1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của mở cửa thương mại đến sản phẩm công nghiệp ở Việt Nam

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 393,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một nghiên cứu mới đây về vai trò của mở cửa thương mại đối với sự phát triển của khu vực công nghiệp tại Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác khu vực (SAARC), Muhammad Tahir, Mario Ruiz[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Sau 30 năm mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành công lớn trong việc thiết lập quan hệ thương mại với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Có thể kể đến một số thành công quan trọng như việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) và mới đây ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Tính đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với trên 230 quốc gia và vùng lãnh thổ

Việc tham gia các hiệp định thương mại tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi chonước ta,

có tác động không nhỏ đến quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Các doanh nghiệp nói chung cũng như doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp nói riêng sẽ có cơ hội tiếp cận với những nguồn vốn đầu tư vàoViệt Nam, được giao lưu về kỹ thuật, công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và phát triển hơn nữa

Như vậy, có cơ sở để cho rằng việc mở cửa thương mại có ảnh hưởng đến sản xuất

công nghiệp của nước ta Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề này, tôi chọn đề tài “Tác động

của mở cửa thương mại đến sản xuất công nghiệp ở Việt Nam” làm đề tài luận văn

của mình

Mục tiêu nghiên cứu:Bài nghiên cứu lần lượt trả lời các câu hỏi cụ thể sau:Thực

trạng mở cửa thương mại và sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 1986 – 2015 như thế nào?Ảnh hưởng của mở cửa thương mại đến sản xuất công nghiệpnói chung và một số ngành công nghiệp chủ yếu ra sao?Những đề xuất gì có thể gợi ý từ kết quả nghiên cứu?

Số liệu và phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu sử dụng các số liệu hàng quý về tỷ trọng

xuất nhập, khẩu hàng hóa và dịch vụ trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP), giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994), vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), lao động, chỉ số CPI và sản lượng đầu ra của một số ngành công nghiệp chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2016 Các số liệu này được thu thập từ trang web của Tổng cục thống kê

Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy theo véctơ

(VAR), với sự hỗ trợ từ phần mềm EVIEW để phân tích tác động của mở cửa thương mại, cùng với các yếu tố vĩ mô khác, đến sản xuất công nghiệp ở Việt Nam nói

chung.Khi xem xét tác động đối với một số ngành công nghiệp chủ yếu, bài nghiên cứu tiến hành ước lượng hồi quy đơn cho từng ngành

Giá trị của luận văn:Thông qua việc phân tích kết quả, lợi thế so sánh cũng như

cơ hội và thách thức đối vớisản xuất công nghiệp trong giai đoạn tới, bài nghiên cứu có thể đề xuất các giải pháp để phát triển ngành này

Trang 2

Kết cấu của luận văn:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu tác động của mở cửa thương mại

Chương 2: Mở cửa thương mại và sản xuất công nghiệp ở Việt Nam

Chương 3: Tác động của mở cửa thương mại đến sản xuất công nghiệp và một số ngành công nghiệp chủ yếu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA

MỞ CỬA THƯƠNG MẠI

Các học giả nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu về tác động của mở cửa thương mại đến lĩnh vực công nghiệp Có thể kể đến các nghiên cứu của Dijkstra (1997), Das (2002), Muhammad Tahir, Mario Ruiz Estrada, Imran Khan và Muhammad Asim Afridi (2015)…

Dijkstra (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa công nghiệp xuất khẩu ở Mỹ Latinh Tác giả tập trung phân tích hai ảnh hưởng: hiệu quả tĩnh và động.Hiệu quả tĩnh bao gồm hiệu quả kinh tế vi mô và hiệu quả phân phối Một sự cải thiện trong hiệu quả kinh tế vi mô là khi sản lượng đầu ra như nhau được sản xuất với nguồn lực ít hơn, hoặc với cùng nguồn lực có thể sản xuất ra nhiều sản lượng đầu ra hơn Một sự cải thiện trong hiệu quả phân phối là khi phân phối nguồn lực tốt hơn cho nền kinh tế

