia thị trường nhằm quản lý rủi ro ngoại hối và thường sử dụng các chương trình bảo hiểm rủi ro ngoại hối có chọn lựa và trực tiếp tham gia kinh doanh ngoại hối Các quyết định kinh doanh ngoại hối của các công ty

có thể ảnh hưởng đáng kể lên thị trường ngoại hối cả ngắn hạn và dài hạn

- Các luồng di chuyển nhằm thanh atoán sự mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế giữa các quốc gia là rất lớn Vốn tư bản ngày nay được chu chuyển tương đối

tự do giữa các đồng tiền chính nhằm cân đối các trạng thái dư thừa và thiếu hụt trong cán cân thương mại và cán cân dịch vụ; hơn nữa, các quỹ hưu trí cùng với các quỹ đầu

tư khác ngày càng tăng đã tạo nên nguồn tài chính sẵn sàng di chuyển đầu tư vào những đồng tiền khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận cao nhất Hơn nữa những nhà đi vay

tư nhân cũng có xu hướng tìm kiếm các nguồn vốn bằng các đồng tiền khác nhau để chi phí đi vay giảm xuống

2 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thị trường ngoại hối

2.1 Khái niệm

- Ngoại hối (foreign exchange)

Ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc

tế Trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn để chi trả, thanh toán lẫn cho nhau

Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm:

+ Ngoại tệ: là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR) Ngoại tệ có thể là tiền xu, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền

+ Các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ như séc thương mại, chấp phiếu ngân hàng, kỳ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác

+ Vàng tiêu chuẩn quốc tế: đây là vàng được sử dụng với vai trò là tiền trong thanh toán quốc tế

+ Đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ

Trong thực tế thì chỉ có ngoại tệ và vàng theo tiêu chuẩn quốc tế là đối tượng mua bán thường xuyên trên thị trường ngoại hối Còn các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ không được giao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại hối Muốn trở thành ngoại tệ để giao dịch trên thị trường ngoại hối, thì trước hết phải bán (chiết khấu) các giấy tờ có giá để có ngoại tệ, sau đó mới tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.Ngày nay, do vai trò tiền tệ của vàng giảm đáng kể, vì vậy, khi nói đến thị trường

