Để đạt mục tiêu nghiên cứu, luận án đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm: (i) tổng quan tài liệu và tham vấn ý kiến chuyên gia để đề xuất các chỉ tiêu nhằ[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
-NGÔ THANH MAI
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế (Phân bố Lực lượng Sản xuất và Phân vùng Kinh tế)
Mã số: 62340410
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS LÊ THU HOA
2 PGS.TS NGUYỄN DANH SƠN
Phản biện 1: PGS.TS Vũ Cương
Đại học Kinh tế Quốc dân
Phản biện 2: TS Trần Thị Thu Hà
Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Vào hồi: 16h30’ ngày 27 tháng 04 năm 2018
Có thế tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 3Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã ban hành chủ trương xã hội hóa (XHH) trong công tác Bảo vệ Môi trường (BVMT) Hà Nội là một trong số những địa phương đi đầu ủng hộ chủ trương đúng đắn này với sự ra đời của hàng chục mô hình dựa vào sáng kiến của cộng đồng Các chương trình XHH đã chia sẻ trách nhiệm QLCTRSHĐT với Chính phủ
và đem lại những kết quả tích cực ban đầu Tuy vậy, trải qua một thời gian vận hành, các mô hình QLDVCĐ đã bộc lộ những bất cập về tài chính, về cơ chế quản lý, về thể chế chính sách Việc phân tích và đánh giá các mô hình này là điều cần thiết để Chính phủ có các giải pháp vận hành, hoàn thiện mô hình theo hướng bền vững
2 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn nói chung và quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nói riêng
2.1 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn đô thị
Trên bình diện lớn, các nghiên cứu về QLCTR tập trung vào hai mảng nội dung chính Cụ thể như sau:
Một là, nhóm các nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng chỉ số để đánh giá
tính bền vững của mô hình QLCTRĐT Nỗ lực đáng ghi nhận ở nội dung này là nghiên cứu của UN - Habitat (2010) Đây là nghiên cứu khởi điểm để Scheinberg (2010), Wilson và các cộng sự (2015) tiếp tục hoàn thiện và cho ra đời "Bộ chỉ số nền tảng cho QLCTR tổng hợp ở các thành phố"
Hai là, có khá nhiều các nghiên cứu đánh giá sự sẵn lòng chi trả (WTP -
Willingness To Pay) của hộ gia đình để cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT Chuen-Khee
and Othman (2010); Wang và cộng sự (2011) đã ước lượng sự ưa thích của hộ gia đình
khi cải thiện dịch vụ xử lý CTR ở Malaysia và ở Trung Quốc Nguyễn Văn Song và các cộng sự (2011) đã xác định WTP cho hoạt động thu gom và xử lý rác thải ở huyện Gia
Lâm, Hà Nội Nghiên cứu tương tự được Nkansah (2015) và Mya (2016) tiến hành sự
WTP của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống quản lý CTR đô thị ở Tema Metropolis, Ghana và ở Yangon, Myanmar
2.2 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn sinh hoạt dựa vào cộng đồng
Nội dung đầu tiên mà các nghiên cứu về QLCTR dựa vào cộng đồng thường
xem xét là sự tham gia của cộng đồng Kết quả nghiên cứu của David W Richardson (2003) và Mazinyo (2009) cho thấy thành công của mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng là sự tham gia tích cực và chủ động của cộng đồng Bằng các nghiên cứu ở
Trang 4Putrajaya, Malaysia, Nur Khaliesah Abdul Malika và cộng sự (2015) đã đưa ra một số giải pháp để tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình tái chế chất thải rắn (CTR) Yohanis Birhanu và cộng sự (2015) nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng nhằm cải thiện các hoạt động quản lý chất thải (QLCT) ở thị trấn Jigjiga, bang Somalia, Ethiopia
Nội dung thứ hai các nghiên cứu về QLCTR dựa vào cộng đồng thường đề
cập là tổng kết các bài học kinh nghiệm được rút ra từ các mô hình áp dụng QLCTR dựa vào cộng đồng Anschütz (1996) đã phân tích và tổng kết 5 nhóm khó khăn/thách thức khi triển khai mô hình này ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ Mansoor Ali và cộng
sự (1999) đã tổng kết các bài học kinh nghiệm dựa trên việc tìm hiểu các sáng kiến dựa vào cộng đồng cho dịch vụ thu gom CTR ở các nước đang phát triển Premakumara (2012) đã phân tích bài học thực tế và những đổi mới trong QLCTR dựa vào cộng đồng tại Cebu, Philippin
2.3.Nhận xét chung về các nghiên cứu QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng và khoảng trống nghiên cứu cho luận án
Về nội dung nghiên cứu chính: (i) Đa số các nghiên cứu tập trung đánh giá mức
độ tham gia của cộng đồng trong mô hình QLDVCĐ; (ii) Nhận diện và phân tích một
số khó khăn dưới góc độ xã hội và quản lý khi triển khai mô hình này
phương pháp phân tích định tính, phân tích thống kê, mô tả, so sánh
Hạn chế và khoảng trống nghiên cứu cho luận án:
- Về nội dung nghiên cứu: (i) Chưa có một bộ chỉ tiêu được xây dựng và đề xuất làm
