Nhà nước có trách nhiệm tạo ra các điều kiện c ần thiết bảo đảm cho công dân có khả năng th ực thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và hoàn thi[r]
Trang 1Bài 3
CÔNG DÂN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
( 1 tiết )
I M ỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Về kiến thức:
- Biết được thế nào là bình đẳng trước pháp luật
- Hiểu được thế nào là công dân được bình đẳng trước pháp luật về quyền, nghĩa
vụ và trách nhiệm pháp lí
- Nêu được trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân
trước pháp luật
2.V ề kiõ năng:
- Biết phân tích, đánh giá đúng việc thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong
thực tế
- Lấy được ví dụ chứng minh mọi công dân đều bình đẳng trong việc hưởng
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lí theo qui định của pháp luật
3.V ề thái độ:
- Có niềm tin đối với pháp luật, đối với Nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân bình đẳng trước pháp luật
II N ỘI DUNG :
1 Tr ọng tâm:
- Thế nào là bình đẳng trước pháp luật?
- Công dân bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lí
- Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật
2 M ột số kiến thức cần lưu ý :
- Nhiệm vụ cần thiết là phải lảm rõ thế nào là quyền bình đẳng Đây là cơ sở, tiền
đề cho nhiều nội dung của bài 4 và 5
Trang 2Trong khoa học pháp lí, “Quyền” là khả năng của mỗi cơng dân được tự do lựa
chọn hành động Khả năng đĩ được Nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp và bảo đảm
thực hiện bằng quyền lực của Nhà nước
Quyền bình đẳng là khả năng của cơng dân cĩ quyền và nghĩa vụ như nhau trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Khả năng đĩ khơng bị phân biệt đối xử vì lí do giống nịi, thành phần giai cấp, địa vị dân tộc, tơn giáo
Tuy vậy, quyền bình đẳng khơng cĩ nghĩa là mọi người đều cĩ quyền bằng nhau, ngang nhau trong mọi trường hợp Nghĩa là quyền bình đẳng phải được hiểu là: trong cùng một điều kiện và hồn cảnh như nhau, cơng dân được đối xử như nhau, cĩ quyền
và nghĩa vụ như nhau theo quy định của pháp luật
- Cơ sở để đảm bảo cho cơng dân được bình đẳng trước pháp luật về quyền, nghĩa
vụ và trách nhiệm pháp lí:
+ Quyền và nghĩa vụ của cơng dân do Hiến pháp và luật quy định, khơng một tổ
chức, cá nhân nào được phép tuỳ tiện đặt ra quyền và nghĩa vụ trái với Hiến pháp và
luật Do đĩ, mỗi cơng dân cần nắm vững các quy định của Hiến pháp và luật để thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình và cần đề phịng, ngăn chặn mọi hành vi lạm quyền, làm khơng đúng thẩm quyền ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơng dân
+ Trách nhiệm pháp lí chỉ do các cơ quan nhà nước cĩ thẩm quyền áp dụng với các
chủ thể vi phạm pháp luật, theo quy định của pháp luật ( trách nhiệm hành chính, dân
sự, hình sự, kỉ luật)
Trách nhiệm pháp lí là bắt buộc đối với tất cả những ai vi phạm pháp luật Những người vi phạm pháp luật nhất thiết phải bị xử lí Khơng ai cĩ thể biện bạch cho hành
vi vi phạm pháp luật của mình, dù người đĩ ở cương vị nào trong xã hội Điều quan
trọng là phải phát hiện được mọi hành vi pham pháp để xử lí cơng minh theo pháp
luật; kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện lợi dụng chức quyền để vi phạm pháp luật, hoặc dung túng bao che cho những hành vi phạm pháp Nhà nước cĩ nhiệm
vụ khuyến khích, bảo vệ cho những người trung thực, thẳng thắn đấu tranh bảo vệ cơng lí
+ Truy cứu trách nhiệm pháp lí tức là áp dụng những biện pháp cưỡng chế được nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Chủ thể vi phạm pháp luật
bị Nhà nước cưỡng chế phải thực hiện các chế tài của pháp luật Quyền xét xử thuộc
về tồ án, vì vậy, để đảm bảo về trách nhiệm pháp lí thì trong quá trình xét xử phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trước tồ án Aùp dụng trách nhiệm pháp lí ngồi tác
dụng trừng phạt, cịn cĩ tác dụng răn đe những người khác, khiến họ phải biết kiềm
chế, giữ cho mình khơng vi phạm pháp luật; giáo dục họ ý thức tơn trọng và thực hiện
Trang 3pháp luật nghiêm minh, làm cho người tin tưpởng vào công lí, tích cực đấu tranh
chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, từng bước loại trừ dần hiện tượng vi phạm
pháp luật ra khỏi đời sống xã hội
+ Để đảm bảo cho công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lí, phải tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản sau: Nguyên tắc chỉ truy cứu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm
pháp luật khi hành vi đó có lỗi; Nguyên tắc pháp chế, công bằng, công khai, nhanh
chóng, kịp thời
Trong một số trường hợp nhất định có thể dùng các biện pháp tác động về mặt xã
hội thay cho việc áp dụng những biện pháp trách nhiệm pháp lí bằng cách giao cho
các tổ chức xã hội, tập thể lao động giáo dục người vi phạm pháp luật
III PHƯƠNG PHÁP :
Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…
IV PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
- Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to
- Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu
V TI ẾN TRÌNH LÊN LỚP :
1 Ổn định tổ chức lớp :
2 Ki ểm tra bài cũ:
3 Gi ảng bài mới:
Con người sinh ra đều mong muốn được sống trong một xã hội bình đẳng, nhân
đạo, có kỉ cương Mong muốn đó có thể thực hiện được trong xã hội duy trì chế độ
người bóc lột người hay không? Nhà nước ta với bản chất là Nhà nước của dân, do
dân và vì dân đã đem lại quyền bình đẳng cho công dân Vậy, ở nước ta hiện nay,
quyền bình đẳng của công dân được thực hiện trên cơ sở nào và làm thế nào để quyền
bình đẳng của công dân được tôn trọng và bảo vệ?
