Thông qua việc tiếp cận những lý luận cơ bản về công tác quản lý RRTD của ngân hàng thương mại, nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động quản trị RRTD tại Chi nhánh Lê Chân, luận văn m[r]
Trang 1Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn tiềm ẩn rủi ro với biểu hiện
đa dạng cả về nguyên nhân phát sinh, quy mô tác động và tính chất ảnh hưởng Trong đó, mặc dù được coi là rủi ro riêng lẻ, nhưng rủi ro tín dụng (RRTD) vẫn là rủi ro quan trọng nhất và có thể gây ra tổn thất nghiêm trọng cho các NHTM Nguyên nhân ở chỗ, kể từ khi
ra đời đến nay, hoạt động tín dụng vẫn là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu,
và thu nhập từ tín dụng là nguồn thu nhập chính của các NHTM Quản lý RRTD đã trở thành một yêu cầu nghiêm túc và đóng vai trò quyết định trong sự ổn định và phát triển của không chỉ một NHTM mà cả hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), thị trường tài chính và toàn bộ nền kinh tế Điều này đã được minh chứng rõ ràng trong thực tiễn hoạt động của ngành ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam những năm qua Việc các NHTM chạy theo phát triển nóng, gia tăng quy mô, tìm kiếm lợi nhuận lớn mà chưa quan tâm hoặc quản lý RRTD chặt chẽ đã dẫn đến suy thoái chất lượng tín dụng, giảm uy tín và tiềm lực tài chính của bản thân ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp lên thị trường tiền tệ
Đối với Chi nhánh Lê Chân (Vietinbank Lê Chân), một đơn vị trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank), bằng những nỗ lực vượt bậc của tập thể ban lãnh đạo và người lao động, đã đạt được những thành tích đáng tự hào trong hoạt động kinh doanh Vietinbank Lê Chân nhiều năm liên tục dẫn đầu về quy mô hoạt động so với các chi nhánh Vietinbank tại Hải Phòng Tuy nhiên, từ năm 2011 cho đến nay, hoạt động tín dụng của Vietinbank Lê Chân có dấu hiệu tiêu cực, như: Quy mô tín dụng thu hẹp (dư nợ năm 2013 giảm 67% so với năm 2011), chất lượng tín dụng giảm, tỷ
lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao (năm 2013, nợ xấu chiếm 12,07% tổng dư nợ) trong khi khả năng thu hồi nợ thấp đã ảnh hưởng xấu đến thu nhập và thực hiện kế hoạch kinh doanh Vietinbank giao
Bỏ qua bất lợi khách quan chung của nền kinh tế, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng khó khăn trên là do quản lý RRTD tại Vietinbank Lê Chân chưa được nghiêm túc thực hiện Việc tăng trưởng tín dụng không đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, khi gặp phải điều kiện bất lợi của thị trường và khách hàng, sự cạnh tranh gay gắt của các TCTD khác trên địa bàn đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững và uy tín, thương
Trang 2hiệu của Vietinbank Lê Chân
Để đảm bảo an toàn hoạt động, hiệu quả kinh doanh, hoạt động quản lý RRTD phải được nhìn nhận lại một cách đúng đắn và cần được tăng cường hơn nữa, khẳng định vị trí trong định hướng hoạt động của Vietinbank Lê Chân Nhận thức được điều này và qua kinh nghiệm công tác, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Lê Chân”
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan, luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý RRTD tại NHTM và luận chứng giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý RRTD tại Vietinbank Lê Chân trong điều kiện hiện nay Những mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
Thứ nhất, luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về RRTD và hoạt động quản lý RRTD tại NHTM, những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý RRTD tại NHTM Luận văn nghiên cứu một số mô hình quản lý RRTD hiện đang phổ biến và những điều kiện áp dụng
