Pháp lu ật về phát triển văn hoá Việt Nam là hệ th ống các quy phạm pháp luật về xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn c ầu hoá; xây dựng đời sống văn hoá, nếp[r]
Trang 1Bài 9
PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐẤT
NƯỚC (4 tiết )
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Về kiến thức:
- Hiểu được vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững của đất nước
- Trình bày được một số nội dung cơ bản của pháp luật trong quá trình phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh
vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh
II NỘI DUNG :
1 Trọng tâm:
- Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững của đất nước
- Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển kinh tế
- Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển văn hoá
- Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển xã hội
- Một số nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường
- Một số nội dung cơ bản của pháp luật về quốc phòng, an ninh
2 Một số kiến thức cần lưu ý :
Về khái niệm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm được hiểu dưới nhiều khía cạnh và theo các cách tiếp cận khác nhau Cho đến nay , chưa có một khái niệm khoa học chính
thức và đầy đủ về phát triển bền vững Theo cách hiểu chung nhất thì phát triển bền vững là sự phát triển và tăng trưởng liên tục trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường , bảo vệ quốc phòng và an ninh Như vậy, sự phát
triển bền vững của đất nước cũng phải căn cứ vào các tiêu chí :
Tăng trưởng liên tục vàvững chắc về kinh tế (nhất là các ngành kinh tế then chốt)
;
Có sự đảm bảo và phát triển tiến bộ về văn hóa, xã hội :
+ Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 2+ Phát triển tiến bộ và công bằng xã hội, thông qua việc giải quyết vấn đề dân số
và việc làm, xóa đói giảm nghèo , vấn đề bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân
dân, vấn đề xóa bỏ tệ nạn xã hội, vấn đề đạo đức và lối sống ;
Môi trường được bảo vệ ;
Có nền quốc phòng và an ninh vững chắc
Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế đất nước
Vai trò của pháp luật được thể hiện trước hết ở vai trò trong việc phát triển kinh
tế đất nước, có thể là động lực thúc đẩy hoặc là công cụ cản trở (kìm hãm) sự phát triển kinh tế Cụ thể là:
Những quy định đảm bảo quyền tự do kinh doanh sẽ khơi dậy tiềm năng to lớn trong xã hội
Những quy định ưu đãi về thuế sẽ thu hút đầu tư vào những nghề có cho quốc kế dân sinh, vào những địa bàn khó khăn nhằm cân đối cơ cấu kinh tế giữa các vùng, miền trong cả nước
Trước đây, những quy định về thủ tục cấp giấy phép kinh doanh phải qua nhiều
cơ quan giải quyết, gây khó khăn cho người xin giấy phép, làm nản lòng người muốn kinh doanh, là một trong các nguyên nhân cản trở sản xuất, kinh doanh
III PHƯƠNG PHÁP :
Thuyết trình, đàm thoại, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…
IV PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
- Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to
- Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu
V TIẾN TRÌNH LÊN LỚP :
1 Ổn định tổ chức lớp :
2 Kiểm tra bài cũ:
3 Giảng bài mới:
Một đất nước phát triển bền vững là một đất nước có sự tăng trưởng liên tục và vững chắc về kinh tế, có sự bảo đảm ổn định và phát triển về văn hoá, xã hội, có môi trường được bảo vệ và cải thiện, có nền quốc phòng và an ninh vững chắc Trong sự phát triển bền vững của đất nước, phát luật có vai trò như thế nào? Bao gồm những nội dung gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong nội dung bài học này
Phần làm việc của Thầy và Trò Nội dung chính của bài học Tiết 1:
GV giảng về quá trình hình thành thuật ngữ
“Phát triển bền vững”:
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên
được đề cập tới vào năm 1987, trong Báo cáo
của Uỷ ban quốc tế về môi trường sống và phát
triển (Uỷ ban Brunđtlan) để biểu thị sự phát
Trang 3triển xã hội mà không phá huỷ những điều kiện
tự nhiên của tồn tại loài người Thuật ngữ này
xuất hiện như một sự phản ứng đối với cuộc
khủng hoảng toàn cầu của thời đại: sự phát triển kinh tế gắn liền với sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái nghiêm trọng môi trường sống và sự phân cực giàu – nghèo trên thế giới Theo định nghĩa được đưa ra trong bản Báo cáo nêu trên, “đây là một sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của thời hiện đại nhưng không đe doạ khả năng đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai”
Hội nghị lần thứ hai của Liên hợp quốc về môi trường sống và phát triển (Rio de Janero, 1992)
