1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam

11 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 413,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn dữ liệu thứ cấp là các giấy tờ làm việc của KTV liên quan đến thủ tục kiểm toán khoản mục doanh thu tại các khách hàng, các tài liệu sử dụng như sách báo, internet, giáo trình, b[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Luận văn gồm bốn chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam Chương 3: Thực trạng quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam

Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 1 đề cập đến tám vấn đề: Tính cấp thiết của Đề tài; Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến Đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu của

Đề tài; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu Đề tài; Ý nghĩa của

Đề tài nghiên cứu và Kết cấu của Đề tài nghiên cứu

Trong kiểm toán BCTC, doanh thu là một phần hành đặc biệt quan trọng Doanh thu

là một trong những cơ sở để đánh giá tình hình hoạt động của một doanh nghiệp, nó phản ánh năng lực tài chính cũng như tiềm năng phát triển của Công ty trong tương lai Bên cạnh đó phần hành doanh thu cũng chứa đựng nhiều rủi ro có thể xảy ra gian lận và sai sót, nó có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ tới các phần hành khác Sự quan trọng của khoản mục doanh thu khiến việc thiết kế và thực hiện kiểm toán khoản mục doanh thu trở thành một trong những vấn đề quan trọng nhất trong mọi cuộc kiểm toán Trong quá trình hoạt động, các Công ty kiểm toán luôn tìm cách không ngừng hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu tại các khách hàng Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam”

Các mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:

Thứ nhất, tìm hiểu quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam

Thứ hai, đánh giá và đưa ra nhận xét về quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam

Thứ ba, đề xuất những giải pháp nâng cao tính hữu hiệu cho quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC tại Công ty

Trang 2

TNHH Deloitte Việt Nam

Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần trả lời những câu hỏi sau:

Quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC như thế nào?

Công ty TNHH Deloitte Việt Nam đã vận dụng thủ tục kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trên vào kiểm toán BCTC như thế nào? Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện thủ tục kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC của Deloitte Việt Nam?

Cần có những phương hướng giải pháp gì để giải quyết những vấn đề đã được phát hiện trong quá trình nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC của Deloitte?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung vào quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty TNHH Deloitte Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là: đề tài sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp

Nguồn dữ liệu thứ cấp là các giấy tờ làm việc của KTV liên quan đến thủ tục kiểm toán khoản mục doanh thu tại các khách hàng, các tài liệu sử dụng như sách báo, internet, giáo trình, bài viết có liên quan đến đê tài nghiên cứu, hướng dẫn kiểm toán khoản mục doanh thu của Deloitte toàn cầu được dịch từ tiếng anh; Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua 2 phương pháp: Tác giả đã tham gia vào các giai đoạn kiểm toán BCTC tại các khách hàng, theo dõi các bước công việc từ trước khi thực hiện kiểm toán đến kết thúc kiểm toán của trưởng nhóm tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam; phỏng vấn trực tiếp một số các chuyên gia của Deloitte liên quan đến đề tài nghiên cứu Phương pháp xử lý

dữ liệu thông qua tính toán toán học với các thông tin định lượng và phân tích hiện trạng của các tổ chức để đưa ra các phán đoán về bản chất các sự kiện và mối quan hệ giữa các

sự kiện đối với các thông tin định tính

Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn:

Trên phương diện lý luận: Đề tài nghiên cứu hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản

về quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC

Trên phương diện thực tiễn, luận văn chỉ rõ những ưu nhược điểm của quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC do

Trang 3

Công ty Deloitte Việt Nam thực hiện Từ đó, đưa ra những phương hướng giải pháp để hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu do Deloitte Việt Nam thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC tại Việt Nam

Chương 2: Cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và

cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính

Trước hết đề tài đi vào trình bày tổng quan về kiểm toán BCTC, quy trình chung thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, từ đó trình bày về quan hệ giữa kiểm toán doanh thu và kiểm toán các phần hành khác khi thực hiện kiểm toán BCTC

Về quy trình thực hiện kiểm toán BCTC bao gồm:

Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Tìm hiểu, khảo sát về hoạt động kinh doanh và

tổ chức quản lý của công ty, lập kế hoạch kiểm toán (kế hoạch chiến lược, kế hoạch tổng thể và thiết kế chương trình kiểm toán)

Giai đoạn thực hiện kiểm toán: Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát và các thử nghiệm cơ bản (bao gồm thủ tục phân tích, thủ tục kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và các

số dư)

Giai đoạn kết thúc kiểm toán: Xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập BCTC, tổng hợp và đánh giá các bằng chứng kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và thư quản lý (nếu có)