căn cứ đánh giá tính bền vững của mô hình QLDVCĐ; (ii) Đối với Hà Nội, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích một vài góc độ riêng biệt mà chưa đánh giá toàn bộ
mô hình để đưa ra giải pháp vận hành mô hình theo hướng bền vững
- Về phương pháp nghiên cứu: Chưa có nghiên cứu nào sử dụng phương pháp
xây dựng chỉ tiêu, tính toán chỉ số bền vững để phân tích tính bền vững của mô hình
Với những khoảng trống nêu trên, luận án "Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô
thị dựa vào cộng đồng: nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội" được tác giả kỳ
vọng sẽ lấp được một phần khoảng trống qua nghiên cứu này
3 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án là phân tích tính bền vững của mô
hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng và các khuyến nghị chính sách để hoàn thiện
mô hình theo hướng bền vững
Luận án hướng tới việc giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau: (i) Đề xuất các
chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng; (ii)
Áp dụng các chỉ tiêu để phân tích tính bền vững của mô hình; (iii) Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững cho các trường hợp nghiên cứu điển hình ở Hà Nội; (iv) Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng; (v) Khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội theo hướng bền vững
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nếu xem xét dưới quy trình quản lý, đối tượng nghiên cứu của luận án là các phân đoạn trong quy trình Nếu xem xét dưới góc độ các chủ thể tham gia thì đối tượng nghiên cứu là người sử dụng và cung cấp dịch vụ CTRSHĐT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội được lựa chọn là bối cảnh nghiên cứu
chính với các điều tra, khảo sát hai (2) mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
Phạm vi thời gian: Luận án lựa chọn thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2006 -
2016 Đây là thời gian trước và sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính nên mô hình QLDVCĐ được áp dụng khá phổ biến
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu CTRSHĐT có nguồn thải từ hộ
gia đình vì đây là nguồn thải chiếm 2/3 tổng lượng CTRSHĐT
- Trong luận án, tác giả chú trọng nghiên cứu phân đoạn thu gom vì đây là phân đoạn mà cộng đồng thể hiện sự tham gia một cách mạnh mẽ nhất Mặc dù vậy, luận án vẫn đem lại cách nhìn tổng quát về phân đoạn khác trong hệ thống QLCTRSHĐT như vận chuyển, xử lý và tái chế
5 Kết cấu của Luận án
- Gồm 4 chương và phần mở đầu, kết luận, tham khảo và phụ lục
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng; Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng:
nghiên cứu điển hình ở Thành phố Hà Nội;
Chương 4: Định hướng và khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình
QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Đề tài đã đề xuất một bộ 17 chỉ tiêu trên 4 khía cạnh: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế/quản lý để phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng Định lượng tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng bằng cách thử nghiệm tính toán chỉ số tổng hợp bền vững
6.2 Những phát hiện và đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
Kết quả nghiên cứu cho thấy: 2 mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội đều đạt sự bền vững cao trên khía cạnh môi trường, nhưng lại kém bền vững trên khía cạnh kinh tế Kết quả điều tra 504 hộ gia đình ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn đã xác định WTP bình quân của các hộ lần lượt là 35000 đồng/ hộ/ tháng và 25000 đồng/ hộ/ tháng Đây có thể coi là nguồn tài chính tiềm năng để chia sẻ gánh nặng ngân sách cho chính phủ khi cung ứng dịch vụ công.Thông qua các dự báo về bối cảnh mới cho Hà Nội, các khuyến nghị chính sách được tác giả đề xuất để hoàn thiện mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
1.1.1 Khái niệm và ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt đô thị: CTRSH (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người
Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị: CTRSHĐT ảnh hưởng đến môi
trường nước; đất; không khí thông qua sự phân hủy các vi sinh vật Ngoài ra, sức khỏe của lao động thu gom, của cộng đồng dân cư bị phơi nhiễm cũng chịu tác động tiềm ẩn
do thành phần phức tạp của CTRSHĐT
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của Quản lý chất thải rắn đô thị
Khái niệm về Quản lý chất thải rắn đô thị: Theo Peter Schübeler (1996),
"QLCTRĐT bao gồm các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế, phục hồi tài nguyên và xử lý CTR ở các đô thị."