Thứ hai, trên cơ sở phân tích đánh giá khách quan, toàn diện hoạt động hoạt động quản lý RRTD tại Vietinbank Lê Chân, luận văn chỉ ra những thành công và hạn chế của hoạt động quản lý RRTD của Vietinbank Lê Chân, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng này
Thứ ba, trên cơ sở định hướng hoạt động của Vietinbank Lê Chân, luận văn xây dựng giải pháp cụ thể, thích hợp tăng cường hoạt động quản lý RRTD tại Vietinbank Lê Chân bảo đảm an toàn, hiệu quả, phát triển bền vững
Kết cấu của luận văn
Về cấu trúc, ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn được thể hiện thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 3Công thương Việt Nam - Chi nhánh Lê Chân
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Lê Chân
Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Theo quy định của Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005: “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa
vụ của mình theo cam kết.” Theo Basel II, RRTD hoàn toàn có thể được đo lường thông
qua các mô hình mô phỏng và tổn thất dự kiến (EL) trong hoạt động tín dụng là điểu NHTM phải chấp nhận trên thực tế
Quản lý RRTD là tổng thể các hoạt động hoạch định chính sách quản lý, tổ chức biện pháp thực hiện, giám sát kiểm tra trong hoạt động cấp tín dụng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của NHTM trong mức rủi ro có thể chấp nhận
Mô hình quản lý RRTD là cách thức tổ chức quản lý, đo lường và kiểm soát RRTD
mà các NHTM áp dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở kiểm soát RRTD trong giới hạn cho phép Có hai mô hình là mô hình phân tán và mô hình tập trung
Quản lý RRTD bao gồm 4 nội dung: nhận diện RRTD; đo lường RRTD; phòng
ngừa và ứng phó RRTD; kiểm soát và xử lý tổn thất do RRTD
Nhận diện RRTD được thực hiện từ phía NHTM và khách hàng để nhìn nhận rủi
ro chính mà khách hàng có thể gặp phải là: rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro quản
lý, rủi ro tài chính, rủi ro pháp lý
Về đo lường RRTD, nhiều NHTM và các tổ chức định hạng tín nhiệm sử dụng mô
hình điểm số xếp hạng tín dụng trong quản lý RRTD Mô hình điểm số xếp hạng tín dụng kết hợp giữa việc sử dụng dữ liệu quá khứ của các khách hàng/nhóm khách hàng trong quá trình hoạt động, quá trình SXKD cũng như quan hệ tín dụng với các TCTD để nghiên cứu thống kê
Việc phòng ngừa và ứng phó RRTD bao gồm thiết lập chính sách tín dụng và vận
hành công cụ phòng ngừa và ứng phó RRTD như:
- Đặt ra khẩu vị RRTD
Trang 4- Xây dựng và quản lý danh mục tín dụng
- Quyết định mức ủy quyền phán quyết phê duyệt cấp tín dụng
- Xây dựng tiêu chuẩn cấp tín dụng
- Thiết lập giới hạn tín dụng với khách hàng/nhóm khách hàng
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay
- Phân tán RRTD
- Phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD
- Xử lý tổn thất do RRTD xảy ra
Về kiểm soát RRTD, tất cả các bước, các nghiệp vụ, các khoản tín dụng đều được
kiểm soát để đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả
Để đánh giá quản lý RRTD của NHTM có thể dựa trên hai tiêu chí là:
- Sự phù hợp của mô hình quản lý RRTD
- Sự đầy đủ, toàn diện của nội dung quản lý RRTD
Những nhân tố tác động đến quản lý RRTD của NHTM bao gồm:
Nhân tố chủ quan như: Định hướng quản lý RRTD; Năng lực và phẩm chất cán bộ NHTM; Thông tin trong quản lý RRTD
Nhân tố khách quan như: Tình hình phát triển của nền kinh tế; Quy định chính sách quản lý của nhà nước; Tính trung thực, đầy đủ của thông tin khách hàng
Thực trạng quản lý RRTD tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Lê Chân
Vietinbank Lê Chân trưởng thành từ Phòng giao dịch Lê Chân được thành lập từ năm 1995 trực thuộc Ngân hàng Công thương Hải Phòng Kết quả một số mặt hoạt động chính của Vietinbank Lê Chân cho thấy những khó khăn như quy mô và chất lượng tín dụng giảm, lợi nhuận hoạt động âm