Quan hệ giữa kiểm toán doanh thu và kiểm toán các phần hành khác khi thực hiện kiểm toán BCTC:

Kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có mối quan hệ mật thiết với các phần hành tiền và tương đương tiền, phần hành phải thu khách hàng, phần hành thuế và các khoản phải nộp Nhà Nước Do đó khi thực hiện kiểm toán khoản mục này, KTV cần lưu ý việc kiểm tra, đối chiếu với các phần hành trên để đem lại hiệu quả kiểm toán

Mục đích của kiểm toán Báo cáo tài chính là xác minh và bày tỏ ý kiến về độ tin cậy của các thông tin về tính tuân thủ nguyên tắc Do vậy mục đích chung của kiểm toán Khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là đánh giá xem liệu các số dư tài khoản bị ảnh hưởng bởi Khoản mục này có được trình bày trung thực và phù hợp với các nguyên tắc kế toán được thừa nhận hay không Đồng thời các KTV cũng tiến hành xem xét hệ thống KSNB cho các chức năng của Khoản mục có được doanh nghiệp thiết lập một cách phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thực hiện đúng đắn hay không KTV sẽ đánh giá hệ thống KSNB, đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro

Trang 4

kiểm soát liên quan đến Khoản mục bán hàng và cung cấp dịch vụ cụ thể là các chỉ tiêu trên BCTC Dựa trên đặc điểm của khoản mục và các quy định liên quan đến doanh thu bán hàng thì mục tiêu trên được cụ thể hóa đối với kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng như sau:

Mục tiêu hiện hữu: Doanh thu đã ghi sổ phải thực sự dựa trên các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ có thật

Mục tiêu đầy đủ: Doanh thu bán hàng được ghi nhận đầy đủ

Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Doanh thu thuộc quyền sở hữu của đơn vị và hàng hóa dịch vụ cung cấp thuộc quyền sở hữu của khách hàng

Mục tiêu tính toán, đánh giá: Doanh thu phải được tính giá đúng đắn, ghi nhận chính xác số lượng, đơn giá hàng hóa dịch vụ cung cấp

Mục tiêu phân loại và trình bày: Các nghiệp vụ bán hàng được phân loại và ghi nhận đúng nguyên tắc kế toán, đúng quan hệ đối ứng tài khoản, chính xác về số liệu tương ứng trên chứng từ Nghiệp vụ bán hàng phát sinh đảm bảo được hạch toán kịp thời, đảm bảo phát sinh của kỳ nào phải được ghi sổ kế toán kì ấy

Sau khi đã xác định được mục tiêu cũng như căn cứ để tiến hành kiểm toán, công việc tiếp theo của kiểm toán viên là thu thập các bằng chứng kiểm toán Để đảm bảo cho công việc diễn ra theo đúng tiến độ, khoa học và hiệu quả, kiểm toán viên cần thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán phải thực hiện theo quy trình kiểm toán

Kiểm toán doanh thu bán hàng là một phần hành kiểm toán trong cuộc kiểm toán BCTC Do đó, KTV thực hiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng cũng dựa trên các bước cơ bản như sau:

Lập kế hoạch kiểm toán: Bao gồm các bước cụ thể sau:

Chuẩn bị kiểm toán: Bắt đầu quá trình này, KTV liên lạc với Công ty khách hàng tiềm năng Khi khách hàng đã có yêu cầu kiểm toán, KTV phải đánh giá khả năng có nên chấp nhận yêu cầu đó không Từ đó, Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để triển khai kế hoạch và các chương trình kiểm toán đã xây dựng

Thu thập thông tin cơ sở, thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng Mục đích của công việc này là KTV có thể thu thập hiểu biết về lĩnh vực sản xuất kinh doanh của khách hàng, về hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán… để đánh giá được những rủi ro và mức trọng yếu ban đầu Đồng thời KTV cũng có thể nắm được những quy trình pháp lý có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng

Trang 5

Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro

Tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát

Thiết kế chương trình kiểm toán cho khoản mục doanh thu

Thực hiện kiểm toán bao gồm thực hiện thử nghiệm kiểm soát và các thử nghiệm

cơ bản (gồm 2 loại là thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết)

Thực hiện thử nghiệm kiểm soát: Kết quả các khảo sát về hoạt động KSNB đối với chu kỳ bán hàng và thu tiền sẽ là căn cứ để KTV đưa ra quyết định về mức độ rủi ro kiểm soát đối với hoạt động của chu kỳ để làm cơ sở cho quyết định về phạm vi, nội dung các thủ tục cơ bản cho phù hợp Phương pháp này có được áp dụng hay không và mức độ áp dụng như thế nào phụ thuộc vào rủi ro kiểm soát khi lập kế hoạch được đánh giá là cao hay thấp

