1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Sử dụng mô hình Mulltinomal logit đánh giá ảnh hưởng của nhân khẩu học đến hành vi tiết kiệm của hộ gia đình Việt Nam

9 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 417,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đặc biệt thông qua các lý thuyết kinh tế ta cũng nhận thấy rằng nguồn chủ yếu của vốn đầu tƣ trong nƣớc xuất phát từ tiết kiệm hộ gia đình.. Đối với một đất nƣớc đang phát triển [r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- -

NGUYỄN PHƯƠNG LAN

SỬ DỤNG MÔ HÌNH MULTINOMIAL LOGIT ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN KHẨU HỌC ĐẾN HÀNH VI TIẾT KIỆM CỦA HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU KHIỂN HỌC KINH TẾ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Tóm tắt luận văn.

Tăng trưởng kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu nhằm giải quyết các vấn đề

về phúc lợi xã hội, tăng năng lực cạnh tranh, ổn định tình hình chính trị của mọi quốc gia Kể từ khi bắt đầu chính sách “ mở cửa” năm 1995 đến nay, Việt Nam luôn đạt được những thành tựu đáng tự hào về tốc độ tăng trưởng so với khu vực và thế giới

Có thể nói trải qua 2 cuộc khủng hoảng cuối thế kỷ trước, 1997 khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan, 2007 khủng hoảng nợ công bắt đầu từ các nước Tây Âu, Việt Nam vẫn giữ vững mức tăng trưởng xấp xỉ 7 % Đây là tín hiệu đáng mừng cho vấn đề quản lí kinh tế vĩ mô, vốn được coi là có phần yếu kém, buông lỏng và dễ gây nhiều vấn đề nhảy cảm

Tuy nhiên để giữ vững được mức tăng trưởng này ta cần làm rõ các tác nhân chủ yếu ảnh hưởng đến nó Xét 1 cách toàn diện thì tăng trưởng bao gồm rất nhiều yếu tố tác động như chính sách, vốn đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư trong nước( tiết kiệm trong nước), tỉ lệ lạm phát… Trong đó, yếu tố vốn đầu tư trong nước giữ 1 vai trò quan trọng không chỉ trong tăng trưởng mà cả trong điều tiết tài chính vi mô Có thể nói vốn đầu tư trong nước đóng vai trò huyết mạch bởi nó là nguồn vốn dễ tiếp cận, không phụ thuộc quá nhiều vào yếu tố khách quan( nền kinh tế các nước có vốn đầu tư vào Việt Nam) Và đặc biệt thông qua các lý thuyết kinh tế ta cũng nhận thấy rằng nguồn chủ yếu của vốn đầu tư trong nước xuất phát từ tiết kiệm hộ gia đình

Trong quá trình khủng hoảng, tiết kiệm hộ gia đình được coi là bức bình phong chống lại những cú sốc về thu nhập, đặc biệt những vùng khó tiếp cận với nguồn tín dụng hay tín dụng không chính thống( chơi hụi) Đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, việc tiếp cận đến các sản phẩm tài chính lại càng khó khăn Ngoài ra không thể không kể đến vai trò của tiết kiệm hộ còn đóng 1 vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển ngành nghề và kinh tế nông thôn, phát triển các ngành thủ công, tiểu thủ công, các ngành truyền thống góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tiết kiệm và hành vi tiết kiệm của hộ gia đình nhìn chung đang được dần quan tâm nhiều hơn bởi các nhà kinh tế cũng nhận thấy tầm quan trọng của tiết kiệm Nguồn vốn tiết kiệm của dân cư phụ thuộc rất lớn vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Đây

Trang 3

là một lượng vốn lớn Nhờ có lượng vốn này mà đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn trong các doanh nghiệp, nó cũng giải quyết được một phần lớn công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi trong khu vực nông thôn từ đó thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân Như vậy vốn đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và lâu bền Ngoài ra ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng các hình thức hay hành vi tiết kiệm phụ thuộc rất nhiều vào lưa tuổi, học vấn, điều kiện văn hóa kinh tế nơi hộ gia đình sinh sống và cả số người phụ thuộc trong hộ Vậy rõ ràng vấn đề nhân khẩu học tác động mạnh mẽ đến hành vi tiết kiệm của hộ gia đình

Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng tích luỹ thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn để bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng Chính vì

nhân khẩu học đến hành vi tiết kiệm của hộ gia đình Việt Nam” làm tên luận văn thạc

sỹ của mình

Mục đích của nghiên cứu là sử dụng phương pháp định lượng để phân tích về cách lựa chọn phương thức tiết kiệm hộ gia đình Việt nam Từ đó đề xuất các chính sách nhằm cải thiện chính sách tài chính vi mô giúp các hộ gia đình có lựa chọn phương thức tiết kiệm một cách hiệu quả hơn

Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu gồm 03 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về hành vi tiết kiệm hộ gia đình

Chương 2 Thực trạng các yếu tố của nhân khẩu học và tiết kiệm hộ gia đình của Việt Nam

Chương 3 Phân tích và đánh giá tác động của nhân khẩu học đến hành vi tiết kiệm

hộ gia đình Việt Nam

Trang 4

Nhân khẩu học là khoa học nghiên cứu thống kê về dân số loài người Đây là một ngành khoa học chung có thể áp dụng cho bất cứ một quần thể dân số nào mà có sự thay đổi đổi theo thời gian và không gian Nó bao gồm những nghiên cứu về kích thước, cấu trúc và sự phân bố của những quần thể dân số này, những thay đổi về không gian và thời gian để đáp ứng với sự sinh đẻ, di cư, già hóa và cái chết

Phân tích nhân khẩu học có thể thể áp dụng cho toàn bộ xã hội hoặc cho các nhóm được xác định bởi các tiêu chí như giáo dục, quốc tịch, tôn giáovà dân tộc Nhân khẩu học có thể được xem như là một phân ngành của xã hội học mặc dù có một số khoa nhân khẩu học riêng biệt Đối tượng của nhân khẩu học thường là đo lường tiến trình phát triển của dân số, tuy nhiên những nghiên cứu rộng hơn về nhân khẩu học cũng bao gồm sự phân tích mối quan hệ giữa những quá trình kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh học có ảnh hưởng đến dân số

Tiết kiệm trong phạm vi hộ gia đình về bản chất là tài chính vi mô.Tiết kiệm của hộ gia đình là một yếu tố quan trọng quyết định đến phúc lợi của hộ và bởi vậy thúc đẩy tiết kiệm ở cấp độ hộ gia đình là quan trọng cho phát triển kinh tế Đặc biệt, tiết kiệm (cùng với tích lũy các tài sản khác) đóng vai trò như một tấm đệm quan trọng chống lại các cú sốc về thu nhập, đặc biệt đối với những nơi mà việc tiếp cận tín dụng là rất khó khăn như nông thôn Việt Nam Hơn nữa, các hạn chế về tiết kiệm, cùng với các hạn chế trong tín dụng, có thể gây trở ngại đối với các đầu tư hiệu quả

Tuy nhiên, một vấn đề chính đối với các nước đang phát triển là các hộ gia đình có thể tiếp cận các sản phẩm tài chính, đặc biệt là các sản phẩm tiền gửi ở mức độ nào Đối với các hộ thu nhập thấp có thể có nhiều rào cản trong việc tiếp cận với các tổ chức tài chính chính thức để gửi tiết kiệm ở các tổ chức tài chính này, bao gồm việc thiếu hiểu biết hoặc thông tin nên tiềm năng dẫn đến những sự thiếu tin tưởng về các mức tiền lãi có thể nhận được(các rào cản bao gồm các yêu cầu về số dư lúc mở tài khoản cao và các mức tiền gửi tối thiểu, những thủ tục không rõ ràng và phức tạp, các chi phí đi cùng với việc đi lại đến các tổ chức và các dịch vụ không thân thiện)

Các hộ nghèo do đó chủ yếu tiết kiệm bằng cách cất tiền mặt ở nhà, một hình thức tiết kiệm không an toàn và không có lãi Trong nhiều trường hợp, các vấn đề về thông tin

