- Phân tích thực trạng tạo việc làm trên địa bàn huyện Từ Liêm, phát hiện nguyên nhân của những tồn tại trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động [r]
Trang 1i
LỜI NÓI ĐẦU
Việc làm và thất nghiệp là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới
sự phát triển của một đất nước Tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là một trong những biện pháp tốt nhất để từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển bền vững
Nằm ở cửa ngõ Tây - Tây Bắc Nam của thủ đô Hà nội, Từ Liêm là huyện ven đô với 15 xã, 1 thị trấn có diện tích 75,32 km2 Những năm gần đây, Từ Liêm ngày càng có tốc độ đô thị hoá nhanh Với tốc độ đô thị hoá nhanh như hiện nay - diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp một cách nhanh chóng, lao động nông nghiệp mất đất, mất việc làm đã làm tăng người thiếu việc làm, thất nghiệp và tệ nạn xã hội cũng gia tăng Các hoạt động dịch
vụ chưa thực sự đi vào ổn định, tiểu thủ công nghiệp chưa tìm được đầu ra chắc chắn, thu nhập của các hộ còn thấp và có nhiều biến động trong năm Nếu chúng ta không tạo được việc làm đáp ứng kịp thời nhu cầu về lao động thì không những đời sống của người dân thấp mà thiếu việc làm, thừa những chuyện phức tạp phát sinh từ đất làm phát sinh nhiều tệ nạn, dẫn đến những bất ổn trong gia đình, ngoài xã hội Vì vậy tạo việc làm cho lao động tại các vùng đô thị hóa nói chung và tạo việc làm cho lao động huyện Từ Liêm nói riêng đang là một vấn đề thời sự búc xúc
Đề tài “Tạo việc làm cho người lao động huyện Từ Liêm - Hà nội đến năm 2015” nhằm phân tích, đánh giá khái quát thực trạng việc làm, tạo
việc làm cho người lao động huyện Từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp tạo việc làm cho người lao động huyện Từ Liêm, nhằm phát huy khả năng, vai trò của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Huyện, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Trang 21 Nội dung và mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tạo việc làm cho người lao động
- Phân tích thực trạng tạo việc làm trên địa bàn huyện Từ Liêm, phát hiện nguyên nhân của những tồn tại trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong thời gian qua; đồng thời xác định tiềm năng, lợi thế của huyện trong giai đoạn hiện nay, nhằm khai thác có hiệu quả nhất đối với công tác tạo việc làm
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Từ Liêm đến năm 2015
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tạo việc làm cho người lao động
- Phạm vi nghiên cứu: Người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên do huyện
Từ Liêm quản lý
3 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thống kê phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia
4 Kết cấu luận văn:
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Việc làm và sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động Chương 2: Phân tích thực trạng tạo việc làm cho người lao động huyện
Từ Liêm
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động
huyện Từ Liêm đến 2015
Trong chương 1, tác giả trình bày các nội dung sau:
1 Việc làm và tạo việc làm cho người lao động
Trang 3iii
2 Việc làm - vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
3 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động
4 Những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động
5 Phân tích một số mô hình tạo việc làm cho người lao động
Trong đó, tác giả đặc biệt đi sâu phân tích các khái niệm về việc làm và tạo việc làm cho người lao động
* Việc làm
* Điều 13, chương II (Việc làm) Bộ luật lao động của nước ta: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm
Hai tiêu thức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ
để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm
* Theo Giáo trình Kinh tế lao động của Khoa KTLĐ và Dân số -
Trường Đại học KTQD Hà nội, khái niệm việc làm được hiểu là: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… và chi phí về sức lao động (V) Quan hệ tỷ lệ bảng diễn sự kết hợp với trình độ công nghệ sản xuất
Trang 4Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỷ
lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau
- Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm Nếu chỉ xem xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động có nghĩa là việc làm đầy đủ Trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động ta có khái niệm việc làm hợp lý
- Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp
* Tạo việc làm
Theo Giáo trình Kinh tế lao động của Khoa KTLĐ và Dân số - Trường
Đại học KTQD Hà nội, “Tạo việc làm được hiểu là quá trình tạo ra số lượng
và chất lượng Tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng Sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp Tư liệu sản xuất và Sức lao động”