Nói về hiệu quả tĩnh,tự do hóa thương mại tạo ra hiệu quả kinh tế vi mô bằng cách: tăng năng suất của các ngành nhập khẩu, kích thích nhập khẩu; tăng cường sự cạnh tranh đối với các hàng hóa nhập khẩu; giảm năng suất của các ngành xuất khẩu, kích thích xuất khẩu Hiệu quả phân phối từ tự do hóa thương mại phụ thuộc vào sự tồn tại của các lĩnh vực sản xuất có lợi thế so sánh Hiệu quả phân phối luôn đi kèm với chi phí điều chỉnh, do các nguồn lực không thể ngay lập tức di chuyển từ lĩnh vực có lợi thế

so sánh thấp sang lĩnh vực có lợi thế so sánh cao hơn

Nói về hiệu quả động, Dijkstra đề cập tới hai góc độ: cạnh tranh và lợi suất tăng theo quy mô Đây là hai yếu tố tạo ra tỷ lệ tăng trưởng cao hơn trong dài hạn Áp lực cạnh tranh buộc các công ty cạnh tranh hàng nhập khẩu phải nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm thông qua hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Đối với các nước công nghiệp phát triển, lợi suất tăng theo quy mô giúp ngành công nghiệp loại bỏ hoặc giảm thiểu ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài Nó có thể giúp các nước trở

Trang 3

thành nhà xuất khẩu lớn về một sản phẩm nhất định, có thể ảnh hưởng đến giá cả thị trường thế giới về sản phẩm đó

Das (2002) nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và năng suất công nghiệp ở các nước đang phát triển từ ba khu vực: châu

Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á Trong nghiên cứu này có sử dụng các thước đo khác nhau về năng suất công nghiệp (TFP, hiệu quả kỹ thuật), các cấp độ nghiên cứu khác nhau (nhà máy, công ty, ngành), có đưa thêm các yếu tố bên ngoài (cơ cấu ngành, môi trường kinh tế vĩ mô…) và cấu trúc trễ.Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy tự do hóa thương mại có tác động hỗn hợp đến năng suất công nghiệp, nhưng chủ yếu là tích cực

Trong một nghiên cứu mới đây về vai trò của mở cửa thương mại đối với sự phát triển của khu vực công nghiệp tại Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác khu vực (SAARC), Muhammad Tahir, Mario Ruiz Estrada, Imran Khan, Muhammad Asim Afridi (2015)đã kết luận rằng mở cửa kinh tế có ảnh hưởng tích cực và rõ rệt đến khu vực công nghiệp, bên cạnh các yếu tố đầu tư, lao động, lạm phát và giáo dục Từ các nghiên cứu trên, có thể thấy sản xuất công nghiệp chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, được phân làm hai nhóm chính: yếu tố tự nhiên và yếu tố kinh tế – xã hội

Sự sẵn có từ tự nhiên có tác động không nhỏ đến sự phát triển của ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành sử dụng nguồn nguyên liệu lấy từ thiên nhiên Thiên nhiên được coi là một yếu tố đầu vào, quyết định sản lượng đầu ra của các ngành này Sự thuận lợi của tự nhiên còn được thể hiện qua hệ thống giao thông Một hệ thống giao thông tiện lợi sẽ thúc đẩy sự trao đổi nguyên liệu, máy móc, công nghệ đầu vào để cải thiện năng suất củangành Việc phát triển ngành gần các trung tâm kinh tế, thành phố, khu đông dân

cư cũng có vai trò không nhỏ trong việc quảng bá, phân phối và tiêu thụ sản phẩm

Lao động là yếu tố đầu vào quan trọng, quyết định đến quy mô và hiệu quả của mọi hoạt động sản xuất Nước ta có nguồn lao động dồi dào, các sản phẩm của ngành công nghiệp ở nước ta chủ yếu là thâm dụng về lao động Tuy nhiên, lao động cần phải đạt đến một trình độ chuyên môn, tay nghề nhất định mới tạo ra được lợi thế cho ngành

Quy mô vốn tích lũy lớn là yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng công

nghiệp Nó không những làm tăng quy mô và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp mà còn

là cơ sở đểthực hiệnquá trình hiện đại hóa dây chuyền sản xuất Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, sự đầu tư vào sản xuất công nghiệp được phân ra làm hai luồng: đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) Cả hai luồng này đều có tác động to lớn đến sự phát triển công nghiệp Tuy nhiên, với mục đích xem

Trang 4

xét ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến sản xuất công nghiệp nội địa,bài nghiên cứu sẽ tập trung vào luồng vốn FDI

Thị trường là nơi tiêu thụ sản phẩm, việc chiếm lĩnh được thị trường sẽ quyết định

sự phát triển của ngành công nghiệp Không những thế, việc mở rộng thị trường còn giúp ích trong việc chuyển giao công nghệ, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, từ đócải thiện năng lực sản xuất của ngành công nghiệp

