Trong thời gian tới, định hướng hoạt động trên TTCK của Ngân hàng Nam Á là tăng cường tiềm lực tài chính bằng cách phát hành thêm cổ phiếu trái phiếu cũng là để đáp ứng tiê[r]
Trang 1MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống tài chính của các nước theo nền kinh tế thị trường Đối với Việt Nam, thị trường chứng khoán mới ra đời được 9 năm những đã trải qua những biến động mạnh mẽ Thực tế cho thấy, sự tham gia của các Ngân hàng thương mại tác động lớn tới sự sôi động và hiệu quả hoạt động của thị trường Ngân hàng TMCP Nam Á chính thức hoạt động từ ngày 21/10/1992, tuy không phải là một ngân hàng lớn, Ngân hàng Nam Á được biết đến là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển ổn định, bền vững, Sự tham gia của NHTMCP Nam Á trên thị trường chứng khoán là một tất yếu khi cổ phiếu NH Nam Á là một trong những hàng hoá có chất lượng và thanh khoản trên thị trường Vì vậy đẩy mạnh vai trò hoạt động của Ngân hàng Nam Á trên thị trường chứng khoán cũng là nhằm nâng cao vị thế của mình trong nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng
Do đó, phân tích hoạt động của Ngân hàng Nam Á và đưa ra các giải pháp
để tăng cường hoạt động của Ngân hàng Nam Á tham gia trên thị trường chứng khoán là vô cùng cần thiết
Từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài “Tăng cường hoạt động
trên Thị trường chứng khoán của Ngân hàng TMCP Nam Á” để nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu hoạt động của Ngân hàng TMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam trong xu thế hội nhập
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán và hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động trên thị trường chứng khoán của Ngân hàng TMCP Nam Á thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động của Ngân hàng TMCP Nam Á trên thị trường chứng khoán, đưa Nam Á thành một ngân hàng mạnh, hoạt động có hiệu quả
Trang 2CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TRÊN TTCK
1.1 Các vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, được hiểu một cách chung nhất, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi
và các công cụ phái sinh) giữa các chủ thể tham gia
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và rất sơ khai, xuất phát từ một sự cần thiết đơn lẻ của buổi ban đầu là trao đổi vật phẩm hàng hoá
Sau một thời gian hoạt động thị trường không có khả năng đáp ứng được yêu cầu của ba loại giao dịch khác nhau Vì thế, thị trường hàng hoá được tách ra thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị trường hối đoái Thị trường chính thức trở thành thị trường chứng khoán
1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các loại chứng khoán Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ hay bút toán ghi sổ,
nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng
1.1.3 Phân loại thị trường chứng khoán
TTCK thường được phân loại theo ba cách thức cơ bản là phân loại theo hàng hoá, phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Trang 3Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn suất
Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn, thị trường được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường Thị trường chứng khoán
có thể được tổ chức thành các Sở giao dịch (Stock Exchange) hoặc thị trường giao dịch phi tập trung - thị trường giao dịch qua quầy (Over - the - Counter Market)
1.1.4 Vai trò của thị trường chứng khoán
Thứ nhất, TTCK với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có
thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
Thứ hai, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn
Thứ ba, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý
doanh nghiệp
Thứ tư, việc mở cửa thị trường chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh
tranh trên thị trường quốc tế
Thứ năm, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính
mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ
Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh
trong tương lai