Tạo việc làm cho người lao động theo nghĩa chung nhất được hiểu là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa Sức lao động và Tư liệu sản xuất nhằm tạo ra hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường Do đó để tạo việc làm cần:
- Tạo ra Tư liệu sản xuất
- Tạo ra số lượng và chất lượng Sức lao động
- Tạo điều kiện môi trường để kết hợp Sức lao động với Tư liệu sản xuất
- Thực hiện các giải pháp nhằm duy trì việc làm ổn định và có hiệu quả Trên cơ sở những vấn đề trình bày trong chương 1, chương 2 sau khi trình bày những đặc điểm của huyện Từ Liêm có ảnh hưởng đến công tác tạo
Trang 5v
việc làm cho người lao động, tác giả tiến hành phân tích thực trạng tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Từ Liêm với các nội dung sau:
1 Phân tích thực trạng tạo việc làm cho người lao động trên tổng thể toàn huyện (bảng 2.6; 2.7)
2 Phân tích thực trạng tạo việc làm theo các ngành kinh tế (bảng 2.10)
3 Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động chia theo địa bàn xã/thị trấn (bảng 2.22)
4 Ảnh hưởng của việc làm đến thu nhập, đời sống của người lao động huyện
Từ Liêm (bảng 2.24)
5 Đánh giá chung
Cụ thể:
* Phân tích thực trạng tạo việc làm cho người lao động trên tổng thể toàn huyện
- Khái quát thực trạng việc làm huyện Từ Liêm (bảng 2.6)
Bảng 2.6 Tình trạng việc làm của lực lượng lao động huyện Từ Liêm
Đơn vị tính: người,%
Năm LĐ trong độ
tuổi LĐ
Lực lượng lao động
Tổng số Có việc làm Không có
việc làm
Nguồn: Số liệu tổng hợp, UBND huyện Từ Liêm
Trang 6- Quy mô tạo việc làm qua các năm (bảng 2.7)
Bảng 2.7 Tình hình việc làm, tạo việc làm qua các năm
Đơn vị tính: người
Tiêu thức 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2006/2001
(lần)
VLM được
tạo ra
Số LĐ được
Nguồn: Số liệu tổng hợp huyện Từ Liêm
Số người có việc làm của huyện có xu hướng tăng lên hàng năm Tuy nhiên nếu xét cụ thể từng năm số người có việc làm tăng lên rất ít thậm chí không tăng, nguyên nhân chính là do lao động mất đất nông nghiệp bị mất việc làm quá lớn, số chỗ làm việc mới tạo ra chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm của người lao động mất đất
Để rõ hơn tình hình việc làm, tạo việc làm huyện Từ Liêm trong thời gian qua, ta xét thực trạng việc làm, tạo việc làm theo các tiêu chí sau
* Phân tích thực trạng tạo việc làm theo các ngành kinh tế
Bảng 2.10 cho thấy ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ tạo
ra nhiều chỗ làm việc, còn nông nghiệp tạo ra số chỗ làm việc rất thấp Tuy nhiên như đã phân tích trong luận văn, thì số chỗ làm việc trong cả 3 ngành không đáp ứng được cung lao động hiện nay ở Từ Liêm Ngoài nguyên nhân tốc độ đô thị hoá quá nhanh làm một bộ phận người lao động mất đất, trình độ
Trang 7vii
của người lao động thấp Thì các ngành vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của Huyện (ven đô, đô thị hoá nhanh, cơ sở hạ tầng phát triển mạnh, cũng như những lợi thế khác của đồng bằng sông Hồng đối với sản xuất, trồng trọt của ngành nông nghiệp), vai trò của chính quyền địa phương đối với vấn đề giải
quyết việc làm chưa phát huy hết,…
Bảng 2.10 Tình hình tạo việc làm phân theo ngành kinh tế
Năm Tổng
LĐ có
VL
Nhóm ngành
Số LĐ (người)
VL mới (chỗ)
Số LĐ (người)
VL mới (chỗ)
Số LĐ (người)
VL mới (chỗ)
Nguồn: UBND huyện Từ Liêm
Luận văn cũng đã đi sâu phân tích thực trạng tạo việc làm trong ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
- Nông nghiệp: Khả năng thu hút lao động thấp, cơ cấu trồng trọt và
chăn nuôi chưa hợp lý Trồng trọt ở một số xã vẫn độc canh, mô hình kinh tế trang trại chưa phát triển, lao động nông nghiệp trình độ thấp… Do đó ảnh hưởng đến phát triển nông nghệp của vùng, dẫn đến khả năng tạo việc làm trong nông nghiệp hạn chế
- Công nghiệp - xây dựng: Trong thời gian qua ngành công nghiệp và xây dựng đã tạo nhiều việc làm mới cho lao động Huyện, đặc biệt là các hoạt
Trang 8động phi kết cấu, các cơ sở sản xuất ngoài Nhà nước, giá trị sản xuất không ngừng tăng lên qua các năm Cho thấy vai trò của của công nghiệp cá thể, tiểu thủ công nghiệp và các nghề truyền thống trong vấn đề tạo việc làm cho người lao động Tuy nhiên hiện nay các hoạt động này vẫn thực hiện một cách manh mún, cá thể, nhỏ lẽ (chủ yếu là hộ gia đình), chính quyền địa phương chưa quan tâm đầu tư đúng mức, làm hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cũng như chưa khai thác hết khả năng tạo việc làm trong khu vực này
- Thương mại - dịch vụ: Khu vực này cũng đã đóng góp đáng kể chỗ làm việc mới cho người lao động (đặc biệt là lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất) Cùng với phát triển hạ tầng đô thị, dân di