Bên cạnh các yếu tố trên, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nướccũng có tác động không nhỏ đến sản xuất công nghiệp Các chính sách phù hợp của Nhà nước sẽ tạo môi trường chính trị ổn định, môi trường kinh doanh thông thoáng để phát triển

ngành.Sự ổn định của môi trường chính trị, môi trường kinh doanh thường được đo bằng yếu tố lạm phát

Mở cửa thương mại thuộc vào nhóm yếu tố đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Ảnh hưởng của mở cửa thương mại đến sản xuất công nghiệp sẽ được trình bày cụ thể ở các chương sau

Có nhiều thước đo về mở cửa thương mại và sản xuất công nghiệp Bài nghiên cứu

sử dụng thước đo thông dụng nhất về mở cửa thương mại là độ mở thương mại (tỷ lệ thương mại), được tính bằng tỷ số giữa xuất khẩu cộng nhập khẩu với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Giá trị sản xuất công nghiệp được sử dụng làm thước đo sản xuất công nghiệp nói chung.Đối với một số ngành công nghiệp chủ yếu, bài nghiên cứu sử dụng sản lượng đầu ra của các ngành làm thước đo cho sự phát triển sản xuất của các ngành đó

CHƯƠNG 2

MỞ CỬA THƯƠNG MẠI VÀ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Ở VIỆT NAM

Trong suốt 40 năm kể từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất, bằng những nỗ lực vượt bậc, Việt Nam đã và đang từng bước mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, là thành viên quan trọng của nhiều diễn đàn, tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu

Tác động của việc hội nhập đến nền kinh tế nước ta và một số nước ASEAN được thể hiện thông qua độ mở thương mại Số liệu được thu thập từ năm 1986, khi Việt Nam tiến hành mở cửa nền kinh tế Độ mở thương mạicủa Việt Nam có xu hướng tăng dần qua các năm, từ mức 23,2% vào năm 1986 lên 169,5% vào năm 2014, tăng gấp 7,3 lần Độ

Trang 5

mở thương mại của Việt Nam ít chịu tác động từ các cú sốc kinh tế bên ngoài, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 Từ năm 2010, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có độ mở thương mại lớn thứ 2 Tuy nhiên, với hệ số tăng hàng năm dao động trong khoảng từ 90 đến 110%, tốc độ tăng như vậy vẫn là chậm Cần có sự đột phá hơn nữa để có thể đuổi kịp các nước

phát triển

Việc mở cửa nền kinh tế đã đem lại nhiều hiệu quả tích cực cho nước ta Từ một quốc gia phải trải qua 30 năm chiến tranh, chịu tổn thất về mọi mặt, Việt Nam đã tranh thủ ngoại lực, phát huy lợi thế để ổn định chính trị– xã hội, từng bước tháo dỡ khó khăn, khôi phục và phát triển kinh tế

Các hiệp định thương mại được ký kết đã mang đến cho Việt Nam nguồn vốn FDI lớn, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nói chung cũng như sự phát triển ngành công nghiệp nói riêng Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục, bình quân đạt khoảng 6%/năm.Đạt được kết quả đó có sự đóng góp không nhỏ từ nguồn vốn FDI

Cùng với việc tăng trưởng kinh tế nhanh, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện Theo thống kê từ Ngân hàng thế giới, GDP bình quân đầu người ở Việt Nam tăng mạnh, từ mức 437,13 USD vào năm 1986 lên khoảng 2.300 USD vào năm 2015 Hiện nay, Việt Nam được đánh giálà một trong những nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất trên thế giới Từ mức 58% vào năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 16% vào năm 2006, và đến năm 2015 đang dừng ở mức 7%

Sản xuất công nghiệp của Việt Nam đã có một sự tăng trưởng nhanh sau khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế Giá trị sản xuất công nghiệp của nước ta có xu hướng tăng dần, với mức tăng nhanh dần theo thời gian, từ mức thấp nhất là 109,63 tỷ đồng vào năm 1986 lên mức cao nhất là 2594,01 tỷ đồng vào năm 2013, nghĩa là tăng hơn 20 lần trong vòng

28 năm Sự tăng trưởng là liên tục, trung bình đạt 112,5%/năm Cơ cấu ngành công nghiệp cũng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Từ một nền công nghiệp có xuất phát điểm thấp, kém phát triển, đến nay ngành công nghiệp đã đóng góp một tỷ trọng không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong khi vào năm 1990, tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP đạt 18,8% thì đến