Trang 5

và sự tin tưởng có thể được loại trừ một cách hiệu quả ở cấp độ địa phương hơn là việc đòi hỏi phải có các chính sách tốn kém của nhà nước Điều này có thể đạt được thông qua việc thiết lập các nhóm tiết kiệm và tín dụng không chính thức để thay thế cho thị trường chính thức hoặc thông qua việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về các lợi ích của tiết kiệm chính thức và quy trình mở một tài khoản ngân hàng Thị trường bảo hiểm và tín dụng địa phương cũng có thể thay thế thị trường tiết kiệm, đặc biệt đối với các khoản tiết kiệm mang tính dự phòng Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển thực tế tiếp cận với bảo hiểm và tín dụng chính thức thậm chí có thể còn hạn chế hơn nhiều so với tiết kiệm Các nghiên cứu đã có cho thấy việc chia sẻ rủi ro trong các nhóm xã hội thông qua các hình thức chuyển tiền và các khoản vay là một cơ chế quan trọng để thích ứng với rủi

ro đối với người nghèo ở nông thôn, nhưng ít nghiên cứu xem xét vai trò của vốn xã hội trong việc tạo điều kiện thúc đẩy hành vi tiết kiệm chính thức Một số tiến bộ gần đây trong các nghiên cứu đã sử dụng các cách tiếp cận thực nghiệm để tìm kiếm và phát hiện vai trò của sự tin tưởng, của thông tin tài chính và kinh nghiệm xã hội trong việc thực hiện các quyết định tài chính

Nhìn chung, vai trò của các mạng lưới xã hội trong bối cảnh ở các nước đang phát triển đã được chứng minh Các mạng lưới không chính thức hoạt động như một sự thay thế cho các tổ chức chính thức nơi mà các tổ chức chính thức không phát triển Đặc biệt, các mạng lưới không chính thức này có thể tạo điều kiện thuận lợi trong việc chia sẻ thông tin và trao đổi hiệu quả khi nó có thể loại bỏ được tính bất đối xứng của thông tin

đi cùng với sự thiếu tin tưởng và tìm kiếm Một vấn đề chính cần xem xét là làm thế nào

để định nghĩa và xác định được mạng lưới hay nhóm mà có thể hiện vốn xã hội Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm xác định các mối quan hệ giữa các thành viên trong các thôn hoặc các xã thông qua việc thực hiện các cuộc điều tra chi tiết Tuy nhiên, Fafchamps (2006) gợi ý rằng các nhóm bao gồm tất cả mọi người trong cộng đồng có thể là hình thức hiệu quả hơn trong việc loại bỏ các thất bại của thông tin Hơn nữa, để quản lý cộng đồng một cách hiệu quả cũng cần có một môi trường pháp lý tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các chức năng của họ (Bowles và Gintis, 2002) Nói cách khác, cơ cấu tổ chức

Trang 6

cho phép nhà nước, các thị trường và các cộng đồng để quản lý và phản ứng mang tính tập thể là cần thiết

Trong bài viết này có xem xét vai trò của vốn xã hội trong việc sửa chữa các thất bại của thông tin trên các thị trường tài chính ở các cộng đồng nông thôn của Việt Nam Các hộ ở vùng nông thôn có thể không tiếp cận được với các sản phẩm tiết kiệm có lãi do thiếu thông tin hoặc do họ nhìn nhận mức độ rủi ro đi cùng với tiết kiệm chính thức cao hơn dẫn đến các hộ lựa chọn không gửi tiết kiệm hoặc có hình thức tiết kiệm ở mức thấp (ví dụ các hộ giữ tiền mặt ở nhà)

Theo Keynes thì tiết kiệm có nghĩa là phần dôi ra của thu nhập so với các khoản chi cho tiêu dùng Hay nói tóm lại người ta không tiêu dùng hết thu nhập của bản thân

Nguyên nhân của việc nảy sinh hành vi tiết kiệm xuất phát từ yếu tố tâm lý Có 2 lý

do cơ bản: thứ nhất là để đề phòng và ứng phó những rủi ro trong cuộc sống( thiên tai, tai nạn, thất nghiệp, cuộc sống về già, bệnh tật…), thứ hai là để đầu tư vào tương lai, tiếp tục sinh lời từ những đồng tiền tiết kiệm được

Hành vi tiết kiệm của hộ gia đình không chỉ đơn thuần là tiết kiệm được bao nhiêu,

mà còn là tiết kiệm như thế nào để sinh lời nhiều nhất, an toàn nhất, tùy vào tâm lý và nhu cầu cũng như thu nhập và hành vi tiêu dùng của hộ gia đình đó

Các nghiên cứu về hành vi tiết kiệm hộ gia đình chủ yếu được dựa trên 2 lý thuyết

cơ bản: lý thuyết thu nhập thường xuyên được đề xuất bởi Friedman(1957), và lý thuyết vòng đời về tiết kiệm được đề xuất bởi Modigliani và Brumberg (1954) Điểm tiêu biểu trong giả thuyết của Friedman là thu nhập cá nhân gồm hai phần: phần lâu dài và phần