đã đưa ra một định nghĩa về phát triển bền vững như sau : “Phát triển bền vững là một sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của thời hiện
tại nhưng không đe doạ khả năng đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai”
Định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra
từ Hội nghị Rio de Janero năm 1992 về môi trường sống và phát triển chỉ trực tiếp đề cập
tới phương diện sinh thái đã tỏ ra chật hẹp, không đáp ứng được những thay đổi của thời đại, cần phải dược mở rộng cho phù hợp với
những vấn đề, những thách thức đang đặt ra cho toàn nhân loại Xuất phát từ cách tư duy như vậy, những năm gần đây, trong các công trình nghiên cứu của mình, đa số các tác giả đều chỉ ra rằng, ngoài định hướng sinh thái, phát triển bền vững còn bao gồm cả các định hướng kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh, quốc phòng
Khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm
2005 của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa :
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các
thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ
Trang 4xã hội và bảo vệ môi trường” Tuy nhiên, vì
được đưa ra trong Luật Bảo vệ môi trường nên
định nghĩa này cũng chưa đề cập hết đầy đủ nội
hàm của khái niệm phát triển bền vững
Cho đến nay, định nghĩa phát triển bền vững
được hiểu dưới nhiều khía cạnh và theo các
cách tiếp cận khác nhau Theo cách hiểu chung
nhất, Phát triển bền vững là sự tăng trưởng và
phát triển liên tục, vững chắc trong các lĩnh vực
kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo
vệ quốc phòng và an ninh
Có các tiêu chí để xác định một đất nước có
phát triển bền vững hay không, đó là:
- Tăng trưởng kinh tế liên tục và vững chắc ;
- Có sự phát triển tiến bộ về văn hoá, xã hội ;
- Môi trường được bảo vệ và phát triển ;
- Có nền quốc phòng và an ninh vững chắc
Trong các yếu tố cần thiết đòi hỏi cho phát triển
bền vững đất nước, tăng trưởng kinh tế được
coi là yếu tố cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định
để phát triển bền vững, bởi lẽ :
- Tăng trưởng kinh tế đảm bảo nguồn tài chính
cần thiết để bảo vệ môi trường ;
- Tăng trưởng kinh tế chi phối tiến bộ kỹ thuật,
là cái cần thiết để thay thế các nguồn tài nguyên
thiên nhiên bằng tiền và các công nghệ ;
- Chỉ có tăng trưởng kinh tế mới có thể xoá bỏ
được nghèo nàn, bảo đảm phát triển tiến bộ về
văn hoá, xã hội ;
- Tăng trưởng kinh tế bảo đảm điều kiện vật
chất cho nền quốc phòng, an ninh
Đơn vị kiến thức 1:
Vai trò c ủa pháp luật đối với sự phát triển
b ền vững của đất nước
Mức độ kiến thức:
HS hiểu vai trò của pháp luật đối với sự phát
triển bền vững của đất nước trong từng lĩnh vực
Th ứ nhất, pháp luật tạo ra khung pháp lí cần
thiết của họat động kinh doanh
Th ứ hai, pháp luật ghi nhận và bảo đảm
quyền tự do kinh doanh của công dân để khơi
dậy và phát huy mọi tiềm năng trong xã hội
Trang 5GV đặt vấn đề:
Có người cho rằng, để phát triển kinh tế đất
nước thì chỉ cần có các chủ trương, chính sách
là đủ mà không cần phải có pháp luật Em có
đồng ý với ý kiến này không?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Để tăng trưởng kinh tế đất nước, Nhà nước sử
dụng nhiều công cu, phương tiện, biện pháp
khác nhau, trong đó, pháp luật được coi là
phương tiện không thể thiếu Chủ trương, chính
sách là cần thiết nhưng không đủ để tạo ra một
trật tự pháp lí cần thiết cho hoạt động kinh
doanh Không có pháp luật, sản xuất - kinh
doanh sẽ hỗn loạn, không ổn định và tất nhiên
kinh tế đất nước sẽ không thể tăng trưởng được
GV giảng về cách thức mà pháp luật tác động
đến sự tăng trưởng kinh tế đất nước:
+ Muốn phát triển và tăng trưởng kinh tế cần
phải có hệ thống pháp luật về kinh tế có khả
năng kích thích sản xuất, khơi dậy mọi tiềm
năng của xã hội:
Trước hết, phải tạo ra khung pháp lý cần thiết
cần thiết cho hoạt động kinh doanh
Pháp luật phải đảm bảo quyền tự do kinh
doanh của công dân
Pháp luật về thuế phải tạo ra động lực kích
thích và thúc đẩy kinh doanh phát triển
+ Nền kinh tế phát triển và tăng trưởng liên tục,
ổn định là tiền đề cho sự phát triển bền vững
của đất nước
Trong lĩnh vực văn hóa
GV hỏi:
Em có cho rằng, trong quá trình xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam cần phải có
pháp luật không?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Pháp luật góp phần phát huy giá trị văn hoá
dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng
Th ứ ba, thông qua các quy định về thuế,
pháp luật khuyến khích các họat động kinh doanh trong những ngành, nghề có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong lĩnh vực văn hóa