Đối với khoản mục doanh thu, thử nghiệm kiểm soát quan tâm đến các cơ sở dẫn liệu: Sự hiện diện, tính hữu hiệu và tính liên tục

Thực hiện thủ tục phân tích:

Các bước của thủ tục phân tích chi tiết đối với kiểm toán khoản mục doanh thu:

o Lập mô hình ước tính doanh thu độc lập với cách tính của khách hang

o Tính mức chênh lệch cho phép

Mức chênh lệch cho phép nên được tính toán trước khi KTV xem xét phân tích số chênh lệch với giá trị ước tính và giá trị ghi sổ của khoản mục được kiểm tra

Thông thường mức chênh lệch cho phép là đủ nhỏ để KTV tìm ra các sai sót có thể coi là trọng yếu

o Đánh giá chênh lệch so với mức chênh lệch cho phép

Nếu chênh lệch < mức chênh lệch cho phép: bỏ qua chênh lệch, không cần kiểm tra thêm;

Nếu chênh lệch > mức chênh lệch cho phép: KTV cần điều tra nguyên nhân chênh lệch hoặc chuyển sang kiểm tra chi tiết

Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết:

Các bước thực hiện kiểm tra chi tiết:

Xác định số dư tài khoản, nghiệp vụ cần kiểm tra: KTV cần chú ý xác định các sai sót tiềm tàng liên quan và xây dựng cấu thành các sai sót; xác định hướng kiểm tra, đánh giá bản chất và các thuộc tính của số dư/ nghiệp vụ cần kiểm tra; từ đó xác định phạm vi kiểm tra, số lượng mẫu và tiến hành chọn mẫu

Trang 6

Kiểm tra chứng từ bổ trợ của các mẫu được chọn:

Từ các mẫu đã chọn, tiến hành kiểm tra các bằng chứng theo các cách thức: quan sát, xác nhận, tính toán lại, kiểm tra chứng từ gốc

Đánh giá kết quả kiểm tra

Mục đích của việc đánh giá kết quả kiểm tra là nhằm xem xét các bằng chứng và kết luận xem liệu các bằng chứng đó đã giúp KTV đạt được độ tin cậy mong muốn đối với các tài khoản, nghiệp vụ được kiểm tra hay chưa

KTV cần xem xét tính thuyết phục và chính xác, đúng đắn của các bằng chứng kiểm toán bổ trợ cho mẫu được chọn

Phát hiện và xử lý các sai sót

Có các loại sai sót: Sai sót có thể định lượng và sai sót không thể định lượng Khi phát hiện ra sai sót, KTV cần xác định nguyên nhân dẫn đến sai sót (cố ý hay vô tình), xem xét tính trọng yếu của sai sót, để từ đó có biện pháp xử lý sai sót cho phù hợp (điều chỉnh hoặc không điều chỉnh)

Khi cần điều chỉnh các sai sót, KTV cần thông báo kịp thời cho kế toán hoặc nhà quản lý doanh nghiệp để doanh nghiệp có thế đưa ra sự giải thích hợp lý cho sai sót đó, dẫn đến việc không cần thiết phải điều chỉnh sai sót đó nữa

Ghi chép vào hồ sơ kiểm toán

Kết thúc kiểm toán: Trong giai đoạn này, KTV tập hợp các kết quả thu được và

thực hiện một số thủ tục bổ sung mang tính chất tổng quát, cụ thể là:

Xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến

Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ

Xem xét về giả định hoạt động liên tục

Trước khi đưa ra báo cáo kiểm toán, KTV xem xét lại toàn bộ quá trình kiểm toán, cân nhắc lại các cơ sở đưa ra ý kiến về BCTC Với khoản mục doanh thu, KTV tiến hành các công việc sau:

Đánh giá sự đầy đủ của các bằng chứng về khoản mục doanh thu

Đánh giá các sai sót chưa điều chỉnh với khoản mục doanh thu

Rà soát lại hồ sơ kiểm toán

Kiểm tra việc trình bày BCTC

Chương 3: Thực trạng quy trình kiểm kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH

Trang 7

Deloitte Việt Nam

Ngày 21/09/1991, Công ty Kiểm toán độc lập đầu tiên của Việt Nam ra đời, Công ty Kiểm toán VACO VACO đã không ngừng mở rộng quy mô và chất lượng khiến cho vị thế và số lượng khách hàng tăng đáng kể Trong vòng 6 năm kể từ ngày thành lập, số lượng khách hàng đã lên đến 700, trải khắp cả nước Tháng 2/2007, VACO từng bước chuyển đổi trở thành thành viên của Deloitte Touche Tohmatsu Tháng 5/2007, VACO chính thức trở thành thành viên của Deloitte Touche Tohmatsu và mang tên mới là Deloitte Việt Nam

