Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt Nam, bên cạnh đạo
Trang 1tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và
số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt Nam, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên chúa Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng, tôn giáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt Cho đến nay, những học thuyết này không giữ địa vị độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tác động vào đời sống xã hội của con người Việt Nam
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta Nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của
xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam Việc xoá
bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể, nên chúng ta cần vận dụng một cách phù hợp để góp phần đạt được mục tiêu của thời kỳ quá độ cũng như về sau này Do đó, việc tìm hiểu nghiên cứu Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người và tình hình biến động, xu hướng phát triển của Phật giáo thế giới tác động tới nước ta là hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
Trang 2NỘI DUNG
1 Khái quát chung về đạo Phật
1.1 Sự ra đời và quá trình phát triển
Đạo phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ Thế
kỷ VI trước Công nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ
Sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo sâu sắc; Thời kỳ này, xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng cấp cách biệt nhau,… Đẳng cấp Bà La Môn (địa vị cao nhất); đẳng cấp Sát Đế Lỵ (dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ Xá (gần những người giầu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp Thứ Đà La (nô lệ) Ngoài ra, còn
có một tầng lớp người khác thuộc hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người khinh rẻ Trước khi có sự ra đời của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong những cuộc đấu tranh mang tính chất toàn xã hội Cùng thời điểm này, Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi lẽ, bên cạnh sự thống trị của đạo Bà La Môn còn có sự hiện diện của Phệ Đà giáo và một số giáo phái khác, đồng thời, tư tưởng duy vật thô sơ và tư duy biện chứng đã xuất hiện Hoàn cảnh xã hội và những tư tưởng quan niệm trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần thúc đẩy sự ra đời của đạo Phật
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Phật là Tất Đạt Đa (Siddhartha), con trai vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Maya), họ Cồ Đàm, vương tộc Thích Ca, tiểu quốc Ca Tỳ La Vệ thuộc vùng Đông Bắc Ấn Độ lúc đó và thuộc nước Nepal ngày nay Ông sinh ngày
15-4-624 trước Công nguyên Năm 19 tuổi, ông kết hôn và sinh hạ được một người con trai Đến năm 29 tuổi, Tất Đạt Đa xuất gia tu hành Trong 6 năm đầu mới xuất gia, ông tu khổ hạnh với các tu sĩ Bà La Môn giáo ở Tuyết Sơn (Himalaya) Sau khi nhận thức được phải có thân thể khỏe mạnh mới đủ sức
tư duy tìm ra chân lý, Tất Đạt Đa đã từ bỏ cách tu hành cực đoan của Bà La Môn giáo Sau đó, Ông đã uống bát sữa bò của thiếu nữ Nan Đà, xuống dòng
Trang 3sông Ni Liên Thiền Na tắm rửa, ông nhập thiền và giác ngộ thành Phật sau 49 ngày đêm năm ông 35 tuổi và được tôn xưng là Thích Ca Mâu Ni Sau 45 năm thuyết giảng giáo pháp mà ông giác ngộ, Thích Ca Mâu Ni nhập diệt (nhập Niết Bàn) vào năm 544 trước Công Nguyên tại Câu Thi Na Ca (Kushinagar) Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, do sự không thống nhất trong giáo đoàn nên đã diễn ra bốn lần kiết tập để chỉnh lý thống nhất giáo lý Phật giáo