thị, đặc biệt là người có thu nhập thấp; (ii) Cải thiện chất lượng môi trường; (iii) Hỗ trợ phát triển kinh tế đô thị
1.1.3 Lý thuyết Quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững
QLCTR tổng hợp và bền vững là "sự kết hợp các bộ phận riêng lẻ để tạo thành
hệ thống tốt; là sự kết hợp những phân đoạn riêng biệt để tạo nên một chu trình quản lý hoàn chỉnh; là sự kết hợp mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, văn hóa để tạo vốn xã hội cho sự phát triển bền vững" (Arnold van de
Klundert và cộng sự, 2001)
1.2 Quản lý dựa vào cộng đồng
1.2.1 Khái niệm cộng đồng và quản lý dựa vào cộng đồng
Khái niệm cộng đồng: "Cộng đồng là một tập hợp công dân cư trú trong một khu
vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích chung, cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống và sự phát triển của cộng đồng" (tổng hợp của tác giả)
Khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng: "Là hình thức quản lý có sự tham gia
trực tiếp của cộng đồng và được hưởng lợi từ việc tham gia quản lý đó" (Phạm Phương
Nam, 2015)
1.2.2 Đặc điểm và điều kiện của quản lý dựa vào cộng đồng
Đặc điểm của quản lý dựa vào cộng đồng: Thứ nhất, cộng đồng có trách nhiệm quản lý; quyền kiểm soát và quyền đưa ra các quyết định; Thứ hai, sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện của địa phương; Thứ ba, cộng đồng đóng vai trò trung tâm và chủ động trong quản lý
Trang 7 Điều kiện để quản lý dựa vào cộng đồng: Một là, cộng đồng cần được biết tham gia quản lý, giám sát việc gì; được hưởng lợi gì, phải đối diện với những chi phí, rủi ro gì;
Hai là, cộng đồng cần được tự quản, không bị áp đặt; Ba là, cộng đồng tự nguyện, đồng
thuận trong giải quyết các vấn đề
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình quản lý dựa vào cộng đồng
Theo Steve và Khan (2004), có 3 nhóm yếu tố cơ bản tác động đến sự thành công của
mô hình QLDVCĐ, bao gồm: (i) nhóm các yếu tố liên quan đến đặc trưng của cộng đồng; (ii) nhóm yếu tố liên quan đến sự tham gia của cộng đồng, và (iii) nhóm yếu tố liên quan đến khả năng tạo sức ép của cộng đồng hay cảm nhận về sự sở hữu Bên cạnh đó, kết quả thực tiễn cho thấy một số yếu tố khác cũng có tác động đáng kể đến hoạt động của mô hình QLDVCĐ, như: chính sách của chính phủ, năng lực của cộng đồng Như vậy, để tạo nền tảng thành công cho mô hình QLCDVCĐ, sự hiện diện của 4 nhóm yếu tố này rất quan trọng
1.2.4 Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng: là sự tham gia vào một công việc, một chính sách,
một dự án mà các tổ chức, cơ quan đề ra nhằm đem lại lợi ích chung cho mọi người
Theo (M.Dower, 2004) sự tham gia của cộng đồng được chia thành 5 cấp độ: (i) Cấp
độ được thông báo/cung cấp thông tin; (ii) Cấp độ được tham vấn/hỏi ý kiến; (iii) Cấp
độ cùng thực hiện; (iv) Cấp độ đối tác; và (v) Cấp độ chủ trì
1.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng
1.3.1 Khái niệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng
Theo Anschutz (1996), QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng "là một tình huống mà
trong đó cộng đồng có trách nhiệm, quyền lực và thực hiện các hoạt động quản lý và duy trì dịch vụ CTRSHĐT để đem lại lợi ích cho các thành viên"
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng
Mô hình Doanh nghiệp tư nhân hợp tác với Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs):
Mô hình hợp tác giữa Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs) và Chính quyền địa