3.2 Quy trình Kiểm toán của Công ty TNHH Deloitte Việt Nam

Quy trình kiểm toán theo AS/2:

Được biết đến như một công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam, đồng thời được kế thừa các thành quả của VACO trước đó và được sự trợ giúp của Deloitte Touch Tohmatsu thế giới, Deloitte Việt Nam đã xây dựng được một quy trình kiểm toán hoàn

chỉnh theo AS/2 gồm 6 bước công việc

Bước 1: Những công việc thực hiện trước khi kiểm toán

Bước 2: Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát

Bước 3: Lập kế hoạch kiểm toán cụ thể

Bước 4: Thực hiện kế hoạch kiểm toán

Bước 5: Kết thúc công việc kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán

Bước 6: Công việc thực hiện sau kiểm toán

Thực trạng quy trình kiểm kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam:

- Thiết kế chương trình kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc trước kiểm toán bao gồm các bước: Thu thập thông tin chung

về KH, đánh giá rủi ro kiểm toán và môi trường kiểm soát, Lập và thảo luận các điều khoản trong hợp đồng; Lựa chọn nhóm kiểm toán:

Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát: Tìm hiểu về chu trình bán hàng thu tiền của KH;

Tìm hiểu về một trường tin học; Đánh giá rủi ro kiểm soát và nhận diện các rủi ro; xác lập mức trọng yếu

Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết: Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết cho nghiệp vụ bán

hàng; Lập kế hoạch chi tiết đối với khoản phải thu khách hàng

Thực hiện kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:

Thực hiện thử nghiệm kiểm soát và đánh giá rủi ro kiểm soát: Sau khi đã thu thập

Trang 8

thông tin về chu trình bán hàng – thu tiền của KH cùng những thông tin về các thủ tục kiểm soát được HTKSNB thực hiện đối với chu trình bán hàng – thu tiền, các KTV sẽ tiến hành các thử nghiệm kiểm soát nhằm đánh giá tính hữu hiệu của các thủ tục, xem việc thực hiện các thủ tục có đúng theo thiết kế, mỗi một thủ tục được thực hiện có đạt được các mục tiêu đã đề ra ban đầu hay không

Thực hiện thủ tục phân tích: Việc thực hiện các thủ tục phân tích của các KTV ở

Deloitte còn khá hạn hẹp, đơn giản nên chưa phát huy được hiệu quả của thủ tục phân tích.Hiện nay Deloitte luôn khuyến khích các KTV sử dụng các thủ tục phân tích hơn là

sử dụng các thủ tục kiểm tra chi tiết

Đối với các khoản mục đơn giản các KTV tại Deloitte thường áp dụng thủ tục phân tích ngang bằng cách so sánh giữa tổng số doanh thu trong kì kiểm toán với kì trước nhằm phát hiện ra các khoản biến động bất thường

Phân tích dọc: Xác lập các tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bán hàng và so sánh với

tỷ suất tương ứng của kỳ trước hay của ngành

Trong khi thực hiện các so sánh, KTV cần tìm hiểu và làm rõ các tác động của các yếu tố gây nên sự biến động đương nhiên đối với doanh thu bán hàng, phải thu khách hàng….( biến động hợp lý) và chỉ ra các nghi ngờ về sai phạm có thể xảy ra

Việc so sánh này không chỉ được thực hiện trên tổng thể mà còn được thực hiện đối với từng mặt hàng riêng biệt để có xét đoán chính xác hơn Đồng thời, KTV cũng xem xét quy mô, điều kiện sản xuất của doanh nghiệp, sự biến động giá cả trên thị trường, sự biến động của tỷ giá, cũng như các ảnh hưởng do chính sách của nhà nước Khi tiến hành thủ tục phân tích đối với nghiệp vụ bán hàng ở Công ty X, KTV đều không phát hiện ra những biến động bất thường.Điều này sẽ giúp giảm bớt một số công việc cho các KTV khi tiến hành kiểm tra chi tiết mà vẫn đảm bảo rủi ro ở mức chấp nhận được Có thể nhận thấy khi tiến hành kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền, các KTV Deloitte chủ yếu sử dụng thủ tục phân tích ngang mà ít chú ý đến việc sử dụng thủ tục phân tích dọc hay kết hợp với các phương pháp khác như so sánh với số liệu của ngành, với các công ty khác trong cùng ngành… mà chỉ đơn thuần so sánh trên cơ sở của kỳ trước