Pháp lu ật giữ vai trò chủ đạo, tác động tích
c ực vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam
Những quy định của pháp luật về văn hóa góp phần phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân lọai, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam
Trang 6đạo đức và lối sống tốt đẹp của con người Việt
Nam, nhờ đó mà góp phần tích cực vào phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước Không có
pháp luật, nền văn hoá đất nước khó có thể
được bảo vệ và phát triển theo đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
giải quyết được các vấn đề xã hội hay không?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Không có pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng ai
muốn làm gì thì làm, bất bình đẳng xã hội sẽ
gia tăng, người nghèo không được chăm sóc, tệ
nạn xã hội không được đẩy lùi
Thông qua các quy định của pháp luật mà vấn
đề dân số , việc làm, vấn đề tệ nạn xã hội,
…được từng bước giải quyết
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
GV hỏi :
Những năm qua, phát triển kinh tế – xã hội ở
nước ta còn dựa nhiều vào việc khai thác tài
nguyên thiên nhiên; công nghệ sản xuất còn sử
dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu, thải ra
nhiều chất độc gây ô nhiễm môi trường Theo
em, để ngăn ngừa, hạn chế tình trạng này, Nhà
nước cần phải làm gì?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Trước thực trạng việc khai thác tài nguyên
thiên nhiên, việc sản xuất kinh doanh ở nước ta
là một trong những nguyên nhân làm suy thoái
môi trường, Nhà nước cần phải áp dụng nhiều
biện pháp, trong đó, quan trọng nhất là các biện
pháp phát triển khoa học-công nghệ:
+ Đầu tư để từng bước thay đổi trang thiết bị kĩ
thuật lạc hậu thải ra nhiều chất khí và bụi gây ô
Trong lĩnh vực xã hội
Pháp lu ật có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát tri ển trong lĩnh vực xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề
xã hội phát sinh, cần phải được giải quyết: dân số và việc làm; bất bình đẳng xã hội và tăng nhanh khoảng cách giàu nghèo; bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; xóa đói
giảm nghèo; tệ nạn xã hội; đạo đức và lối
sống; v.v…
Các vấn đề xã hội trên đây chỉ có thể được
giải quyết một cách hiệu quả nhất thông qua các quy định của pháp luật
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Các quy định của pháp luật có tác dụng ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu của con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo vệ có hiệu qua môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Trang 7nhiễm môi trường
+ Đầu tư phát triển mạnh khoa học - công nghệ
nhằm tạo ra các sản phẩm có thể thay thế sản
phẩm khai thác từ tự nhiên
Để thực hiện các biện pháp này thì đòi hỏi phải
đầu tư rất nhiều vốn cho công tác nghiên cứu và
mua các trang thiết bị kĩ thuật tiên tiến, hiện
đại
GV hỏi tiếp:
Các em cho biết vai trò của pháp luật đối với
lĩnh vực bảo vệ môi trường?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Bảo vệ môi trường (thông qua những quy định
của pháp luật về những hành vi bị nghiêm cấm
và những hành vi được khuyến khích) là điều
kiện vô cùng quan trọng để phát triển bền vững
Pháp luật trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh
là điều kiện không thể thiếu trong phát triển bền
vững
GV tổng hợp nội dung vai trò của pháp luật đối
với phát triển bền vững đất nước:
Nói đến vai trò của pháp luật đối với sự phát
triển bền vững của đất nước là nói đến sự tác
động của pháp luật trong quá trình phát triển
của các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo
vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh
Pháp luật có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển bền vững đất nước nói chung, trong từng
lĩnh vực cụ thể nói riêng, đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế và bảo vệ môi trường
Trong lĩnh vực kinh tế, vai trò của pháp luật
được thể hiện ở sự tác động của pháp luật đến
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh
Pháp luật là cơ sở để tăng cường tiềm lực
quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, thông qua đó tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm cho đất nước có đầy đủ điều kiện để phát triển bền vững
Trang 8quá trình tăng trưởng kinh tế đất nước Nếu
pháp luật có các quy định thông thoáng, tạo
điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân,
động viên và thu hút họ vào công việc kinh
doanh thì sẽ khơi dậy và phát huy mọi tiềm
năng to lớn trong xã hội, làm cho mọi tổ chức,