phương
Mô hình kết hợp giữa tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức dựa vào cộng
đồng(CBOs)
1.3.3 Lý thuyết về hành động tập thể
điều kiện cần thiết để đạt một giải pháp cho vấn đề QLCTR Ostrom (1992) đã đề xuất
7 nguyên tắc để tổ chức hoạt động của cộng đồng một cách lâu dài và hiệu quả Các nguyên tắc bao gồm: (1) Xác định ranh giới của cộng đồng; (2) Có sự tương thích giữa những quy định về chiếm dụng và cung cấp với những điều kiện cụ thể tại địa phương; (3) Lựa chọn tập thể; (4) Giám sát; (5) Chế tài; (6) Cơ chế giải quyết xung đột; (7) Công nhận tối thiểu về các quyền
Trang 8CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Quy trình thực hiện luận án
Hình 2.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu Luận án
Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả
2.2 Nguồn dữ liệu
2.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính: Một là, các Báo cáo Môi
trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT), của Công ty Môi trường và
đô thị (URENCO) Hà Nội, của Sở xây dựng Hà Nội và phòng TN&MT huyện Quốc
Oai Hai là, Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS), Niên giám thống kê Hà Nội
và các báo cáo kinh tế xã hội cấp phường/xã
Hạn chế của nguồn dữ liệu thứ cấp: Số liệu thống kê về CTR và CTRSHĐT rất
ít, không đồng nhất, không liên tục theo thời gian và không gian
2.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp
Giải thích lựa chọn TP Hà Nội là nghiên cứu điển hình: Một là, Hà Nội là đô thị triển khai sớm và có chính sách hỗ trợ để các mô hình QLDVCĐ đi vào thực tế; Hai
là, các mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội mang đầy đủ những đặc
trưng của mô hình QLDVCĐ mà Bộ TN&à MT đã tổng kết
Mô tả địa bàn khảo sát số liệu: Hai mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
ở Nhân Chính và Sài Sơn được tác giả lựa chọn và tiến hành điều tra, cụ thể: (i) Nhân Chính có quy mô 40722 người, tương ứng với 10.773 hộ dân; và (ii) Sài Sơn có số dân
là 20067 người, chia thành 5725 hộ
Đối tượng cung cấp thông tin: (i) Hộ gia đình; (ii) Thành viên của HTX Thành
Công và tổ/ đội thu gom ở xã Sài Sơn; (iii) Đại diện UBND phường Nhân Chính và UBND xã Sài Sơn
Các chỉ tiêu để đánh giá tính bền vững của
mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng
Lý thuyết về hành động
tập thể
Hai nghiên cứu điển hình
Khía cạnh Kinh tế
Khía cạnh
Xã hội
Khía cạnh Môi trường
Khía cạnh Thể chế/Quản lý
Trang 9 Quy mô của mẫu điều tra: Căn cứ vào công thức tính mẫu của Robert Slovin,
mẫu điều tra lần lượt được xác định là 385 và 197 hộ ở Nhân Chính và Sài Sơn Sau khi sàng lọc các phiếu trả lời, số phiếu hợp lệ ở 2 địa bàn là 358 và 146 phiếu
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.3.1 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSH dựa vào cộng đồng
Hình 2.2: Quy trình xây dựng chỉ tiêu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Sau khi tiến hành xây dựng chỉ tiêu theo quy trình như trên, bộ chỉ tiêu để phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng được trình bày trong bảng dưới đây
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa
vào cộng đồng
1 Các chỉ tiêu trên khía cạnh kinh tế
1 Tỷ lệ thu hồi chi phí của
dịch vụ CTRSHĐT
Tỷ lệ giữa doanh thu với tổng chi phí của dịch vụ CTRSHĐT
2 Tỷ lệ hộ gia đình nộp phí Tỷ lệ phần trăm hộ đóng phí so với tổng số hộ được hưởng
dịch vụ quản lý CTRSH