Friedman được nhiều nhà kinh tế chấp nhận và trong nhiều năm giả thuyết thu nhập cố

vô tận, nghĩa là người ta tiết kiệm không chỉ cho chính mình mà còn cho con cháu họ Văn hóa, khoa học giáo dục có những bước tiến mới Tỷ lệ biết chữ của dân số từ

10 tuổi trở lên là 94% tăng 16% so với năm 1989 Cả nước đã phổ cập giáo dục Tiểu học

và khoảng 90% phổ cập THCS Đặc biệt, bình đẳng giới trong giáo dục ngày càng tiến

bộ Theo Trung tâm Internet Việt Nam, tính đến tháng 9/2011, cả nước đã có trên

Trang 7

30.248.846 người sử dụng internet; Tỉ lệ số dân sử dụng Internet: 34.79% Theo Tổng cục thống kê, số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 10/2011 ước đạt 130,7 triệu Trong đó, thuê bao di động đạt 115,2 triệu và thuê bao cố định là 15,5 triệu

Khó có thể nói hết được những thành tựu phát triển của Việt nam trong khoảng 25 năm đổi mới nhưng chúng ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức: 70% dân số nước ta sống ở nông thôn, đa số lao động vẫn làm việc trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Hơn 86% dân số từ 15 tuổi trở lên chưa được đào tạo chuyên môn kĩ thuật Việc chăm sóc sức khỏe nhân dân còn nhiều bất cập, bệnh dịch xuất hiện nhiều hơn, môi trường bị ô nhiễm nặng nề Bối cảnh trên đã tác động sâu sắc đến tình hình dân

số nước ta

Do sớm nhận thức được tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngay từ những năm đầu của thập kỷ 60, Chính phủ Việt nam đã ban hành chính sách dân số đầu tiên – Quyết định 216/CP ngày 26 tháng 12 năm 1961, về việc sinh đẻ có hướng dẫn, với mục đích: “Vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân ta cần được hướng dẫn một cách thích hợp

Sức tác động đồng thời của phát triển và chính sách đã làm cho bức tranh dân số của nước ta có nhiều biến đổi mà các điểm nổi bật là:

(1) Quy mô dân số nước ta rất lớn, mật độ dân số cao nhưng vẫn đang tiếp tục tăng (2) Cơ cấu dân số theo tuổi thay đổi nhanh: Tỷ lệ trẻ em giảm mạnh, xuất hiện cơ cấu dân số vàng và dân số già

(3) Sự mất cân đối giới tính ở trẻ em và trẻ sơ sinh có dấu hiệu nghiêm trọng

(4) Dân số phân bố không đều Di dân diễn ra ngày càng mạnh mẽ Mô hình di dân thay đổi

(5) Tỷ lệ dân đô thị không cao và số lượng tăng nhanh khoảng 10 năm trở lại đây (6) Mức sinh đã giảm mạnh nhưng còn khác nhau giữa các vùng

(7) Sức khỏe sinh sản bị tổn thương và đang đứng trước những thách thức mới, gay gắt, như nạo phá thai, lây nhiễm HIV/AIDS, đặc biệt ở các tỉnh miền núi và cao nguyên

Trang 8

(8) Quy mô gia đình nhỏ dần nhưng phức tạp hơn, dễ “vỡ” hơn và nhiều gia đình đang phải đối mặt với vấn nạn HIV/AIDS

(9) Chất lượng dân số tăng lên nhưng chưa cao

Từ sự suy giảm mức sinh, nhiều gia đình chỉ có một con và hiện tượng trẻ em hư ngày càng phổ biến, liệu có thể nêu giả thiết rằng, ít con, cha mẹ nuông chiều, thiếu sự giáo dục nghiệm khắc, con cái dễ ích kỷ, dễ sinh hư? Câu hỏi này cần được điều tra, kiểm định thêm

Khi trong gia đình có trẻ em hư, trẻ em vào trường giáo dưỡng, bị khởi tố hình sự thì gia đình đâu còn hạnh phúc và sự phát triển bền vững? Rõ ràng, KHHGĐ và kinh tế phát triển dẫn đến số con ít đi, mức sống tăng lên Trong điều kiện đó, nhiệm vụ trọng tâm và khó khăn nhất của các gia đình đã chuyển sang từ nuôi con sang dạy con, từ chăm sóc thể chất sang chăm sóc trí tuệ, tinh thần