Để qua một bên những truyền thuyết về Tất Đạt Đa tìm đường cứu khổ cho chúng sinh mà sáng lập ra đạo Phật thì có thể thấy rằng thực chất Phật giáo ra đời là do kết quả của cuộc đấu tranh gay gắt giữa các giai cấp, đấu tranh giữa thần quyền và thế quyền, giữa những người nắm kinh tế của xã hội
và những người nắm tư tưởng xã hội Cuộc đấu tranh ấy đã lôi kéo đông đảo quần chúng nghèo khổ tham gia giành bình đẳng thật sự nơi trần gian, quần chúng đã nhận được sự bình đẳng trong tư tưởng, nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà Phật
Phật giáo ngày nay có 03 hệ phái lớn: Phật giáo Đại thừa hay còn gọi là Phật giáo Bắc tông; Phật giáo Tiểu thừa hay còn gọi là Phật giáo Nam tông;
và Phật giáo Tây tạng hay còn gọi là Lạt Ma giáo Từ những hệ phái lớn này, Phật giáo phân hóa thành hàng chục tông môn, sơn phái khác nhau
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, dưới tác động của toàn cầu hóa và làn sóng di cư, Phật giáo đã vượt khỏi Châu Á truyền sang các nước Châu Âu
Năm 2009, tại các nước Châu Âu có 3.197.966 tín đồ Phật giáo; ở Pháp năm 1997 có 650.000 tín đồ; ở Anh có 180.000 tín đồ Ở Ôtxtrâylia có trên 480.000 tín đồ Phật giáo và là tôn giáo phát triển nhanh nhất ở nước này
Tại Châu Á, Phật giáo cũng đang có xu hướng phát triển nhanh Phật giáo tuy có số lượng tín đồ không nhiều, song lại có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân loại Một số nước có số lượng Phật giáo lớn như Trung Quốc
75 triệu tín đồ, Thái Lan 57 triệu, Nhật Bản 48 triệu, Sri Lanka 13 triệu, Việt
Trang 4Nam 10 triệu, Đài Loan 10 triệu, Hàn Quốc 8 triệu tín đồ1 Ngoài ra, nhiều nước Châu Á, Phật giáo được xem là quốc đạo như Sri Lanka, Mianma, Campuchia, Nêpan,…
Theo con số thống kê, năm 2000 Phật giáo trên toàn cầu có khoảng 360 triệu tín đồ nhưng đến năm 2010 số lượng tín đồ Phật giáo trên toàn cầu tăng lên trên dưới 500 triệu2 trong đó 80% tập trung ở các nước Châu Á
Đạo Phật là một tôn giáo có cùng bản chất như mọi tôn giáo khác, song đạo Phật còn có một số đặc điểm riêng: đạo Phật không quan niệm về đấng sáng tạo ra thế giới Thế giới tự nó vận động, phát triển thông qua luật vô thường nhân quả Sự vận động ấy diễn ra trong không gian và thời gian, đạo Phật sơ kỳ ở tiểu thừa mang nhiều tính duy vật những quan niệm của đạo Phật
về thế giới về con người, về vận động mang hình thức biện chứng Các giáo
lý đạo Phật chứa đựng nhiều nội dung đạo đức, hướng thiện Đồng thời cũng phủ nhận một cách gián tiếp những mâu thuẫn, xung đột xã hội
1.2 Giáo lý về bản thể luận, nhân sinh quan của Phật giáo
a Bản thể luận của Phật giáo
- Luật nhân quả: mọi cái đều có nguyên nhân và mọi nguyên nhân đều mang lại kết quả, không thể tìm thấy nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng Nhân quả là một chuỗi kết quả diễn ra liên tục
- Vô ngã: cái tôi được hình thành bởi hai yếu tố sắc (vật chất) và danh (tinh thần), sắc và danh hợp lại với nhau trong một khoảng thời gian nào đấy sau đó lại tan biến đi, điều đó cho thấy không có cái tôi tồn tại vĩnh hằng nghĩa là vô ngã
- Vô thường: là mọi cái luôn luôn vận động, biến đổi không có cái gì nhất thành, bất biến, mọi vật đều có quá trình sinh - trụ - diệt, khoảng thời gian của quá trình này có thể dài ngắn khác nhau nhưng so với thời gian vô tận của vũ trụ chỉ là chốc lát
b Nhân sinh quan của phật giáo:
1 Nguyễn Thanh Xuân: Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb.Tôn giáo, H.2005, tr.30.
2 Bách khoa toàn thư mở Wikippedia, 2010.
Trang 5Nhân sinh quan của Phật giáo thể hiện ở tứ diệu đế:
- Khổ đế: nêu lên những nỗi khổ của đời người đó là 8 nỗi khổ sinh (sinh ra), bệnh (ốm đau), lão (già đi), tử (qua đời), oán tăng hội (khổ vì gặp người/điều mình oán ghét), thụ biệt ly (khổ vì xa rời người/điều mình thích), ngũ thụ uẩn (khổ vì 5 yếu tố cấu thành mọi sự vật hiện tượng: Sắc uẩn, Thụ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn), sở cầu bất đắc (khổ vì người/điều mình cầu mong không được)
- Tập đế: chỉ ra nguyên nhân gây ra nỗi khổ của loài người, có 12 nguyên nhân khái quát lại theo trật tự nhân quả Các nguyên nhân cơ bản như:
Ái, Khát dục, Vô minh, Tam độc (tham lam, sân hận, si mê), Tà kiến, Giới cấm thủ (tu hành không chính đạo),…
- Diệt đế: khẳng định mọi nỗi khổ đau của con người có thể tiêu diệt được để đạt đén giải thoát, Niết Bàn
- Đạo đế: chỉ ra 08 con đường để tiêu diệt nỗi khổ của loài người, gồm: Chính kiến (kiến giải đúng đắn về giáo lý Phật giáo), Chính tư duy (ý chí đúng đắn trên cơ sở chính kiến), Chính ngữ (phát ngôn đúng giáo lý Phật giáo), Chính nghiệp (hành vi đúng đắn theo giáo lý Phật giáo), Chính mệnh (mưu sinh chính đáng phù hợp với giới luật Phật giáo), Chính tinh tiến (chuyên cần tu tập Phật pháp hướng về giải thoát), Chính định (tu tập thiền định Phật giáo) và Chính niệm (kiên định suy niệm theo chân lý Phật giáo)
Ngoài ra còn thực hiện tam bảo pháp để khắc phục tam nghiệp, khi chết
đi linh hồn sẽ được siêu thoát
Tóm lại, giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là sự khổ não, hai là sự giải thoát ra khỏi khổ não ấy Khổ não là sự luân hồi, là vòng sinh tử của con người, thoát khỏi vòng luân hồi thì khỏi khổ, mà muốn thoát khỏi vòng luân hồi thì phải bỏ hết dục vọng trên trần thế Khi thoát khỏi vòng luân hồi con người mới lên được cõi Niết bàn, là cõi cực lạc
2 Phật giáo ở Việt Nam
2.1 Sự du nhập của đạo Phật vào Việt Nam
Trang 6Về mặt địa lý Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Dương, là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu tiếp xúc với các nước trong khu vực Ấn
Độ và Trung Quốc là hai nước có nền văn minh lớn cổ xưa; Việt Nam lại nằm cạnh hai nước, cho nên chịu nhiều ảnh hưởng của hai nền văn minh này Trong những năm đầu Công nguyên, Việt Nam đang ở thời kỳ Bắc thuộc Về tôn giáo, tầng lớp trên của xã hội bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo; tầng lớp dưới có quan niệm về ông trời - đấng gây phúc họa cho con người và quan niệm đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng hai con đường: Đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ; Đường bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũng tiếp nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ Như vậy, Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường xâm lược, không phải do sự cưỡng chế mà thông qua đường giao thương buôn bán Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bắc ái, cứu khổ, cứu nạn,… rất gần gũi với đời sống nhân dân Việt Nam
do đó dễ được chấp nhận Thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn tại của Nho giáo, đạo Lão được Trung Quốc truyền vào; tuy nhiên, các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khiếm khuyết đối với đời sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt ấy Do đó, Đạo Phật ở Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa, cũng như ảnh hưởng bởi đạo Lão đã được truyền bá rộng rãi đến ngày nay
2.2 Giá trị của Phật giáo đối với đời sống xã hội ở Việt Nam
Phật giáo đối với đời sống xã hội ở Việt Nam có tầm ảnh hưởng to lớn
và mang lại nhiều giá trị giáo dục tích cực Một số giá trị quan trọng của Phật giáo tác động đến đời sống xã hội ở Việt Nam có thể kể đến như sau:
a) Giá trị giáo dục về mặt đạo đức
Trang 7Phật giáo được xem là một hệ thống triết học đạo đức, được mệnh danh
là thuyết đạo đức chân chính, vì nó chủ trương giáo hóa con người trên ba điều chính: Giới, Định, Tuệ Theo Phật giáo, con đường để thoát khỏi Vô minh là con đường Bát Chính đạo: Chính Ngữ, Chính Nghiệp, Chính Mệnh (Giới); Chính Tinh tiến, Chính Niệm, Chính định (Định), Chính Kiến, Chính
Tư duy (Tuệ) Muốn làm tín đồ hay theo Phật giáo phải thực hành Giới, Định,
Tuệ Giới là những quy phạm ngăn cấm các tín đồ không được làm, nói, suy nghĩ không theo quy định; Định là giữ trạng thái tinh thần không xao động để đạt đến Tuệ là sự thông suốt mọi việc Nói chung, Phật giáo chú trọng đến sự
tiết hạnh của con người và có cả một hệ thống tư tưởng đạo đức coi trọng tu dưỡng đạo đức cá nhân trên tất cả mọi phương diện từ hành vi, lời nói, nghề nghiệp đến cả suy nghĩ…
Thuyết Nhân quả, Nghiệp trướng của Phật giáo đã hình thành một nhân sinh quan tin vào một chủ thể thánh thần có khả năng nhìn thấu nhân gian, Trời - Phật có mắt, gieo nhân xấu ắt gặt quả xấu, gieo nhân tốt gặt quả tốt Người Việt Nam rất tin tưởng vào triết học nhân quả, nghiệp trướng của Phật giáo Vì vậy, họ thường “làm lành, tránh dữ”, ăn ở phúc đức để mong kiếp này, đời này được hưởng phúc lộc, đồng thời con cháu họ sau này được nương nhờ ân huệ phúc đức của cha mẹ, tổ tiên mà cũng được sung sướng
Ngoài đạo lý tư vô lượng tâm, Người Việt Nam còn tương thích, tôn
sùng với một đạo lý khác của đạo Phật đó là đạo lý Tứ Ân 3, trong đó ân cha
mẹ được đặt lên hàng đầu Rất nhiều bộ kinh Phật thuyết giảng về đề tài này như: Kinh Báo Phụ mẫu Ân, Kinh Thai Cốt, Kinh Hiếu tử, Kinh Đại Tập, Kinh Nhẫn Nhục, Kinh Vu Lan,… đều nhắc đến công lao dưỡng dục của cha
mẹ “môn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha
mẹ” (Kinh Thai Cốt), hay “Cùng tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất hiếu” (Kinh Nhẫn Nhục) Điều này hoàn toàn phù