3 Sự phù hợp của mức phí - Mức độ hài lòng của hộ gia đình về mức phí;
- Mức độ hài lòng của hộ gia đình về phương thức thu phí
2 Các chỉ tiêu trên khía cạnh xã hội
1 Cơ hội việc làm cho người
dân địa phương
Tỷ lệ phần trăm người dân địa phương tham gia lao động tại đơn vị cung cấp dịch vụ QLCTRSHĐT
2 Thu nhập của lao động địa
phương ở đơn vị cung ứng dịch
- Sự hài lòng của hộ gia đình về tần suất thu gom CTRSHĐT;
- Sự hài lòng của hộ gia đình về thời điểm thu gom CTRSHĐT;
- Sự hài lòng của hộ gia đình về khối lượng CTRSHĐT được thu gom
Xác định mục tiêu xây dựng chỉ tiêu
Tổng quan tài liệu và lựa chọn khung lý thuyết để phân tích mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
Đề xuất ma trận chỉ tiêu và tham vấn ý kiến
của các chuyên gia
Lựa chọn và đề xuất các chỉ tiêu
Trang 10Chỉ tiêu Định nghĩa
4 Sự tham gia của cộng đồng
trong QLCTRSHĐT
- Mức độ tham gia của cộng đồng ở cấp độ được thông báo;
- Mức độ tham gia của cộng đồng ở cấp độ được tham vấn;
- Mức độ tham gia của cộng đồng ở cấp độ cùng thảo luận;
- Mức độ tham gia của cộng đồng ở cấp độ đối tác;
- Mức độ tham gia của cộng đồng ở cấp độ chủ trì
4 Các chỉ tiêu trên khía cạnh thể chế/quản lý
1 Tính minh bạch Có văn bản quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của Tổ chức
dựa vào cộng đồng (CBOs), cộng đồng và chính quyền địa phương
2 Giám sát - Có cơ chế giám sát được thể hiện bằng văn bản cho phép cộng
đồng, CBOs và chính quyền địa phương có quyền giám sát chất lượng dịch vụ QLCTRSHĐT;
- Có cơ chế giám sát được thể hiện bằng văn bản cho phép chính quyền địa phương, CBOs và nhà cung cấp dịch vụ có quyền giám sát sự tuân thủ của hộ gia đình
3 Chế tài - Chế tài được thể hiện bằng văn bản áp dụng cho hộ gia đình
không tuân thủ các quy định QLCTRSHĐT trong cộng đồng;
- Chế tài được thể hiện bằng văn bản áp dụng cho nhà cung cấp dịch vụ không tuân thủ các quy định về cung ứng dịch vụ QLCTRSHĐT trong cộng đồng
4 Cơ chế giải quyết xung đột Có thể tự giải quyết xung đột giữa nhà cung cấp dịch vụ và cộng đồng
5 Hệ thống văn bản hỗ trợ hoạt
động quản lý dựa vào cộng đồng
- Có luật/ chiến lược quốc gia về QLCTR
- Có luật/ văn bản của Chính phủ khuyến khích sự tham gia của DN tư nhân và cộng đồng trong BVMT
- Có cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm trực tiếp việc thực hiện, phối hợp, giải quyết các vấn đề về QLCTR
- Có luật/ văn bản về QLCTR dựa vào cộng đồng
Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để tính toán thử nghiệm chỉ số tổng
Trang 11hợp bền vững cho mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
tính toán như sau (Nguyễn Minh Thu, 2013)
I = Giá trị thực tế - Giá trị tối thiểu
Giá trị tối đa - Giá trị tối thiểu
Bước 2: Tính toán các chỉ số thành phần: Theo Nguyễn Minh Thu (2013),
phương pháp tính số bình quân là phù hợp để tính chỉ số thành phần Trong nghiên cứu này, do các chỉ tiêu định tính được gán giá trị 0 hoặc 1 nên công thức bình quân cộng giản đơn được lựa chọn để tính toán các chỉ số thành phần
hài hòa trên 4 lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường - thể chế/ quản lý, chỉ số tổng hợp bền vững được tính theo công thức bình quân cộng giản đơn như sau:
4
QL MT XH KT TH
I I I I
2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) được tác giả lựa chọn sử dụng để lượng
hóa WTP của hộ gia đình cho những thay đổi tích cực trong dịch vụ QLCTRSHĐT trên
2 địa bàn nghiên cứu Quy trình đánh giá được thực hiện như sau:
(1)Thảo luận nhóm: Thứ nhất, thảo luận với đại diện chính quyền địa phương và
nhà cung cấp dịch vụ để nhận diện những khó khăn và giải pháp nâng cao chất lượng
QLCTRSHĐT Thứ hai, thảo luận với 8 hộ gia đình trên từng địa bàn nghiên cứu Nội
dung thảo luận là nhận thức của hộ về ảnh hưởng của CTRSHĐT; đánh giá chất lượng
dịch vụ CTRSHĐT ở địa phương, và đưa ra các mức chi trả ban đầu
(2) Điều tra thử: Tác giả đã tiến hành nghiên cứu điều tra thử 30 hộ ở 2 địa bàn
để hoàn thiện bảng hỏi và các mức chi trả trong thẻ thanh toán
(3) Mô hình và các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả: mô hình Tobit
được sử dụng dưới dạng sau:
WTPi = β0 + β1Lnthunhap + β2Gioitinhi + β3Giaoduci + β4Quymoi + β5Tuoii +ei
Trong đó, WTP là biến phụ thuộc bị giới hạn trong khoảng từ 0 đến 13; i là chỉ số của
hộ gia đình thứ i trong mẫu khảo sát; Lnthunhap là logarit thu nhập của hộ; Gioitinh là biến
giả nhận giá trị bằng 1 nếu người trả lời là nữ, bằng 0 nếu là nam; Giaoduc là số năm đi học của người trả lời, Quymo là số người trong hộ, Tuoi là tuổi của người trả lời
(4) Các giả thiết nghiên cứu: Một là, yếu tố có ảnh hưởng thuận chiều đến WTP, bao gồm: Thu nhập, Giáo dục, Tuổi, Giới tính Hai là, yếu tố có ảnh hưởng ngược chiều đến WTP như Qui mô hộ gia đình
2.3.5 Các phương pháp phân tích và xử lý số liệu khác
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để phân tích hiện trạng hệ thống
QLCTRSHĐT ở Hà Nội: Dựa vào khung lý thuyết về QLCT tổng hợp và bền vững, tác
giả tiến hành phân tích phân đoạn trong hệ thống quản lý
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để phân tích tính bền vững của mô hình
Trang 12QLCTRSH dựa vào cộng đồng qua 2 nghiên cứu điển hình ở Hà Nội: Dựa trên các chỉ
tiêu được xây dựng và sử dụng thang đo Likert, tính bền vững của mô hình QLCTRSH dựa vào cộng đồng ở Hà Nội được phân tích cụ thể
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đề xuất khuyến nghị chính sách
nhằm hoàn thiện mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng: phương pháp SWOT được
sử dụng cho 2 mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng; từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách để hoàn thiện mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Thành phố Hà Nội
3.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Thủ đô Hà Nội là đã và đang có sự thay đổi ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội Trong giai đoạn 2006 - 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm của Hà Nội đạt xấp xỉ 9.5%/năm, gấp 1.5 lần so với cả nước Sự tăng trưởng của Hà Nội bắt nguồn từ lợi ích của chương trình hiện đại hóa nội bộ nền kinh tế; và chủ trương mở cửa của chính quyền Thành phố
3.1.2 Đô thị hóa và gia tăng dân số
Tính đến năm 2010, tỷ lệ đô thị hóa ở Hà Nội là 30 - 32% và dự báo sẽ đạt tỷ lệ
55 - 65% vào năm 2020 Dân số Hà Nội gia tăng nhanh chóng với quy mô dân số từ 2 triệu người năm 1990 lên 7,5 triệu người năm 2016, tăng 3,7 lần
3.2 Hiện trạng Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Hà Nội
3.2.1 Khối lượng phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Theo URENCO, khối lượng CTRSH phát sinh tại Hà Nội giai đoạn 2006 – 2016
đã gia tăng cả về quy mô và bình quân đầu người Về quy mô, trong năm 2016, khối lượng CTRSHĐT ở Thành phố là xấp xỉ 2,5 triệu tấn/năm, tương đương với lượng thải
6400 tấn/ngày, tăng 3 lần so với so với năm 2006