Về mô hình quản lý RRTD: Kể từ cuối năm 2011 trở lại đây, theo định hướng
chuyển đối mô hình tín dụng của Vietinbank, Vietinbank Lê Chân thực hiện chuyển đổi
mô hình tín dụng giai đoạn 1 cùng với việc chuyển đổi mô hình kiểm soát nội bộ
Về nội dung quản lý RRTD:
Nhận diện RRTD: Vietinbank Lê Chân chỉ đạo CBTD nghiên cứu kỹ và lưu ý đến các
Trang 5dấu hiệu RRTD của khách hàng thường xảy ra để nhận diện phát hiện, đề xuất các phương
án xử lý khi khách hàng được giao phụ trách phát sinh các dấu hiệu RRTD
Đo lường RRTD: Trong thời gian từ năm 2009-2013, số lượng khách hàng cũng
như tỷ lệ % khách hàng đảm bảo tiêu chuẩn cấp tín dụng (từ hạng BBB trở lên) ngày càng giảm, tỷ lệ khách hàng thuộc nhóm rủi ro cao (từ hạng CCC trở xuống) cho thấy chất lượng tín dụng của Chi nhánh thực sự giảm sút
Phòng ngừa và ứng phó RRTD:
Dựa trên số liệu thống kê hoạt động tín dụng của Vietinbank Lê Chân trong 05 năm từ năm 2009 đến năm 2013, có thể nhận thấy cơ cấu tín dụng của Chi nhánh có thay đổi đáng kể, từ đó phản ánh chất lượng tín dụng đang đi xuống của Vietinbank Lê Chân trong thời gian qua
Việc thẩm định, tiếp nhận, quản lý TSBĐ còn chưa thực hiện đúng theo quy định của Vietinbank nên còn nhiều tồn tại cần khắc phục
Vietinbank Lê Chân chưa có ý thức rõ rệt về việc phân tán RRTD
Không chỉ đối mặt với tình trạng sụt giảm nhanh về quy mô, mức độ nợ quá hạn,
nợ xấu của Vietinbank cũng tăng rất nhanh
Từ năm 2011 trở đi, nợ quá hạn, nợ xấu tăng, chi dự phòng RRTD tăng nhanh, như năm 2012 (123,4 tỷ đồng) là nguyên nhân chính dẫn đến lợi nhuận của Vietinbank
Lê Chân liên tục giảm và dẫn đến lỗ lũy kế qua các năm
Vietinbank Lê Chân đã thực hiện một số biện pháp xử lý tổn thất khi có RRTD xảy ra: Cho vay duy trì hoạt động, Cơ cấu nợ, Xử lý TSBĐ,…
Kiểm soát RRTD:
Thực tế những năm qua cho thấy, công tác kiểm soát RRTD của Vietinbank Lê Chân mang tính thụ động, chủ yếu là xử lý khi những tổn thất tín dụng đã xảy ra
Kết quả đạt được:
Nhìn chung, trong hoạt động quản lý RRTD, Vietinbank Lê Chân đã có ý thức chấp hành chính sách, quy định của Vietinbank trong việc triển khai mô hình tín dụng, quy trình tín dụng mới, tuân thủ các quy định về giới hạn an toàn Một số chỉ tiêu về cơ cấu tín dụng của Chi nhánh đều trong ngưỡng an toàn cao
Trang 6Hạn chế:
Mô hình quản lý RRTD chưa phù hợp
Nội dung quản lý RRTD thực hiện hình thức, chưa đầy đủ và toàn diện
Chưa nhận diện đầy đủ RRTD: Việc nhận diện RRTD hiện nay được thực hiện tại
bộ phận quan hệ khách hàng và bộ phận quản lý RRTD tại Chi nhánh
Việc thực hiện đo lường RRTD chưa triệt để: Việc xác định các căn cứ chấm điểm chưa được CBTD coi trọng dẫn đến tính trạng nhập cho có, phản ánh không đúng bản chất khách hàng khoản vay còn diễn ra tương đối nhiều
Chưa chủ động phòng ngừa và ứng phó RRTD: Chi nhánh chưa chủ động quy định cụ thể, hướng dẫn sâu quy định cho CBTD thực hiện phù hợp với tính hình thực tế của Chi nhánh
Công tác kiểm soát RRTD chưa phát huy hiệu quả và chưa có chế tài xử phạt Công tác kiểm tra vốn vay, quản lý thông tin đối với khách hàng mới được thực hiện định kỳ, chưa triển khai việc kiểm tra đột xuất Việc quản lý dòng tiền của khách hàng chưa được thực hiện thường xuyên liên tục
Nguyên nhân
Chi nhánh chưa thực hiện nghiêm túc định hướng tín dụng
Thông tin thực hiện quản lý RRTD chưa đầy đủ, hoàn thiện
Nguồn nhân lực thực hiện quản lý RRTD còn nhiều hạn chế
Ngoài ra, các nguyên nhân khách quan như:
Tình hình kinh tế những năm vừa qua còn nhiều biến động
Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ và môi trường kinh tế còn nhiều bất ổn