cá nhân có điều kiện kinh doanh có hiệu quả,
làm giàu cho mình và cho xã hội ; từ đó kinh tế
tăng trưởng, là điều kiện để phát triển bền vững
đất nước
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, vai trò của
pháp luật được thể hiện ở các quy định về trách
nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và trong đời sống
cộng đồng phải khai thác, sử dụng tài nguyên
môi trường đúng các tiêu chuẩn, quy định ; hạn
chế đến mức tối đa tác động xấu của con người
vào quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên Pháp luật hành chính, hình sự có
các chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi vi
phạm từ phía cá nhân, tổ chức trong quá trình
khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường và
bảo vệ môi trường Thông qua các quy định của
pháp luật về bảo vệ môi trường cùng các quy
định xử phạt vi phạm hành chính và xử lý vi
phạm hình sự, pháp luật góp phần quan trọng
vào việc bảo vệ môi trường, là một trong các
yếu tố cấu thành cần thiết của phát triển bền
vững
Tiết 3:
Đơn vị kiến thức 2:
M ột số nội dung cơ bản của phát luật trong
s ự phát triển bền vững của đất nước
Quy ền tự do kinh doanh của công dân
Quyền tự do kinh doanh được qui định trong Hiến pháp và các luật về kinh doanh
T ự do kinh doanh có nghĩa là mọi công dân khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định đều
có quy ền tiến hành họat động kinh doanh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ch ấp nhận đăng kí kinh doanh
Trang 9GV sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp đàm thoại
Quy ền tự do kinh doanh của công dân
GV yêu cầu HS đọc Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 ( trong SGK)
GV hỏi:
- Kinh doanh là gì?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh
lợi
Theo định nghĩa này, kinh doanh bao gồm ba
loại hoạt động khác nhau là hoạt động sản xuất,
hoạt động tiêu thụ sản phẩm và hoạt động dịch
vụ Cả ba loại hình hoạt động này đều nhằm
mục đích chính là thu lợi nhuận
Vậy, các hoạt động kinh doanh được biểu hiện như thế nào?
Hoạt động sản xuất là hoạt động quan trọng
nhất của con người Trong khái niệm kinh doanh, hoạt động này được hiểu là quá trình các
tổ chức, cá nhân lao động để tạo ra sản phẩm
vật chất cho xã hội Các sản phẩm do sản xuất
tạo ra được biểu hiện ở nhiều thể loại khác nhau, bao gồm các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp… Ví dụ: sản xuất xe đạp,
xe máy, quần áo, đồ dùng gia đình
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là hoạt động thương mại nhằm thực hiện lưu thông hàng hoá
từ người sản xuất đến người tiêu dùng Thông qua hoạt động này, sản phẩm từ các cơ sở sản
xuất được chuyển đến người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức Ví dụ: buôn bán vật tư, hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng văn phòng phẩm
Hoạt động dịch vụ là hoạt động phục vụ cho nhu cầu của sinh hoạt của con người, như hoạt
Trang 10động kinh doanh khách sạn, hoạt động sửa chữa
máy móc, thiết bị, hoạt động tư vấn và giới
thiệu việc làm…
GV hỏi tiếp
- Các em hiểu thế nào là quyền tự do kinh
doanh của công dân?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Quyền tự do kinh doanh có nghĩa là, mọi công
dân khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định
đều có quyền tiến hành hoạt động kinh doanh
sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
chấp nhận đăng ký kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh được hiểu theo các nội
dung sau đây:
Một là, công dân có quyền tự do lựa chọn và
quyết định kinh doanh mặt hàng nào Ví dụ: sản
xuất đồ điện, hàng tiêu dùng, hoặc buôn bán
hàng may mặc
Hai là, công dân có quyền quyết định quy mô
kinh doanh lớn hay nhỏ, mức vốn đầu tư nhiều
hay ít, địa bàn kinh doanh rộng hay hẹp
Ba là, công dân có quyền lựa chọn và quyết
định hình thức tổ chức kinh doanh Ví dụ : có
thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hoặc có
thể không cần thành lập công ty mà chỉ cần
đăng ký kinh doanh hình thức cá nhân hoặc hộ
gia đình
GV kết luận:
Quyền tự do kinh doanh của công dân là quyền
của mỗi người được tự do tiến hành hoạt động
kinh doanh theo quy định của pháp luật, tự do
lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, tự
do lựa chọn quy mô và hình thức tổ chức kinh
doanh
Nghĩa vụ của công dân khi thực hiện các
h ọat động kinh doanh
GV hỏi:
Theo em, theo quy định của pháp luật, nhà
Nghĩa vụ của công dân khi thực hiện các
h ọat động kinh doanh
Kinh doanh đúng ngành, nghề ghi trong giấy phép kinh doanh và những ngành, nghề mà pháp luật không cấm;
- Nộp thuế đầy đủ theo quy định của pháp
luật;