3.2.2 Thành phần Chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Do quá trình đô thị hoá, điều kiện và thói quen sinh hoạt thay đổi, thành phần CTRSHĐT tại Hà Nội có tỉ lệ khác nhau, trong đó chiếm tỷ lệ lớn nhất là thành phần hữu cơ
3.2.3 Hiện trạng phân đoạn thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Các chủ thể thực hiện phân đoạn thu gom: (1) URENCO Hà Nội Đây là chủ
thể có lợi thế cạnh tranh lớn; tuy nhiên, năng lực thực thi của URENCO vẫn chưa đáp
ứng nhu cầu về dịch vụ CTRSHĐT trong toàn Thành phố; Hai là, các công ty tư nhân,
HTX dịch vụ môi trường Đây là nhóm chủ thể tiềm năng hứa hẹn sẽ đem lại những
thay đổi trong thị trường cung ứng dịch vụ thu gom CTRSHĐT; Ba là tổ/đội thu gom
Chủ thể này là được hình thành dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng; tuy nhiên, do
không có sự đầu tư về vốn và kỹ thuật nên tính chuyên nghiệp, năng suất lao động của chủ thể này không cao
Kết quả thực hiện phân đoạn thu gom: Theo Sở xây dựng Hà Nội, năm 2016,
Trang 13tỷ lệ thu gom CTRSH trên toàn TP Hà Nội đạt 82.5%, tương ứng với khối lượng thu là
5.300 tấn/ngày Đây là tỷ lệ tương đối cao so với mặt bằng chung của cả nước
3.2.4 Hiện trạng phân đoạn vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Vận chuyển là hoạt động có tính liên kết dọc với phân đoạn thu gom, đem lại nguồn thu ổn định cho nhà cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, dịch vụ vận chuyển không hề
dễ dàng do chủ thể phải có đủ phương tiện kỹ thuật và nhân lực với trình độ nhất định
để cung ứng Hiện tại, 2 chủ thể đầu tiên (URENCO và DN/HTX) là có đủ khả năng để thực hiện phân đoạn này
3.2.5 Hiện trạng phân đoạn xử lý CTRSHĐT
đoạn này khá ít tạo ra thị trường độc quyền nhóm do đầu tư cho khu xử lý đòi hỏi nguồn tài chính lớn, công nghệ hiện đại và nhân lực có trình độ Hiện tại, trên địa bàn thành phố, URENCO vẫn là chủ thể chính tham gia phân đoạn này
Kết quả thực hiện phân đoạn xử lý: Tiêu hủy ở các bãi rác lộ thiên hoặc các
bãi rác có kiểm soát là những hình thức xử lý rác thải chủ yếu ở Hà Nội Hiện nay, Thành phố 8 khu xử lý CTRSH, trong đó có 5 bãi chôn lấp và 3 nhà máy xử lý chủ yếu do Nhà nước đầu tư
3.2.6 Hiện trạng phân đoạn tái chế CTRSHĐT
Chủ thể tham gia: Hộ gia đình và những người "đồng nát", cơ sở thu mua
"đồng nát" là chủ thể chính trong phân đoạn này
Kết quả hoạt động của phân đoạn tái chế: Theo Ferguson (1998) tỷ lệ
CTRSHĐT được tái chế ở Hà Nội xấp xỉ 20% Hà Nội được đánh giá có tiềm năng để gia tăng tỷ lệ này
3.3 Mô hình quản lý CTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội
3.3.1 Xã hội hóa - chủ trương đặt nền tảng cho các sáng kiến dựa vào cộng đồng
Xã hội hóa (XHH) được nhìn nhận là một quan điểm hoạch định hệ thống chính sách xã hội đúng đắn của Chính phủ Việt Nam Tiền đề đầu tiên đặt nền tảng cho chủ trương XHH là Chỉ thị số 36 - CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Kể từ đó, các sáng kiến dựa vào cộng đồng được hình thành và lan tỏa ở nhiều đô thị Theo Bộ TN&MT (2009), có 2 mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng đang thực hiện khá hiệu quả ở Hà Nội nói riêng và các đô thị nói chung: (i) Mô hình cộng đồng kết hợp với Công ty/HTX dịch vụ môi trường; và (ii) Mô hình cộng đồng tự tổ chức với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương
3.3.2 Hiện trạng mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở
Hà Nội
Chính, quận Thanh uân, Hà Nội