Tính trung thực của hồ sơ vay vốn của khách hàng còn thấp
Giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Lê Chân
Trên cơ sở định hướng quản lý RRTD tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Chi nhánh Lê Chân, cần thực hiện những nhóm giải pháp:
Tập trung thu hồi dứt điểm nợ quá hạn, nợ xấu, nợ xử lý RRTD:
Chi nhánh cần tổ chức lại bộ máy quản lý và hoàn thiện phương thức quản lý đối
Trang 7với khoản nợ RRTD cao nhưng chưa phát sinh nợ nhóm 2 trở lên và đối với khoản nợ nhóm 2 trở lên cùng với tiếp tục tăng trưởng tín dụng chất lượng, hiệu quả
Nâng cao vai trò định hướng công tác quản lý rủi ro tín dụng:
Chi nhánh cần phải thông suốt văn hóa về rủi RRTD trong hoạt động NHTM, cần phải được chặt chẽ, cụ thể
Cần nâng cao vai trò quản trị điều hành của lãnh đạo Chi nhánh
Chi nhánh cần tích cực triển khai mô hình quản lý RRTD mới
Nâng cao tính tuân thủ chấp hành và có sự phối hợp chặt chẽ với các bộ phận quản
lý RRTD bên ngoài Chi nhánh
Hoàn thiện nhận diện, đo lường và phòng ngừa RRTD, như:
Tăng cường nhận diện RRTD
Thực hiện nghiêm túc việc chấm điểm và xếp hạng khách hàng
Thiết lập chính sách tín dụng mang tính chủ động trong dài hạn
Xây dựng và quản lý thường xuyên danh mục tín dụng trên cơ sở phân tán RRTD hiệu quả
Tiếp nhận và quản lý biện pháp bảo đảm tiền vay
Thực hiện nghiêm túc phân loại nợ và trích lập dự phòng
Vận dụng linh hoạt một số công cụ phân tán RRTD khác
Tăng cường kiểm soát RRTD: Chi nhánh cần nâng cao chất lượng thẩm định, trách
nhiệm trước khi cấp tín dụng, bao gồm: tính pháp lý khoản vay, quy mô vốn vay, thời hạn trả nợ, hiệu quả và khả năng trả nợ đặc biệt với trường hợp qua Hội đồng tín dụng Đồng thời, Chi nhánh cần giám sát đầy đủ trong khi cấp tín dụng và kiểm soát chặt chẽ sau khi cấp tín dụng
Kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện quản lý RRTD
Chú trọng thông tin trong quản lý RRTD
Một số kiến nghị:
Đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam: Xây dựng, điều chỉnh chính
sách phù hợp Thành lập bộ phận nghiên cứu, phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô Đổi mới quy trình cấp tín dụng rõ ràng, nâng cao trách nhiệm Hoàn thiện hệ thống chấm điểm và
Trang 8xếp hạng khách hàng
Đối với Ngân hàng Nhà nước: Thiết lập chính sách quản lý RRTD của NHTM, xây
dựng hệ thống thông tin tín dụng và tăng cường công tác thanh tra, giám sát
Đối với Chính phủ: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý
vững chắc, đổi mới môi trường kinh tế, môi trường đầu tư lành mạnh để khuyến khích SXKD Phát triển đồng bộ hệ thống thông tin, kiểm toán, kế toán, quản lý rủi ro theo chuẩn mực quốc tế,…
Kết luận
Thời gian qua, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói chung và Chi nhánh
Lê Chân nói riêng đã thể hiện nỗ lực, quyết tâm cao và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ đưa hoạt động kinh doanh của chi nhánh phát triển Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, Chi nhánh Lê Chân vẫn còn phát triển chủ yếu theo số lượng mà chưa thể hiện
sự quan tâm đúng mức đến công tác quản lý RRTD Mặt khác, điều kiện kinh doanh thường xuyên thay đổi luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường khiến cho hiệu quả và chất lượng của hoạt động tín dụng của Chi nhánh có chiều hướng đi xuống
Thông qua việc tiếp cận những lý luận cơ bản về công tác quản lý RRTD của ngân hàng thương mại, nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động quản trị RRTD tại Chi nhánh Lê Chân, luận văn mạnh dạn xây dựng hệ thống giải pháp quản lý RRTD cụ thể, phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển trong giai đoạn sắp tới của Chi nhánh