1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 11

Sinh kế bền vững cho người dân tái định cư công trình Thủy Điện Bản Vẽ

8 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 135,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

người quản lí xã hội tạo điều kiện thuận lợi để họ chú tâm vào việc phát triển cộng đồng; Tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tổ chức bộ máy, năng lực chuyên môn, số lượng cán bộ trự[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Việc xây dựng các dự án thủy điện đã và đang góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy phát triển kinh tế Tính đến hết năm 2013 có 268 dự

án vận hành phát điện, đóng gớp gần 50% công suất và hơn 43% lượng điện cho hệ thống điện Tuy nhiên việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện đã gây ra những tác động tiêu cực về môi trường và xã hội Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2012, ở 12 tỉnh với 21 dự án thủy điện đã phải di dời 75.000 hộ gia đình, gây xáo trộn cuộc sống, sinh kế và đời sống văn hóa của người dân

Công trình Thủy điện Bản Vẽ, một trong những công trình thủy điện lớn nhất nước với sản lượng điện trung bình hàng năm 1084,2 triệu KWh/ năm (kể từ khi đưa vào vận hành cả 2 tổ máy 19/5/2010 đến nay đạt tổng sản lượng điện đạt 5tỷ KWh) Với hồ chứa có diện tích hơn 4.842 ha, Công trình thủy điện Bản Vẽ buộc phải di dời 2.949 hộ với 14.217 nhân khẩu thuộc 33 bản 9 xã vùng lòng hồ Công tác di dân tái định cư được bắt đầu từ năm 2003, đến năm 2010 toàn bộ các hộ tái định cư được bố trí di dời về các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Thanh Chương và một số hộ di dân theo nguyện vọng

Các hộ tái định cư đều đã được bồi thường các thiệt hại về nhà ở, cây cối hoa màu, kiến trúc, mồ mả theo chính sách của nhà nước; Bên cạnh đó còn được hỗ trợ về: di chuyển, làm nhà, đời sống, các thủ tục hành chính, khai hoang, nước sạch, công tác khuyến nông khuyến lâm, xây dựng cơ sở hạ tầng Dù vậy cho đến nay đời sống của đồng bào tại các khu tái định cư vẫn chưa ổn định, chưa thích nghi được với nơi ở mới, cuộc sống còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn lợi từ thiên nhiên Vì vậy phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào di dân tái định cư là cần thiết để ổn định cuộc sống tại nơi ở mới

Xuất phát từ tầm quan trọng của sinh kế bền vững và thực tế đời sống của người

dân tái định cư Công trình Thủy điện Bản Vẽ nên tên đề tài “Sinh kế bền vững cho người dân tái định cư Công trình Thủy điện Bản Vẽ” được chọn làm đề tài nghiên cứu

cho bài luận văn này Mục đích chính của đề tài này là đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tạo lập mới sinh kế bền vững cho đồng bào di dân tái định cư Công trình Thủy điện Bản Vẽ

Trang 2

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu thực trạng đời sống của các hộ di dân tái định

cư Công trình thủy điện Bản Vẽ, từ đó đề xuất một số giải pháp tạo lập mới sinh kế bền vững cho đồng bào di dân tái định cư Công trình Thủy điện Bản Vẽ

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là sinh kế của các hộ gia đình di dân tái định cư Công trình thủy điện Bản Vẽ; bao gồm các nguồn lực sinh kế, hoạt động sinh kế, kết quả sinh kế của họ khi chuyển đến nơi ở mới, các hình thức hỗ trợ sinh kế bền vững

Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sinh kế của các hộ gia đình ở các khu

di dân tái định cư Công trình thủy điện Bản Vẽ thuộc hai xã tái định cư Thanh Sơn và Ngọc Lâm, huyện Tương Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

Luận văn đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp điều tra chọn mẫu, Phương pháp thống kê mô tả, Phương pháp phân tích so sánh, Phương pháp phân tích định tính…

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về sinh kế bền vững cho người dân tái định cư của các

công trình thủy điện

Chương 2 Thực trạng sinh kế của người dân tái định cư thủy điện Bản Vẽ

Chương 3 Phương hướng và giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân

tái định cư công trình thủy điện Bản Vẽ

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI

DÂN TÁI ĐỊNH CƯ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN

Tác giả trình bày giới thiệu chung về sinh kế và sinh kế bền vững, các tiêu chí đánh giá sinh kế bền vững và các nhân tố ảnh hưởng tới sinh kế bền vững

Các nhân tố tác động đến đảm bảo sinh kế bền vững được chia làm năm nhóm nhân tố chính như sau:

- Cơ chế chính sách của nhà nước liên quan đến các yếu tố cấu thành của sinh kế

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

- Điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội

- Trình độ văn hóa và nhận thức của người dân

- Sự tham gia của người dân

Trang 3

Bên cạnh đó luận văn còn nêu ra được kinh nghiệm phát triển sinh kế cho người dân ở các công trình thủy điện như: Công trình thủy điện Hòa Bình, Công trình thủy điện Sơn La, Công trình thủy điện Yaly

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TÁI ĐỊNH

CƯ THỦY ĐIỆN BẢN VẼ

Tác giả trình bày giới thiệu chung về dự án thủy điện Bản Vẽ, nêu được các chính sách tái định cư của Nhà nước riêng cho dự án, đặc điểm các khu tái định cư của công trình và sự cần thiết đảm bảo sinh kế cho người dân di dân tái định cư

Qua các số liệu thu được từ điều tra chọn mẫu và các báo cáo tổng thể của địa phương và các đơn vị liên quan, tác giả đánh giá thực trạng sinh kế của người dân tái định cư Công trình thủy điện Bản Vẽ

Những kết quả đạt được

- Tạo lập mới được các điều kiện sống cho người dân tái định cư Dự án tái định

cư đã tạo lập mới được hoạt động sản xuất, tạo thu nhập cho hộ thông qua các dự án phát triển trồng trọt, chăn nuôi cho các hộ dân tái định cư

- Khuyến khích sự tham gia của chính quyền và nhân dân địa phương: Kế hoạch tổng thể tái định cư đã được xây dựng với sự tham gia của Ủy ban Nhân dân Tỉnh Nghệ

An, Ủy ban Nhân dân các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Thanh Chương và người dân thuộc diện di dân tái định cư Kế hoạch đã được xây dựng theo hướng tôn trọng và duy trì những giá trị văn hóa của đồng bào thiểu số trong khu vực

- Nâng cao mức sống: Các dân tộc thiểu số như Thái, Khơ Mú, Ơ đu, những người

mà trước đây đã sống trong những không gian chật hẹp dọc sông Cả, thì nay được sống trong các làng rộng lớn hơn, mặc dù cơ sở hạ tầng vẫn cần được xây dựng nhiều hơn để

hỗ trợ cho cuộc sống của họ Hơn nữa, phần lớn đồng bào di dân tái định cư đều thỏa mãn với nhà cửa và cơ sở hạ tầng ở các điểm tái định cư là một sự cải thiện đáng kể so với điều kiện sống trước đây Điều này tạo ra sự đồng lòng của người dân địa phương tham gia trong quá trình và hợp tác thông qua các giai đoạn khác nhau

- Vấn đề môi trường đang được nhấn mạnh: Những vấn đề xung quanh sủa khỏe môi trường, nước và điều kiện vệ sinh tại các điểm tái định cư đang được chú trọng cùng

Trang 4

với việc xây nhà, việc làm và tạo thu nhập Những cung cấp cơ bản đối với việc chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được đặt ra Chính quyền địa phương đã lập ra các trạm xá xã và các điểm chăm sóc sức khỏe tại các cộng đồng tiếp nhận dân để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho những người tái định cư

Hạn chế

- Về thu nhập: Khi các nguồn hỗ trợ từ dự án thuỷ điện không còn thì không thể khẳng định mức thu nhập của hộ giữ được ở mức hiện tại Thực tế cho thấy, các nguồn thu nhập từ các hoạt động khôi phục sinh kế cho người dân tái định cư thuỷ điện Bản Vẽ hiện nay là chưa bền vững

Quỹ đất dành cho đồng bào tái định cư phần nhiều là những vùng đất cằn cỗi, bạc màu; đồng bào thiếu đất để trồng lúa nước, trồng cây hoa màu, do đó dẫn đến năng suất cây trồng không cao, gây ảnh hưởng đến thu nhập của người dân

- Nguy cơ tái nghèo: Cùng với việc di chuyển về khu ở mới, đồng bào được Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng; chính sách hỗ trợ sản xuất,

hỗ trợ đời sống Tuy nhiên do phải làm lại từ đầu, mặt khác khi chuyển chỗ ở trong một thời gian dài chưa làm ra sản phẩm cho nên số tiền trên dần dần được đồng bào chi dùng vào việc sinh hoạt, chỉnh trang lại nhà cửa, mua sắm các vật dụng cần thiết Bên cạnh đó, cũng do có tiền trong tay, nhiều hộ gia đình chi tiêu quá mức vào việc ăn uống, mua sắm; thậm chí có hộ gia đình rất nghèo nhưng vẫn mua sắm các vật dụng cao cấp như xe máy,

tủ lạnh; không ít trường hợp còn vướng vào các tệ nạn xã hội do vậy khoản tiền tích lũy của đồng bào sau nhiều năm lao động vất vả cộng với khoản tiền bồi thường, đền bù của Nhà nước cứ lần lượt ra đi trong khi việc tổ chức sản xuất ở nơi ở mới gặp rất nhiều khó khăn Từ tình hình trên, nguy cơ tái nghèo trong đồng bào ở nhiều điểm tái định cư là khó tránh khỏi