1.1.5 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp mà ở đó có sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm: Chính phủ; Các doanh nghiệp; Các nhà đầu tư
cá thể; các trung gian tài chính Các chủ thể này có thể tham gia với mục đích huy động vốn, đầu tư vốn, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hay quản lý Nhà nước
Trang 41.2 NHTM và hoạt động của các NHTM trên TTCK
1.2.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng Thương mại là một loại Trung gian tài chính (Financial Intermediaries) là tổ chức tài chính, một loại hình doanh nghiệp mà tài sản chính của nó là các tài sản tài chính Phần lớn lượng vốn trong nền kinh tế được chuyển bằng con đường gián tiếp, thông qua các trung gian tài chính mà các Ngân hàng Thương mại là trung tâm
1.2.2 Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên TTCK
Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên TTCK là khác nhau, phụ thuộc vào quy định của luật pháp từng nước Trên thế giới tồn tại ba mô hình cơ bản:
Thứ nhất, mô hình ngân hàng đa năng toàn phần: Trong mô hình này
không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thứ hai, mô hình ngân hàng đa năng một phần: các ngân hàng muốn
kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con, có tư cách pháp nhân độc lập, do vậy loại bỏ được nhược điểm của mô hình đa năng toàn phần, tạo
ra sự độc lập tương đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thứ ba, mô hình chuyên doanh: Mô hình này thể hiện sự phân biệt có tính
pháp lý giữa hai ngành ngân hàng và chứng khoán Hoạt động kinh doanh chứng khoán do các công ty chứng khoán thực hiện và các ngân hàng thương mại không được phép kinh doanh chứng khoán
Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên thị trường chứng khoán được chia thành hai nhóm Hoạt động trên thị trường sơ cấp bao gồm: hoạt động phát hành; hoạt động đầu tư trực tiếp; hoạt động phân phối, bảo lãnh phát hành Hoạt động trên thị trường thứ cấp bao gồm: kinh doanh chứng khoán; sản phẩm phái sinh và cho vay chứng khoán
Trang 51.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM trên TTCK
Hoạt động của các NHTM trên TTCK có một ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả và sự phát triển của thị trường Nhận thức được điều đó, hầu hết các nước trên thế giới đã gắn kết hai lĩnh vực hoạt động ngân hàng và chứng khoán nhằm xây dựng và phát triển TTCK trên nền tảng phát triển của ngân hàng Để có thể tham gia trên TTCK, các NHTM cần phải đáp ứng các điều kiện về pháp lý; vốn; trình độ công nghệ; năng lực quản trị, điều hành; trình độ nhân sự, hiệu quả kinh doanh
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTMCP NAM Á TRÊN TTCK VN
2.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại Cổ phần Nam Á
2.1.2 Tổng quan về NHTMCP Nam Á
Ngân hàng TMCP Nam Á chính thức hoạt động từ ngày 21/10/1992, là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng được ban hành Qua 17 năm hoạt động, Ngân hàng Nam Á đã không ngừng lớn mạnh, có mạng lưới gồm hơn 50 địa điểm giao dịch trên cả nước So với năm 1992, vốn điều lệ hiện nay tăng gấp 270 lần, số lượng cán bộ nhân viên tăng gấp 20 lần Những năm gần đây, Ngân hàng Nam Á được biết đến là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển ổn định, bền vững, có chất lượng tín dụng thuộc loại tốt
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh Ngân hàng TMCP Nam Á
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn vốn là thế mạnh của Ngân hàng Nam Á, với hệ thống mạng lưới hoạt động ngày càng mở rộng, lãi suất huy động được điều chỉnh hợp lý, kịp thời và chất lượng dịch vụ tốt đã góp phần tăng khả năng huy động vốn của Ngân hàng Nam Á Tổng nguồn vốn huy động của NAB tăng đều qua các năm, năm 2008 đạt 4.494 tỷ đồng tăng 0.22% so với năm 2007, trong đó:
Trang 6- Vốn huy động trên thị trường 1 (các tổ chức kinh tế và dân cư), tính
đến 31/12/2008 đạt 3,420 tỷ đồng, tăng 21,64% so với năm 2007, chiếm tỷ trọng 76,10% trên tổng vốn huy động
- Huy động trên thị trường 2 tăng đều từ năm 2004 đến 2007 Năm