hợp với quan niệm đạo đức của người Việt Nam lấy Hiếu, Nghĩa làm đầu
3 Thuyết Tứ Ân: Ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh.
Trang 8Đạo Tứ Ân của Phật giáo cổ vũ cho sự hiếu kính, vâng lời, phụng dưỡng, đền
đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ Phật giáo quan niệm: Đạo làm
con, tội lớn nhất là bất hiếu Với đường hướng này, người Việt cảm nhận thấy Phật giáo rất gần với truyền thống uống nước nhớ nguồn của mình Trong quan niệm của người Việt, gia đình, cha mẹ là cái nôi của tình thương yêu và hạnh phúc, là tổ ấm nâng đỡ con người trong cuộc sống, là cái mà vì nó con người ta phấn đấu… Cho nên, người Việt trong đời sống trần tục, trong sinh hoạt tâm linh tinh thần đều dễ dàng chấp nhận và tiếp thu giáo lý về Tứ Ân của Phật giáo
Đức Phật còn khuyên dạy chúng sinh hãy chăm tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn món tâm rộng lớn không lường được”, đó là các tâm “Từ,
Bi, Hỷ, Xả”, nghĩa là nhẫn, nhịn, vui vẻ và tha thứ Phật dạy hãy mở rộng bốn tâm này, không hạn chế, cho tất cả các loài hữu tình ở khắp bốn phương Đây
là những đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện, là lối sống của bậc thánh Nếu mỗi người tự cố gắng thực hành “tứ vô lượng tâm”, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc,… thì mỗi người sẽ trở thành một công dân lý tưởng trong một thế giới hòa bình, an lạc
b) Giá trị giáo dục về mặt quản lý kinh tế: Không như nhiều người mường tưởng Phật giáo chỉ đề cập đến giải thoát khổ đau chứ không quan tâm đến vấn đề hiện tại Trong kinh Phật không có chương riêng biệt nào nói về kinh tế, song khi tổng hợp, kết nối lại các bộ kinh, ta có một hệ tư tưởng phù hợp với tinh thần Phật giáo
Đức Phật dạy, mỗi cá nhân nên chia số tiền mình kiếm được thành bốn phần Một phần chi tiêu đời sống hàng ngày, một phần tiết kiệm đề phòng bất trắc hoặc tình huống khẩn cấp xảy ra và hai phần để kinh doanh và đầu tư sinh lời Theo Đức Phật, chỉ cần 1/4 số tiền kiếm được, con người đã có một cuộc sống tạm ổn Nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại, chữa bệnh, giáo dục, xa hơn nữa
là tinh thần là những nhu cầu cơ bản của cuộc sống Thực phẩm phải được sản xuất để tránh tình trạng thiếu hụt lương thực gây bất ổn xã hội Một nền kinh
Trang 9tế phát triển chỉ cần 1/4 tổng thu nhập hàng tháng là có thể thỏa mãn được những nhu cầu thiết yếu trên 1/4 thu nhập dành tích lũy tiết kiệm sẽ giúp con người vượt qua khó khăn lúc bị khủng hoảng kinh tế Nếu không tích trữ của cải, thì dù là một cá nhân hay một đất nước chắc chắn sẽ rơi vào khủng hoảng, nợ lần chồng chất Đức Phật dạy nguyên nhân của việc phung phí tiền bạc có thể nằm ở sự đam mê tửu sắc, cờ bạc, giao du với bạn xấu và thói lười biếng Trong đó, lười biếng có liên quan trực tiếp đến việc gây dựng tài sản Khi tài sản mới chưa gây dựng được, tất nhiên tài sản cũ sẽ bị tiêu hao
c) Giá trị giáo dục về mặt xã hội
Đức Phật dạy: “Nguồn gốc của vô đạo và tội ác như trộm cướp, bạo động, thù hận, do nghèo đói, túng thiếu (dālliddiya) mà ra”.