cư đến đông, nhiều loại hình dịch vụ xuất hiện thu hút nhiều lao động tham gia, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của người lao động Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn những hạn chế như nhiều loại hình hoạt động quy mô nhỏ, trình độ quản lý thấp, chất lượng lao động thấp, các hình thức thêu mướn không chính thức nên dẫn đến không đảm bảo tốt quyền lợi cho người lao động, chính quyền huyện và các xã chưa có quy hoạch rõ phát triển dịch vụ, người dân chưa tận dụng hết các lợi thế của huyện ven đô đang trong quá trình đô thị hoá nhanh (mặt tiền nhà ở, mặt nước, thảm cỏ, … để phát triển dịch vụ)
* Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động chia theo địa bàn xã/thị trấn (bảng 2.22)
Với tổng số chỗ làm việc được tạo ra hàng năm của Huyện thì Mỹ Đình
là xã có số chỗ làm việc được tạo ra hàng năm là lớn nhất, Thượng Cát là xã
có số chỗ làm việc tạo ra là thấp nhất Các nguyên nhân có thể kể đến là tốc
độ đô thị hoá có sự khác nhau giữa các xã, sự nổ lực của chính quyền các xã trong công tác rạo việc làm,…
Trang 9ix
Bảng 2.22 Quy mô tạo việc làm các năm chia theo xã/thị trấn
STT Tên xã, thị trấn Số chỗ làm việc mới được tạo ra
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nguồn: Phòng LĐ - TB & XH, UBND huyện Từ Liêm
* Ảnh hưởng của việc làm đến thu nhập, đời sống của người lao động huyện Từ Liêm (bảng 2.24)
Thu nhập chung của người dân có xu hướng tăng lên, do cơ cấu việc làm có sự chuyển đổi Nhưng so với mặt bằng chung hiện nay thì mức thu nhập như vậy vẫn thấp Tình hình việc làm của người lao động có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người lao động Từ Liêm, từ đó ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân nơi đây
Trang 10Bảng 2.24 Thu nhập bình quân của người lao động Huyện các năm
Đơn vị tính: Triệu đồng/năm
Mức thu nhập bình quân
(người /năm)
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nguồn: Phòng LĐ - TB & XH, UBND huyện Từ Liêm
*Đánh giá chung
+ Những kết quả đạt được
- GQVL có nhiều chuyển biến tích cực, số chỗ làm việc mới tạo ra hàng năm tăng lên, số người lao động được GQVL ngày càng tăng
- Số chỗ làm việc mới được tạo ra tập trung chủ yếu trong ngành công nghiệp và dịch vụ
- Chất lượng lao động có tăng lên hàng năm
- Cơ cấu lao động có sự chuyển biến tích cực
Nguyên nhân thành công
- Chính quyền đã quan tâm đến phát triển kinh tế của Huyện theo hướng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi và nâng cao chất lượng cơ cấu kinh tế, chú trọng đến chuyển đổi cơ cấu ngành
- Đầu tư xây dựng các khu trung tâm thương mại, các chợ phù hợp với phát triển đô thị, duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống, vùng hoa, cây ăn quả
- Tác động hỗ trợ và GQVL từ nhiều hướng: phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế; thu hút đầu tư, xây dựng các chợ đầu mối, chính sách GQVL cho lao động địa phương đối với các cơ quan đến lấy đất, hỗ trợ nguồn vốn vay GQVL…
Trang 11xi
+ Những hạn chế và nguyên nhân
Những hạn chế
- Quy mô tạo việc làm chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm của lao động, công tác tạo việc làm chưa tương xứng với tiềm năng của Huyện
- Giải quyết việc làm thời gian qua mới chỉ chú trọng đến mặt số lượng
- Chất lượng lao động tuy có tăng, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
- Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng diễn ra còn chậm và chưa theo kịp tốc độ dịch chuyển của cơ cấu kinh tế
Nguyên nhân của hạn chế
- Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, một bộ phận lao động mất đất sản xuất chưa kịp tìm việc mới dẫn đễn tỷ lệ thiếu việc làm thất nghiệp gia tăng
- Chính quyền chưa huy động tối đa trợ giúp của các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn về đào tạo, tập huấn việc làm cho người lao động
- Quá trình di dân tự do vào địa bàn kiếm việc làm, sinh sống đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tạo việc làm, cũng như các vấn đề xã hội khác
- Công tác đào tạo nguồn nhân lực của huyện còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay (về quy mô, chủng loại, chất lượng…)
- Hệ thống thông tin trên thị trường lao động có phát triển nhưng chưa mạnh và chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu là cầu nối giữa người sử dụng lao động và người lao động hiện nay
- Chưa có giải pháp tổng thể, hữu hiệu GQVL cho người lao động
- Trình độ người lao động không đáp ứng được yêu cầu, thụ động, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước, vào tiền đền bù
- Người lao động có xu hướng tìm việc làm nhàn nhưng có thu nhập cao nên khó tìm được việc làm
- Một số doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến trách nhiệm hỗ trợ GQVL cho người lao động, không tổ chức đào tạo nghề tại các doanh nghiệp