Thực hiện kiểm toán đối với nghiệp vụ bán hàng

Tổng hợp hàng bán trong kỳ

Sau khi trưởng nhóm kiểm toán chọn lọc các bước công việc cần thực hiện trong MAP

và gửi đến cho các thành viên tương ứng với khoản mục thành viên đó phụ trách KTV phụ trách phần doanh thu sẽ tiến hành thực hiện công việc đầu tiên là tổng hợp doanh thu trong

Trang 9

kỳ và trình bày trên giấy tờ làm việc Đây là bước công việc mà KTV đi từ thông tin được trình bày trên sổ chi tiết và tổng hợp lại Sau đó KTV phần hành sẽ đối chiếu con số tổng cộng với sổ cái và bảng tổng hợp do Trưởng nhóm kiểm toán lập KTV sẽ ghi chú lại các vấn đề cần lưu ý trong mục “Ghi chú”

Thực hiện ước tính doanh thu

Ước tính là một thủ tục quan trọng được ứng dụng phổ biến và được ưu tiên hơn thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán khoản mục doanh thu – là khoản mục phát sinh số lượng lớn các nghiệp vụ Thủ tục này cho phép KTV tiết kiệm thời gian, công sức và đánh giá kết quả kiểm toán hợp lý hơn Các bước công việc cụ thể:

- Xây dựng mô hình ước tính: doanh thu = số lượng x đơn giá

- Thu thập số liệu từ nguồn độc lập và thực hiện kiểm tra chọn mẫu để đảm bảo nguồn số liệu là đúng đắn

- Tính toán giá trị mức sai sót có thể bỏ qua được giữa số ước tính của KTV và số liệu khách hàng

- So sánh và giải thích nguyên nhân chênh lệch giữa số ước tính của KTV và số liệu của khách hàng

- Đánh giá kết quả kiểm tra

Kiểm tra chi tiết hàng bán trong kỳ

Tiếp theo công việc tổng hợp hàng bán trong kỳ, KTV sẽ sử dụng Giá trị trọng yếu chi tiết, mức rủi ro đã được xác định ở bước lập kế hoạch tổng quát ở trên để tính quy mô mẫu cần chọn để kiểm tra chi tiết

Kiểm tra tính cắt kỳ của doanh thu

Tại Deloitte, các KTV nhận định các sai sót về cắt kỳ đối với tài sản thường theo hướng cắt kỳ muộn và đối với các khoản nợ phải trả thì ngược lại, thường diễn ra theo hướng cắt kỳ sớm Tuy nhiên trong khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, HTK và khoản phải trả luôn có mối quan hệ mật thiết, tồn tại song song với nhau Khi tiến hành kiểm tra sai phạm cắt kỳ sớm đối với doanh thu cũng chính là kiểm tra khả năng cắt kỳ sớm đối với khoản phải thu khách Do vậy các KTV đã thực hiện kiểm tra khả năng cắt kỳ sớm và khả năng cắt kỳ muộn cùng lúc đối với doanh thu

Kết thúc kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:

Tổng hợp các kết quả kiểm toán và thu thập giải trình của BGĐ:

Công việc thực hiện sau kiểm toán

Trang 10

Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu về đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty

TNHH Deloitte Việt Nam

Thảo luận kết quả nghiên cứu:

Ưu điểm:

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán

Tồn tại:

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán

Nguyên nhân:

Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân chủ quan

Sự cần thiết phải hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán báo cáo tài chính:

Kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC tại Deloitte Việt Nam được thực hiện khá tốt và đảm bảo bao quát tương đối các sai phạm, gian lận của đơn vị Tuy nhiên, kiểm toán doanh thu do Deloitte Việt Nam thực hiện cũng còn nhiều hạn chế, nhược điểm Những hạn chế, nhược điểm đó là không thể tránh khỏi bởi công việc kiểm toán được thực hiện đôi khi bị hạn chế về mặt thời gian, phạm vi kiểm toán Kiểm toán khoản mục doanh thu do Deloitte Việt Nam thực hiện cần được hoàn thiện để trở thành một chương trình kiểm toán với các bước công việc đầy đủ, chính xác và thủ tục kiểm toán thích hợp nhằm giúp KTV đưa ra ý kiến xác nhận doanh thu được trình bày trên BCTC có phản ánh một cách trung thực, hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu, tuân thủ chế độ và chuẩn mực kế toán Việt Nam

Kiến nghị đối với quy trình và phương pháp kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng

và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Deloitte VN:

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

Ngày đăng: 16/01/2021, 13:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w