10 năm trở lại đây, tỷ trọng nàyduy trì ở mức từ 33 – 34% Trong nội bộ ngành công nghiệp,nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn, đó là công nghiệp chế biến, chế tạochiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp 49,24% vào năm 2015 Chiếm tỷ trọng nhiều thứ hai và thứ ba lần lượt là nhóm ngành công nghiệp khai khoáng (đại diện cho công nghiệp nặng) và nhóm ngành công nghiệp điện, ga, nước Hai nhóm ngành này có mức đóng góp vào năm

Trang 6

2015 lần lượt là 34,55% và 16,21%.Sự phát triển của công nghiệp ở nước ta còn thể hiện thông qua sự ra đời của các ngành công nghiệp mới có kỹ thuật công nghệ cao, hàm lượng tri thức cao bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống Các khu công nghiệp cũng được hình thành tại những địa điểm có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương nhằm tận dụng được nguồn lực trong và ngoài nước để tăng sản lượng cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm

Ngành công nghiệp nước ta gồm nhiều ngành nhỏ, trong đó mở cửa thương mại tác động mạnh mẽ đến 4 ngành công nghiệp chủ yếu sau: năng lượng (đại diện là ngành than), luyện kim (đại diện là ngành thép), hóa chất (đại diện là ngành phân bón) và dệt may (đại diện là ngành may mặc).Trong 10 năm sau mở cửa, sản lượng của các ngành này đều tăng.Sự gia tăng này một phần đến từ các công ty ngoài quốc doanh và công ty đầu tư nước ngoài, bên cạnh các công ty quốc doanh Các công ty ngoài quốc doanh tham gia vào ngành than và may mặc từ những năm bắt đầu mở cửa (1986), tham gia vào ngành thép từ năm 1990 Các công ty đầu tư nước ngoàihầu hết tham gia vào các ngành công nghiệp vào năm 1995 Sự phát triển của mỗi ngành là khác nhau, phụ thuộc vào đặc trưng của từng ngành

CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA MỞ CỬA THƯƠNG MẠI ĐẾN SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ

NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU

Dựa trên phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp, bài nghiên cứu lựa chọn và lượng hóa một số yếu tố để đưa vào mô hình:

GO = f(OPEN, FDI, LAB, CPI)

Trong đó: GO: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994)

OPEN: Độ mở thương mại

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

LAB: Lao động

CPI: Chỉ số CPI

Khi tìm hiểu tác động của mở cửa thương mại đến một số ngành công nghiệp chủ yếu, bài nghiên cứu cũng sử dụng mô hình tương tự:

Y = g(OPEN, FDI, LAB, CPI)

Trong đó: Y: Sản lượng đầu ra của các ngành công nghiệp chủ yếu

Trang 7

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy theo véctơ (VAR) để ước lượng tác động của mở cửa thương mại đến sản xuất công nghiệp Mô hình VAR(p) gồm phương trình có dạng:

Y t = (A 1 L + A 2 L 2 + … + A p L p )Y t + s t + u t

Từ kết quả phân tích, bài nghiên cứu đưa ra một số kết luận như sau:

Đối với sản xuất công nghiệp nói chung:

+ Sản xuất công nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực từ mở cửa thương mạivới độ trễ

là một quý.Cụ thể, khi biến LNOPENtăng 1 đơn vị ở thời kỳ hiện hành thì đến quý

sau,biến DLNGO giảm khoảng 0,24 đơn vị.Trong ngắn hạn, việc mở cửa thương mại khiến nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng nhiều hơn với các bất ổn từ bên ngoài Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chưa sẵn sàng cho việc hội nhập, dẫn đến sản xuất kém hiệu quả và tính cạnh tranh thấp

+ Sản xuất công nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực từ vốn FDIvới độ trễ là một quý Khi biến DLNFDI tăng lên 1 đơn vị ở thời kỳ hiện hành thì đến quý sau, biến DLNGO giảm khoảng 0,13 đơn vị Điều này cho thấy ngành công nghiệp chưa tận dụng được nguồn vốn FDI một cách hiệu quả để phát triển Hạn chế này là do quá trình đầu tư trong nước còn khép kín, đồng thời môi trường đầu tư trong nước còn thiếu minh bạch và nhất quán

+ Mở cửa thương mại có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất công nghiệp trong dài hạn Khi có cú sốc về mở cửa thương mại, biến DLNGO sẽ tăng khoảng 2% trong ba quý đầu Tác động tắt dần từ quý 5 trở đi nhưng vẫn giữ được tính tích cực của nó