- Bảo vệ môi trường;
- Tuân thủ các quy định về quốc phòng, an ninh, trật tự, an tòan xã hội v.v…
Trang 11kinh doanh phải thực hiện những nghĩa vụ gì?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
+ Mọi doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và
thực hiện kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm Ví dụ : Cấm kinh doanh các ngành, nghề gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền
thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong
mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân + Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký + Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật quy định phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề, thì doanh nghiệp đó chỉ được đăng ký kinh doanh khi có
đủ vốn hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định
của pháp luật (ví dụ: mở cửa hàng bán thuốc tân dược, thuốc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp)
+ Nộp thuế đầy đủ và đúng hạn theo quy định
của pháp luật
+ Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm :
Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
•Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường
đã được phê duyệt, bản cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường
Phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường từ các hoạt động của mình
Khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động
của mình gây ra
Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường cho người lao động trong cơ sở
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình
Nộp thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường
GV nêu câu hỏi:
Trong các nghĩa vụ khi kinh doanh, nghĩa vụ
Trang 12từ thu nhập mà tổ chức, cá nhân theo quy định
của pháp luật phải nộp vào ngân sách nhà nước Thuế ra đời và tồn tại cùng với nhà nước, là khoản thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nhà nước không thể tồn tại được nếu không có nguồn thu từ thuế
Thuế dùng để chi cho những công việc chung
của Nhà nước và xã hội : chi trả lương cho cán
bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ; dùng vào việc xây dựng nền quốc phòng và bảo đảm
an ninh, trật tự xã hội ; để xây dựng công trình
kết cấu hạ tầng của đất nước như đường giao thông, sân bay, bến cảng ; để đầu tư tài chính thúc đẩy các ngành kinh tế quốc dân, tập trung đầu tư xây dựng những ngành kinh tế mũi
nhọn, những vùng kinh tế trọng điểm ; để phát triển giáo dục - đào tạo như xây dựng trường
học, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, thực hiện đổi
mới nội dung chương trình các môn học ; để
giải quyết các vấn đề văn hoá - xã hội
xuất nông nghiệp có thu nhập thấp
Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay ở nước ta được thực hiện theo Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 Theo Luật này, có các mức
Trang 13thuế khác nhau đối với các cơ sở kinh doanh như sau :
• Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
cơ sở kinh doanh là 28%
• Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
cơ sở kinh doanh tiến hành tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác
từ 28 đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ
sở kinh doanh
+ Thuế giá trị gia tăng : Là khoản thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Ví dụ: Hàng hoá được sản xuất ra từ nhà máy, nếu được bán trên thị trường thì phải
nộp thuế giá trị gia tăng, tức là giá bán trên thị trường lần đầu Nếu bán tiếp làn sau với giá cao hơn thì phần chênh lệch giữa giá bán lần đầu
với giá bán lần sau là giá phải tính thuế
Mức thuế suất được quy định riêng đối với từng
loại hàng hoá, dịch vụ, tuỳ thuộc vào tính chất,
vị trí, vai trò của hàng háo ấy đối với nền kinh
tế quốc dân và đời sống xã hội nước ta Theo
Luật Thuế Giá trị gia tăng, mức thuế suất dao động từ 0% đến 10%
Đối tượng phải nộp thuế giá trị gia tăng là tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế và tổ chức, cá nhân khác nhập
khẩu hàng hoá
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt : Là thuế thu đối với
một số mặt hàng hoá và dịch vụ đặc biệt được
sản xuất trong nước hoặc được nhập khẩu vào
Việt Nam
Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trước hết
là hàng hoá, bao gồm : thuốc lá điếu, xì gà, rượu, bia, ô tô dưới 24 chỗ ngồi, xăng các loại, điều hoà nhiệt độ có công suất từ 90.000 BTU
trở xuống, bài lá, vàng mã, hàng mã ngoài hàng hoá, đối tượng phải chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt còn bao gồm các loại dịch vụ như : kinh doanh vũ trường, mát xa, ka-ra-ô-kê, kinh