Rõ ràng, cần nghiên cứu, phổ biến, triển khai thực hiện Điều 21 PLDS: “Biện pháp nâng cao chất lượng dân số” Xây dựng chính sách dân số hiệu quả nhằm cải thiện nòi giống Việt Nam, thông qua yêu cầu về sức khỏe khi kết hôn, tư vấn, kiểm soát về gen, trước hết đối với nhóm có nguy cơ cao Nên thay mục tiêu “mỗi gia đình có 2 con” sang mục tiêu “2 con chất lượng cao” hay “2 con khỏe mạnh, có giáo dục và được đào tạo” Cần tuyên truyền cho các bậc cha mẹ thấy được ý nghĩa của bước chuyển này và tư vấn cho họ có kỹ năng thực hiện việc nuôi, dạy con cái Đây cần được coi là nhiệm vụ mới của các cộng tác viên dân số

Luận văn sử dụng mô hình Multinomial logit phân tích định lượng các yếu tố trên nhằm xem xét hành vi của hộ đang ưa thích hình thức tiết kiệm nào hơn Đồng thời đưa

ra một số kiến nghị thực tế và khách quan về vần đề hành vi tiết kiệm

Vẫn sử dụng phương pháp ước lượng các hệ số hồi quy như mô hình Logit, mô hình multinomial logit có dạng là các biến phụ thuộc có hơn 2 phạm trù

Trong mô hình multinomial logit, mối quan tâm thường đặt ở tỷ lệ rủi ro tương đối,

ký hiệu bởi rrr Tỷ lệ này cho biết khả năng lựa chọn nhóm m so với khả năng lựa chọn nhóm n với các giá trị cụ thể nào đó của các biến giải thích X Thông thường các giá trị này được lấy ở mức trung bình của các biến số

Trang 9

Bài viết này tập trung nghiên cứu hành vi tiết kiệm của hộ gia đình nông thôn Việt Nam trên khía cạnh: lựa chọn phương thức tiết kiệm thông qua việc sử dụng các các kiến thức về nhân khẩu học và mô hình multinomial logit

Kết quả phân tích cho thấy rằng hộ gia đình đang ưa chuộng các phương thức đầu

tư dở dang hơn phương thức tiết kiệm an toàn là “gửi tiền ngân hàng” Điều này cho

thấy rằng hệ thống kinh tế vĩ mô cũng như hệ thống pháp luật cần hoạt động hiệu quả hơn nữa để khuyến khích người dân tham gia các hình thức tiết kiệm mang lại lợi ích hộ lớn hơn

Cũng thông qua các kết quả định lượng trên, ta có thể thấy các hộ hạt nhân thường

có mức sống tốt hơn các hộ có nhiều thành viên Do đó cần phát triển mạnh mẽ việc xây dưng nhà ở sẽ hỗ trợ tích cực cho xu hướng hạt nhân hóa gia đình

Đối với lứa tuổi lựa chọn hình thức tiết kiệm ta cũng nhận ra ở lứa tuổi trên 35 đến

50, các chủ hộ là người có lựa chọn mang lại lợi ích nhiều hơn cả so với các chủ hộ ở các lứa tuổi còn lại Đặc điểm của chủ hộ ở lứa tuổi này là rất nhạy bén, có kinh nghiệm đưa

ra các quyết định kinh tế chính xác Do đó công tác nâng cao dân trí nhằm nâng cao hiểu biết kinh tế xã hội cho các nhóm tuổi còn lại là rất quan trọng

Kết quả cũng chỉ ra rằng cách hộ dân lựa chọn phương thức tiết kiệm có mối liên

hệ chặt chẽ với các đặc điểm của chủ hộ và của hộ Vì vậy các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc tới những yếu tố này khi ban hành chính sách tài chính vi mô nhằm khuyến khích mọi người sử dụng các phương thức tiết kiệm chính thống

Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy các yếu tố về nhân khẩu học có liên quan chặt chẽ tới lượng tiết kiệm của hộ gia đình Nhân khẩu học Việt Nam sẽ thay đổi đáng kể trong giai đoạn trước mắt vì vậy có tác động không nhỏ tới hành vi tiết kiệm hộ gia đình Do đó cần quan tâm tới các yếu tố này trong việc đưa ra các chính sách về tài chính vi mô cũng như việc dự báo mức tiết kiệm của hộ gia đình

Ngày đăng: 16/01/2021, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w