- Việc làm: Do môi trường và điều kiện sống thay đổi, phần đông đồng bào phải chuyển từ làm ruộng bậc thang, làm nương rẫy, làm nghề rừng sang sản xuất lúa nước hoặc trồng cây công nghiệp Trong khi đó tiến độ giao đất và xây dựng các công trình phục vụ sản xuất cho đồng bào trong diện tái định cư của các địa phương thường chậm; việc định hướng sản xuất cũng như tổ chức sản xuất cho đồng bào của các cơ quan chức

Trang 5

năng còn lúng túng vì vậy tình trạng trì trệ trong sản xuất và người dân không có việc làm diễn ra ở nhiều điểm tái định cư

- Công tác y tế, giáo dục: Để có thể ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân tái định cư của một dự án thuỷ điện cần phải thực hiện đồng bộ nhiều chính sách xã hội khác nhau, trong đó cần đặc biệt lưu ý đến hệ thống chính sách dành cho đồng bào người dân tộc Trong các chính sách về tái định cư, ngoài các quy định về đầu

tư cơ sở hạ tầng, các khoản hỗ trợ cuộc sống và chuyển đổi nghề nghiệp thì các lĩnh vực như giáo dục, văn hoá, y tế đều không được đề cập

- Phong tục văn hoá: Khi xây dựng nhà ở các khu tái định cư, vấn đề chưa được các cơ quan chức năng quan tâm là phong tục của người dân vùng bị ảnh hưởng Mặc dù không có bất kỳ quy định nào cho việc buộc nhà đầu tư phải tham vấn người dân về kiểu nhà, nhưng do rút kinh nghiệm từ những khu tái định cư của các dự án thuỷ điện khác như Sơn La, Yali nên Ban quản lý, Hội đồng bồi thường huyện Tương Dương và đơn vị

tư vấn thiết kế đã đưa ra 2 kiểu nhà cho người dân tự chọn Một là loại nhà sàn giống với kiểu nhà xây dựng tại khu tái định cư Tân Lập của Sơn La và loại nhà trệt như nhà của người Kinh Do đơn vị thiết kế không có một chuyên gia về dân tộc học nên việc chỉ tham vấn kiểu dáng nhà mà không lưu ý đến những chi tiết vô cùng quan trọng khác là hướng nhà và bố trí nội thất bên trong nhà của người dân tộc nên có rất nhiều nhà tái định

cư đã xây sai hướng và khu vực bàn thờ bố trí không hợp lý

- Xung đột cộng đồng: Khu tái định cư tại huyện Thanh Chương là nơi hầu hết chỉ

có cộng đồng người dân tộc Kinh sinh sống Thực tế cho thấy do phong tục tập quán và phương thức sản xuất khác biệt nên đã có những xung đột cộng đồng giữa người dân tộc Kinh và người dân tộc Thái và Khơ Mú từ vùng lòng hồ di chuyển đến Ngoài những xung đột nhỏ như người dân di cư để trâu bò tự do kiếm ăn, hay khai thác gỗ trong rừng

đã giao cho người dân sở tại khoanh nuôi và bảo vệ thì những xung đột lớn như tranh chấp ruộng đất, tranh chấp khai thác rừng và vấn nạn sử dụng ma tuý là những vấn đề mà chính quyền huyện Thanh Chương phải quan tâm

Qua đó tác giả nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tồn tại này như sau:

Trang 6

- Cơ chế chính sách: Không có một khung chính sách chung cho các dự án thuỷ điện Chính sách đền bù tái định cư chưa tính đến các thiệt hại gián tiếp cũng như vô hình Việc chuẩn bị khu tái định cư chậm Không có quy định về tạo lập mới sinh kế cho người dân tái định cư

- Trình độ nhận thức và ý thức của người dân còn hạn chế

- Năng lực quản lý còn hạn chế

- Sự tham gia của người dân chưa được quan tâm đúng mức

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN

BẢN VẼ

Trước hết tác giả nêu ra một số phương hướng bảo đảm sinh kế bền vững như: Phát triển sinh kế cần được xem xét cả trong ngắn hạn và dài hạn; Phát triển sinh kế là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của người dân; Tính đến một cách toàn diện các yếu tố; Có bước đi phù hợp, tạo điều kiện phát triển ổn định, ổn định để phát triển; Tiếp thu hiện đại kết hợp bảo vệ truyền thống, phát huy các điều kiện và lợi thế phát triển Cùng nhau tái lập không gian sống, không gian văn hóa truyền thống

Tiếp đến tác giả đề cập đến các nhóm giải pháp bảo đảm sinh kế cho người dân tái định cư công trình thủy điện bản vẽ, đó là:

Nhóm giải pháp về tăng cường các nguồn lực sinh kế: như các Giải pháp về nguồn nhân lực; Giải pháp về nguồn lực xã hội; Giải pháp về nguồn lực tự nhiên; Giải pháp về nguồn lực vật chất; Giải pháp về nguồn lực tài chính

Nhóm giải pháp về tăng cường các hoạt động sinh kế: Giải pháp nông nghiệp (Phát triển đề án trồng chè ở hai xã TĐC, tiếp tục thực hiện Dự án Ứng dụng tiến bộ Khoa học công nghệ tạo sinh kế cho người dân tái định cư, phát triển nuôi trồng thủy sản, bảo hiểm rủi ro nông nghiệp); Giải pháp ngành nghề thủ công (Tổ chức các lớp đào tạo nghề như: Dệt thổ cẩm, mây tre đan xuất khẩu; khuyến khích người dân tự phát triển sản xuất)

Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách: Cải thiện hệ thống thông tin, nâng cao khả năng tăng tiếp cận các thể chế chính sách cho người dân; Nâng cao mức lương cho những

Trang 7

người quản lí xã hội tạo điều kiện thuận lợi để họ chú tâm vào việc phát triển cộng đồng; Tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tổ chức bộ máy, năng lực chuyên môn, số lượng cán bộ trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về vấn đề di dân tái định cư và hỗ trợ sinh kế cho người dân tái định cư; Cần có chính sách chia sẻ lợi ích giữa chủ đầu tư với người dân trong diện tái định cư: xem xét trích lập quỹ phục hồi đời sống cho người dân bị ảnh hưởng từ các nguồn thu bán điện

Giải pháp về giải quyết việc làm: Xây dựng chế độ hỗ trợ trọn gói đối với người tái định cư, trong đó bao gồm cả chính sách về việc làm, tài chính, đào tạo, xây dựng các chế độ bảo hiểm xã hội cho người tái định cư Đa dạng hoá các hoạt động phi nông nghiệp trước khi bị mất đất canh tác và không còn việc làm nông nghiệp; cải thiện sự tiếp cận của người tái định cư đối với cơ hội việc làm phi nông nghiệp được trả công và nâng cao cơ hội làm việc phi nông nghiệp

Giải pháp về tuyên truyền vận động : Người dân tái định cư cần phải nhận thức được rằng họ cần phải năng động hơn và có động lực hơn trong việc tìm và huy động các giải pháp nhằm phát triển sinh kế cho chính bản thân họ Họ không thể chỉ trông chờ vào

sự hỗ trợ trực tiếp của chính phủ và những nguồn hỗ trợ, giúp đỡ từ bên ngoài

Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: Hỗ trợ người dân tái định cư thiết kế, xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế bền vững; Tạo thêm nhiều cơ hội cho người dân tái định cư được tham gia vào chương trình tạo lập mới sinh kế; Giải pháp tái định cư cho 3 bản vùng lòng hồ không thuộc diện phải tái định cư theo quy định ban đầu; Khắc phục, sữa chữa các công trình kiến trúc công cộng

KẾT LUẬN

Nhà máy thuỷ điện Bản Vẽ là một dự án thuộc các công trình quan trọng quốc gia,

là dự án có số lượng di dân và tái định cư lớn nhất của Tỉnh Nghệ An Đến nay tổng số

hộ dân phải di dời là 2.949 hộ thuộc 33 bản 9 xã của hai huyện Tương Dương, Kỳ Sơn Chủ yếu là các đồng bào thiểu số như Thái, Ơ Đu, Khơ Mú và một bộ phận nhỏ người Kinh Đa số những hộ dân này sẽ phải di chuyển xa khoảng từ 100 đến 150 km so với nơi

ở cũ và sẽ không còn được tiếp cận với sông Cả là nguồn sinh kế chính của họ

Trang 8

Công tác di dân tái định cư đã đạt được một số thành tựu như: Khuyến khích sự tham gia của chính quyền và nhân dân địa phương; Ổn định mức sống cho người dân tái định cư

Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề cần giải quyết như còn chậm trễ về mặt hành chính, các vấn đề đất đai, sinh kế chưa được thực hiện đầy đủ, các vấn đề quản lý tiền mặt cho đền bù, về với vùng nhận dân tái định cư và về điều kiện sống chưa được quan tâm

Luận văn đề xuất các giải pháp để giải quyết những mặt còn tồn tại của chương trình di dân tái định cư thuỷ điện Bản Vẽ như sau: giải pháp về tăng cường các nguồn lực sinh kế, giải pháp về tăng cường các hoạt động sinh kế, giải pháp về cơ chế chính sách, giải pháp về giải quyết việc làm, giải pháp về tuyên truyền vận động, giải pháp về tổ chức thực hiện

Ngày đăng: 16/01/2021, 14:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w