2008, thị trường tiền tệ có nhiều biến động chịu ảnh hưởng lớn của khủng hoảng kinh tế, hoạt động thì trường 2 của Ngân hàng Nam Á có sự sụt giảm Tính đến 31/12/2008 huy động thị trường 2 đạt 1,074 tỷ đồng giảm 598 tỷ đồng tỷ lệ giảm
là 35,71% so với năm 2007, tuy vậy, Ngân hàng Nam Á vẫn đảm bảo thanh khoản, giữ vững an toàn trong hệ thống
2.1.2.2 Hoạt động cho vay
Dư nợ tín dụng của Ngân hàng Nam Á tăng đều qua các năm, nếu năm
2004, dư nợ tín dụng mới là 789 tỷ đồng thì năm 2008 tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng Nam Á đạt 3,730 tỷ đồng, tăng 1.051 tỷ đồng tương đương 38.94% so với năm 2007, trong đó dư nợ khách hàng doanh nghiệp đạt 1.250
tỷ đồng chiếm 33.5% tổng dư nợ toàn hàng Tuy nhiên, cho vay cá nhân vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 50% trong tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng Nam Á Việc kiểm soát và quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng được quan tâm đúng mức
2.1.2.3 Hoạt động khác
Hoạt động đầu tư:
Tính đến cuối năm 2008, tổng số tiền đầu tư góp vốn trực tiếp và các doanh nghiệp của Ngân hàng Nam Á đạt 91.35 tỷ đồng Các ngành nghề Ngân hàng Nam Á chú trọng đầu tư gồm tài chính, Ngân hàng và thương mại dịch vụ
Hoạt động kinh doanh chứng khoán
Hoạt động kinh doanh chứng khoán tại Ngân hàng Nam Á chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản nên đóng góp chưa nhiều cho lợi nhuận của Ngân hàng Nam Á Cùng với hoạt động kinh doanh chứng khoán, Ngân hàng Nam Á có mở rộng hoạt động Repo và cho vay cầm cố chứng khoán niêm yết Trong nghiệp vụ
Trang 7này Ngân hàng Nam Á luôn cẩn trọng nhằm hạn chế rủi ro Tính đến cuối năm
2008, tỷ lệ cho vay kinh doanh chứng khoán của Ngân hàng Nam Á chỉ đạt 5.2% trên vốn điều lệ, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ quy định của Ngân hàng nhà nước
Hoạt động dịch vụ
Hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế là 1 trong những mảng được trú trọng tại
NH Nam Á Năm 2008 là năm đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nam Á Doanh số thanh toán trong năm
2008 đạt 127.5 triệu USD tăng 180% so với năm 2007
Kinh doanh Ngoại tệ
Doanh số kinh doanh ngoại tệ của NH Nam Á tăng đều qua các năm Năm
2008 có bước tiến vượt bậc doanh số mua là 199 triệu USD, doanh số bán đạt
198 triệu USD, tăng 225% so với năm 2007, đem lại nguồn thu lớn cho Ngân hàng
Năm 2008 hoạt động Kiều hối của Ngân hàng Nam Á đã có sự thay đổi
rõ rệt Đây là năm đầu tiên Ngân hàng Nam Á triển khai các chương trình khuyến mãi kiều hối nhờ đó số lượng khách hàng và doanh số chi trả kiều hối của Ngân hàng Nam Á tăng đáng kể Doanh số chi trả kiều hối Western Union đạt gần 1 triệu USD tăng 250% so với năm 2007 với số lượt chi trả lên đến 1.500 lượt, tăng 240% so với năm 2007
2.1.3 Kết quả kinh doanh
Hoạt động kinh doanh năm 2008 của Ngân hàng Nam Á gánh chịu nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế - tài chính trong nước, kết quả nhiều chỉ tiêu đạt thấp Chỉ tiêu lợi nhuận đạt thấp Ngân hàng Nam Á khống chế và kiểm soát thành công nợ quá hạn và nợ xấu, tỷ lệ nơi quá hạn qua các năm luôn dưới 3% Năm 2008, tỷ lệ này đạt 2,56%
Trang 82.2 Hoạt động của Ngân hàng TMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam
2.2.1 Thực trạng hoạt động của NH TMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam
2.2.1.1 Trên thị trường chứng khoán sơ cấp
Hoạt động phát hành chứng khoán
Vốn điều lệ của Ngân hàng Nam Á tăng chủ yếu là qua việc phát hành chứng khoán, cụ thể là phát hành cổ phần mới Dự kiến trong năm 2009, sẽ phát hành cổ phiếu ra công chúng, phạm vi phát hành là phát hành cổ phần mới cho
cổ đông hiện hữu để đến 31/12/2009 vốn điều lệ đạt 2000 tỷ đồng Đến 2010, tăng vốn điều lệ lên 3000tỷ đồng theo đúng lộ trình mà NHNN quy định
Hoạt động đầu tư trực tiếp
Ngân hàng Nam Á đã đẩy mạnh hoạt động liên doanh góp vốn vào các doanh nghiệp có triển vọng kinh doanh tốt Tính đến cuối năm 2008, tổng số tiền đầu tư góp vốn trực tiếp và các doanh nghiệp của Ngân hàng Nam Á đạt 91.4 tỷ đồng Các ngành nghề Ngân hàng Nam Á chú trọng đầu tư gồm tài chính, Ngân hàng và thương mại dịch vụ Dự kiến trong năm 2009, Ngân hàng Nam Á tiếp tục lựa chọn các doanh nghiệp tốt để đầu tư, nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng
Hoạt động đại lý bảo lãnh phát hành chứng khoán
Ngân hàng Nam Á chưa được phép hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu cũng như chưa thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp Theo tinh thầnh luật mới hoạt động này của Ngân hàng Nam Á sẽ được thực hiện thông qua công ty con là Công ty chứng khoán Ngân hàng Nam
Á đã được cấp phép hoạt động
2.2.1.2 Trên thị trường chứng khoán thứ cấp
Hoạt động kinh doanh chứng khoán
Các khoản mục kinh doanh chứng khoán của Ngân hàng Nam Á tương đối tập trung và đều là những khoản đầu tư có hiệu quả với giá vốn thấp, đầu tư
Trang 9vào tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh cơ bản ổn định
và hiệu quả Hoạt động kinh doanh trái phiếu của Ngân hàng Nam Á hiện chưa hiệu quả với khoản mục đầu tư nhỏ với giá trị vào thời điểm 31/12/2008 chỉ là
33 triệu đồng
Sản phẩm phái sinh
Chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính, xuất hiện dưới hình thức hợp đồng mà giá trị của nó dựa vào giá trị của các sản phẩm tài chính khác như cổ phiếu, trái phiếu… được sử dụng với mục đích phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận Ngân hàng Nam Á mặc dù chưa được phép thực hiện các nghiệp vụ này, nhưng đã rất quan tâm tạo nền tảng để xây dựng sản phẩm trong trong thời gian tới
Cho vay chứng khoán
Nghiệp vụ tín dụng cho vay đầu tư chứng khoán của Ngân hàng Nam Á chiểm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ tín dụng toàn ngân hàng, thực hiện tốt các quy định về giới hạn cho vay kinh doanh chứng khoán của NHNN (tỷ lệ cho vay cầm cố chứng khoán dưới 3% vốn điều lệ), vì Ngân hàng Nam Á luôn ý thức được vấn đề rủi ro trong nghiệp vụ này và đã kiểm soát tốt dư nợ cho vay chứng khoán Tháng 3/2009, Ngân hàng Nam Á đã ký kết văn bản hợp tác với công ty chứng khoán Beta hỗ trợ cho vay chứng khoán và các hoạt động liên quan
2.3 Đánh giá hoạt động của NHTMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam
2.3.1 Kết quả hoạt động:
Ngân hàng Nam Á đã bước đầu tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đang từng bước hòa nhập, có khả năng phát triển và hoạt động hiệu quả trên thị trường này
Về hoạt động phát hành chứng khoán, kế hoạch tăng vốn điều lệ của Ngân
hàng Nam Á đều hoàn thành thông qua các đợt phát hành cổ phiếu Cổ phiếu
Trang 10Ngân hàng Nam Á tuy không phải là cổ phiếu của những ngân hàng đứng đầu nhưng lại là sự lựa chọn an toàn bởi tính ổn định của nó
Về hoạt động đầu tư góp vốn, Ngân hàng Nam Á tập trung đầu tư vào các
ngành tài chính, Ngân hàng và thương mại dịch vụ Hoạt động đầu tư của Ngân hàng Nam Á đang ngày được chú trọng phát triển nhằm giảm sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng
Về hoạt động kinh doanh chứng khoán, Ngân hàng Nam Á tham gia hoạt
động kinh doanh chứng khoán chưa nhiều do đó những biến động lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn vừa qua không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Về hoạt động cho vay chứng khoán, Ngân hàng Nam Á kiểm soát tốt hoạt
động cho vay chứng khoán, dư nợ cho vay chứng khoán luôn tuân thủ mức quy định của Ngân hàng Nhà nước Đảm bảo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, Ngân hàng Nam Á không phải chịu áp lực giải chấp chứng khoán cầm cố như nhiều ngân hàng khác đã phải gánh chịu
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân:
Phạm vi hoạt động của các Ngân hàng Nam Á trên TTCK còn đơn điệu, mới thể hiện ở hoạt động phát hành chứng khoán, cho vay chứng khoán, hoạt động kinh doanh chứng khoán còn chưa đáng kể Các hoạt động khác như bảo lãnh phát hành, nghiệp vụ sản phẩm phái sinh còn chưa được Ngân hàng Nam Á triển khai
Quy mô của các hoạt động còn nhỏ, là chưa tương xứng với tiềm năng Hoạt động kinh doanh cổ phiếu, trái phiếu còn nhỏ lẻ, bỏ lỡ nhiều cơ hội thu lợi nhuận cao cho ngân hàng
Chất lượng các hoạt động còn chưa cao, Ngân hàng Nam Á chưa có bộ phận chuyên trách trong kinh doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanh chứng