+ Tăng trưởng của ngành công nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào chính nó trong quý đầu Ở các quý tiếp theo, ảnh hưởng của mở cửa thương mại tăng dần từ 8% lên 14% Các yếu tố còn lại cũng giải thích được một phần: nguồn vốn FDI giải thích được khoảng 6 – 7%, lao động giải thích được khoảng 2 – 5% Kết quả này khẳng định lại lần nữa ảnh hưởng tích cực của mở cửa thương mại đến giá trị sản xuất công nghiệp trong dài hạn

Đối với một số ngành công nghiệp chủ yếu:

+ Mở cửa thương mại có ảnh hưởng tích cực đến ngành than với độ trễ là 2 quý Khi độ mở thương mại tăng lên 1% ở thời kỳ hiện hành thì sau đó 2 quý, sản lượng ngành than tăng khoảng 0,19% Mở cửa thương mại cung cấp cho ngành một khối lượng vốn FDI lớn để phát triển Tác động của nguồn vốn này đến sản lượng của ngành nhanh hóng

Trang 8

hơn: khi nguồn vốn này tăng 1% ở thời kỳ hiện hành thì chỉ sau một quý, sản lượng than

đã tăng lên 0,03%.Kết quả còn chỉ ra tác động dài hạn của hai yếu tố trên đến sản lượng ngành than Trong dài hạn, khi độ mở thương mại tăng 1% thì sản lượng ngành than sẽ tăng khoảng 0,32% Tương tự, khi nguồn vốn FDI tăng 1% thì sản lượng ngành sẽ tăng khoảng 0,05%

+ Ngành thép cũng được hưởng lợi rất nhiều từ mở cửa thương mại Ảnh hưởng này là tức thì, vì khi độ mở thương mại tăng 1% thì sản lượng thép tăng khoảng 0,62% ngay trong thời kỳ đó Tương tự đối với nguồn vốn FDI: khi nguồn vốn này tăng 1% thì sản lượng thép tăng khoảng 0,04% ngay trong thời kỳ đó

+ Mở cửa thương mại cũng có ảnh hưởng tích cực và tức thì đến ngành phân bón Khi độ mở thương mại tăng lên 1% thì sản lượng ngành phân bón tăng khoảng 0,39% trong cùng thời kỳ Tương tự, 1% lượng vốn FDI tăng lên cũng làm cho sản lượng ngành tăng khoảng 0,04% trong cùng thời kỳ

+ Đối với ngành may mặc, mở cửa thương mại không có tác động đến ngành Kết quả phân tích dường như chưa phản ánh đúng vai trò quan trọng của ngành may mặc cũng như ảnh hưởng của mở cửa thương mại đến ngành này Như vậy, thông qua mở cửa thương mại,Việt Nam đã tranh thủ ngoại lực, phát huy lợi thế để ổn định chính trị– xã hộivà phát triển kinh tế.Mở cửa thương mại tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho sản xuất công nghiệp ở Việt Nam Nếu có thể tận dụng được các cơ hội và khắc phục được những hạn chế trên, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa Có thể thấy mở cửa thương mại là chính sách tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội của nước ta

Sau khi phân tích cơ hội và thách thức đối vớisản xuất công nghiệp trong giai đoạn tới, bài nghiên cứu đề xuất các giải pháp để phát triển ngành Bài nghiên cứu còn một số hạn chế khi về cơ bản chỉ xác định mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và sản xuất công nghiệp trong ngắn hạn Thước đo mở cửa thương mại được sử dụng là tỷ số (xuất khẩu + nhập khẩu) trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Thước đo sự phát triển của sản xuất công nghiệp là giá trị sản xuất công nghiệp Cả hai đều không phải là thước đo duy nhất nên chưa phản ánh hết các khía cạnh của mối quan hệ này Nguồn vốn FDI cũng không thểđại diện hết cho tất cả nguồn vốn đầu tư vào ngành công nghiệp Số liệu của bài nghiên cứu hạn chế (2004 – 2016) nên kết quả phân tích còn có chỗ không đúng với kỳ vọng ban đầu, có ý nghĩa không cao Ngoài ra, số lượng các ngành công nghiệp nhỏ là tương đối nhiều nên bài nghiên cứu chưa bao quát hết ảnh hưởng của mở cửa thương mại đến toàn bộ các ngành đó

Trang 9

Do hạn chế về phạm vi số liệu nên kết quả phân tích đối với ngành may mặc dường như chưa phản ánh đúng với thực tế Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm

vi số liệu, tăng kích thước mẫu để kết quả phân tích được chính xác hơn

Ngày đăng: 16/01/2021, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w