Theo Đức Phật, năng lực và nghị lực là hai tiêu chí cơ bản mà bất cứ một chức nghiệp nào từ nông dân, công nhân hay thương nhân,… với tay nghề và sự cần cù sáng tạo, không trì hoãn Điều thứ hai là sự thận trọng gìn giữ tài sản của mình không bị hao tổn vô ích Của cải kiếm được bằng mồ hôi nước mắt chúng ta phải bảo vệ và tiết kiệm
Mỗi cá nhân, quốc gia cần đề phòng thói trộm cướp, đề phòng hỏa hoạn, lũ lụt,… Thứ nữa, của cải dành dụm được cũng có thể bị tiêu tan bởi những đam mê như nghiện ngập, quan hệ bất chính với phụ nữ; kết thân với những người không có đạo đức Giống như một con sông mùa lũ phải có đê chắn Việc tạo ra của cải vật chất phù hợp với đạo đức, luật pháp và không có bạo lực xứng đáng được tán thán Việc tiêu dùng những sản phẩm xứng đáng cũng như sử dụng vào việc bố thí, từ thiện hoặc những vấn đề có lợi về đạo đức cũng cần khuyến khích Tuy nhiên, con người cần có thái độ không bám víu vào của cải, thậm chí những thứ làm ra hợp pháp Hãy dùng nó cho ích lợi của tha nhân, cho cộng đồng, gia đình và cho cá nhân
2.3 Hạn chế của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam
Bên cạnh những giá trị tích cực nêu trên, Phật giáo cũng có những hạn chế nhất định trong đời sống xã hội Đạo đức Phật giáo mang tính nhân đạo
Trang 10cao siêu và một thái độ chấp nhận chứ không phải là cải tạo hoàn cảnh Đó là thứ đạo đức phi hành động tới mức không tức giận, không phân minh, không tranh cãi, đề cao chữ nhẫn Đứng về mặt duy lý mà xét, những giáo lý trên của nhà Phật có phần yếm thế, nó làm thui chột ý chí đấu tranh, vươn lên của con người
Hạn chế thứ nhất của Phật giáo là tiếp cận thế giới, con người với cái nhìn bi quan, thương cảm (đương nhiên mặt tích cực là từ bi hỉ xả vô lượng
vô biên của Phật giáo) Bản thân Tứ diệu đế là sự minh chứng rõ nhất cho điều này khi tiền đề đầu tiên của Tứ diệu đế chính là Khổ đế Chúng ta sinh ra đời, phải tiếp xúc, chịu đựng cái thế giới này đã là khổ rồi Tất nhiên, tiếp nhận dưới góc nhìn vô thường, vô ngã của Phật giáo thì tất cả mọi sự cố chấp, tham luyến của con người đều là nguyên nhân hàng đầu của sự khổ cả Song, với góc nhìn của một con người đang sống và đang tồn tại, đang sống và hít thở không khí,… thì không phải lúc nào cũng cần tới sự tư duy thấu triệt và cực đoan như thế Không thể chối cãi rằng chúng ta tồn tại và phấn đấu không đơn thuần vì bản năng sinh tồn mà còn vì để cho sự tồn tại của mình, trong dòng chảy vô thường của sự sống sao cho có ý nghĩa Chúng ta phấn chấn, hạnh phúc, hồ hởi khi sự tồn tại của chúng ta được ghi nhận và thừa nhận về ý nghĩa
Thứ hai, hạn chế nữa của Phật giáo và để đưa ra phương thức giải quyết tất cả nỗi khổ đó đều xuất phát từ ý thức, tâm linh, từ sự rèn tập tính tình, từ
sự diệt dục Tức là, xét từ góc độ sống tức cực, đã quay lưng lại với hiện thực
và để con người tuyệt giao với hiện thực bằng cách tự triệt tiêu tất cả lòng ham sống của bản thân.Đ ó là cách lựa chọn của Phật giáo Trong khi các triết thuyết khác người ta lại cố gắng tìm cách tích cực hóa mối quan hệ giữa con người với thế giới, như con người có khả năng cải tạo thế giới theo như mong muốn của chính mình Tất nhiên,nói như thế không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn những đóng góp của Phật giáo vì ngay trong những hạn chế này đã chứa đựng những đóng góp lớn lao của Phật giáo cho nhân loại rồi Không một tôn