Ngày đăng: 16/01/2021, 18:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Tài Chính (2010), Thông tư số 09/2010/TT-BTC, Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ngày 15 tháng 10 năm 2010, Thông tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 09/2010/TT-BTC, Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ngày 15 tháng 10 năm 2010
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2010
[2] Bộ Tài Chính (2011), Thông tư số 74/2011/TT-BTC, Hướng dẫn về giao dịch chứng khoán ngày 01 tháng 6 năm 2011, Thông tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 74/2011/TT-BTC, Hướng dẫn về giao dịch chứng khoán ngày 01 tháng 6 năm 2011
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2011
[5] Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định Sửa đổi quy chế giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số 71/QĐ-SGDHN ngày 5 tháng 02 năm 2010. Quyết định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi quy chế giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số 71/QĐ-SGDHN ngày 5 tháng 02 năm 2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2010
[7] PGS.TS. Lê Văn Tư, Thị trường chứng khoán, NXB Thống Kê, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán
Nhà XB: NXB Thống Kê
[8] PGS.TS Đinh Văn Sơn, PGS. TS Nguyễn Thị Phương Liên, Thị trường chứng khoán, Trường Đại học Thương mại, NXB Thống kê, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán
Nhà XB: NXB Thống kê
[9] PGS.TS Bùi Kim Yến, Thị trường tài chính thị trường chứng khoán, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM, NXB Thống kê, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường tài chính thị trường chứng khoán
Nhà XB: NXB Thống kê
[10] PGS.TS Bùi Kim Yến, TS. Nguyễn Minh Kiều, Thị trường tài chính, chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, NXB Lao động xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường tài chính
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
[3] Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số: 62/2010/QH12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 24 tháng 11 năm 2010 Khác
[4] Quy chế hoạt động bù trừ và thanh toán chứng khoán, (Ban hành kèm theo Quyết định số 27/QĐ-VSD ngày 22 tháng 4 năm 2010 của Tổng Giám đốc Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam), 2010 Khác
[6] TS. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ kinh doanh và đầu tư chứng khoán, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, NXB Thống kê, 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ dịch chuyển dòng vốn - Giáo trình thị trường tài chính
Hình 1.1. Sơ đồ dịch chuyển dòng vốn (Trang 8)
Bảng 2.1: Doanh thu thị trƣờng ngoại hối toàn cầu bởi cặp tiền tệ8 - Giáo trình thị trường tài chính
Bảng 2.1 Doanh thu thị trƣờng ngoại hối toàn cầu bởi cặp tiền tệ8 (Trang 42)
Để biết được kết quả kinh doanh, ta lập bảng luồng tiền như sau: - Giáo trình thị trường tài chính
bi ết được kết quả kinh doanh, ta lập bảng luồng tiền như sau: (Trang 50)
Để biết được kết quả kinh doanh, ta lập bảng luồng tiền như sau: - Giáo trình thị trường tài chính
bi ết được kết quả kinh doanh, ta lập bảng luồng tiền như sau: (Trang 51)
Để biết được kết quả kinh doanh, ta lập bảng luồng tiền như sau: - Giáo trình thị trường tài chính
bi ết được kết quả kinh doanh, ta lập bảng luồng tiền như sau: (Trang 51)
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức thị trƣờng ngoại hối - Giáo trình thị trường tài chính
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức thị trƣờng ngoại hối (Trang 55)
Bảng Anh GBP - Giáo trình thị trường tài chính
ng Anh GBP (Trang 60)
Bảng 4.1. Một số chứng chỉ quỹ đầu tƣ - Giáo trình thị trường tài chính
Bảng 4.1. Một số chứng chỉ quỹ đầu tƣ (Trang 81)
Hình 4.1. Mô hình tổ chức của Sở giáo dịch chứng khoán 2. Thành viên của Sở giao dịch chứng khoán  - Giáo trình thị trường tài chính
Hình 4.1. Mô hình tổ chức của Sở giáo dịch chứng khoán 2. Thành viên của Sở giao dịch chứng khoán (Trang 90)
khoán được đưa ra mua bán trên TTCK, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của các công ty có chứng khoán đăng ký yết giá trên thị trường, số lượng và giá cả từng  loại  chứng  khoán  đã  mua,  bán  đều  được  thông  báo  công  khai  trên  thị  trường - Giáo trình thị trường tài chính
kho án được đưa ra mua bán trên TTCK, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của các công ty có chứng khoán đăng ký yết giá trên thị trường, số lượng và giá cả từng loại chứng khoán đã mua, bán đều được thông báo công khai trên thị trường (Trang 92)
Hình 4.2: Sơ đồ quy trình giao dịch chứng khoán 4.2. Một số quy định chung về giao dịch chứng khoán  - Giáo trình thị trường tài chính
Hình 4.2 Sơ đồ quy trình giao dịch chứng khoán 4.2. Một số quy định chung về giao dịch chứng khoán (Trang 95)
Giao dịch đấu lệnh được thực hiện thông qu a2 hình thức khớp lệnh: Khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục - Giáo trình thị trường tài chính
iao dịch đấu lệnh được thực hiện thông qu a2 hình thức khớp lệnh: Khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục (Trang 105)
4.4.2.2. Khớp lệnh liên tục 28 (continuous auction) - Giáo trình thị trường tài chính
4.4.2.2. Khớp lệnh liên tục 28 (continuous auction) (Trang 106)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy: - Giáo trình thị trường tài chính
h ìn vào bảng số liệu trên ta thấy: (Trang 106)
* Hình thức khớp lệnh liên tục chỉ tạo ra mức giá cho một giao dịch điển hình chứ không phải là tổng hợp các giao dịch - Giáo trình thị trường tài chính
Hình th ức khớp lệnh liên tục chỉ tạo ra mức giá cho một giao dịch điển hình chứ không phải là tổng hợp các giao dịch (Trang 107)
Bài 1: Theo tài liệu của Sở GDCK về tình hình giao dịch của cổ phiếu của công ty “X”, phiên giao dịch từ 9h00 -9h15phút như sau:  - Giáo trình thị trường tài chính
i 1: Theo tài liệu của Sở GDCK về tình hình giao dịch của cổ phiếu của công ty “X”, phiên giao dịch từ 9h00 -9h15phút như sau: (Trang 112)
Bảng 4.3. Bảng tóm tắt thời gian giao dịch chứng khoán Sở GDCK TP. Hồ Chí Minh  - Giáo trình thị trường tài chính
Bảng 4.3. Bảng tóm tắt thời gian giao dịch chứng khoán Sở GDCK TP. Hồ Chí Minh (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w