Ph ần làm việc của Thầy và Trò N ội dung chính của bài học
GV giảng:
Quyền bình đẳng xuất phát từ quyền con người
và quyền cơ bản nhất của quyền con người
Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là mọi công dân, nam, n ữ thuộc các dân tộc, tôn giáo, thành ph ần, địa vị xã hội khác nhau đều không b ị phân biệt đối xử trong việc hưởng
Trang 4Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ đã
khẳng định : “Tất cả mọi người đều sinh ra có
quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những
quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc”
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của
Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nêu rõ :
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền
lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng
về quyền lợi”
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật, phụ nữ
bình đẳng với nam giới về mọi phương diện,
các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
đều bình đẳng với nhau, các thành phần kinh tế
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam đều bình đẳng
Đơn vị kiến thức 1:
Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Mức độ kiến thức:
HS hiểu được:
Nội dung công dân bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ: trước Nhà nước và xã hội, công dân
không bị phân biệt đối xử trong việc được
hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật; quyền của công dân không
tách rời nghĩa vụ công dân
Cách thực hiện:
GV cho HS đọc lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong SGK cuối trang 27 Sau đó, GV
hỏi:
- Em hiểu như thế nào về quyền bình đẳng của
công dân trong lời tuyên bố trên của Bác?
quy ền, thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhi ệm pháp lí theo quy định pháp luật
1 Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa
v ụ
Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
có nghĩa là bình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật Quyền của công dân không tách r ời nghĩa vụ của công dân
- Một là : Mọi công dân đều được hường quyền và phải thực hiện nghĩa vụ của mình Các quyền được hưởng như quyền bầu cử, ứng cử, quyền sở hữu, quyền thừa kế, các quyền tự do cơ bản và các quyền dân sự, chính trị khác…Các nghĩa vụ phải thực hiện như nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nghĩa vụ đóng
Trang 5GV giúp HS trả lời:
Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập
tới quyền bầu cử và ứng cử của công dân
Quyền bầu cử và ứng cử của công dân không bị
phân biệt bởi nam, nữ, giàu, nghèo, thành phần
dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội Mọi công dân
Việt Nam đều bình đẳng trong việc hưởng
quyền bầu cử và ứng cử
GV cho HS thảo luận nhóm theo nội dung
trong mục 1, SGK:
Trong lớp học của em, có bạn được miễn hoặc
giảm học phí so với các bạn khác; có bạn được
lĩnh học bổng, còn các bạn khác thì không; có
bạn được tham dự đội tuyển thi học sinh giỏi
quốc gia, giao lưu văn hoá quốc tế, còn các bạn
khác thì không được tham dự; các bạn nam đủ
17 tuổi phải đăng kí nghĩa vụ quân sự, còn các
bạn nữ không phải thực hiện nghĩa vụ này…
Theo em, những trường hợp trên đây có mâu
thẫn với quyền bình đẳng không? Vì sao?
HS trình bày các ý kiến của mình
GV phân tích cho HS hiểu rõ: Trong cùng một
điều kiện như nhau, công dân được hưởng
quyền và làm nghĩa vụ như nhau Nhưng mức
độ sử dụng các quyền đó đến đâu phụ thuộc
vào khả năng, điều kiện, hoàn cảnh của mỗi
người Vì vậy, trong thực tế, có thể người này
được hưởng nhiều quyền hơn, người kia được
hưởng ít quyền hơn hoặc người này thực hiện
nghĩa vụ khác với người kia, nhưng vẫn là bình
đẳng trong việc hưởng quyền và thực hiện
nghĩa vụ
GV giảng mở rộng:
Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ được
hiểu là trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh
thuế,…
- Hai là : Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi dân tộc, giới tính, tôn giáo, giàu, nghèo, thành phần, địa vị xã hội
Trang 6như nhau, mọi công dân đều được hưởng quyền
và phải làm nghĩa vụ như nhau
Điều kiện, hoàn cảnh thế nào tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật trong từng lĩnh vực, từng
trường hợp cụ thể Ví dụ :
1 Theo Luật thuế thu nhập cá nhân, những người có thu nhập trên 60 triệu đồng/năm có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân Tuy nhiên,
với những người có cùng mức thu nhập, số tiền thuế phải nộp cụ thể của mỗi người còn phụ thuộc vào họ là người độc thân hay là người có gia đình đang có trách nhiệm nuôi dưỡng
những người phụ thuộc Những người độc thân
có cùng một mức thuế Người có trách nhiệm nuôi dưỡng những người phụ thuộc có mức thuế phải nộp thấp hơn so với người độc thân
2 Hiến pháp quy định: “Công dân, không phân
biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều
có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật” (Điều 54
Hiến pháp năm 1992)
Tuy nhiên không phải cứ công dân đủ 21 tuổi đều có quyền ứng cử vào đại biểu quốc hội Để
thực hiện quyền ứng cử vào đại biểu quốc hội, các công dân phải có đủ các tiêu chuẩn và điều
kiện mà luật bầu cử đại biểu quốc hội quy định Theo quy định, những người sau không được ứng cử đại biểu Quốc hội:
1- Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản
án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự
Trang 72- Người đang bị khởi tố về hình sự;
3- Ngươi đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án;
4- Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án những chưa được xoá án;
“5- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn,
tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang
bị quản chế hành chính
(Điều 29 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội ) Như vậy, theo quy định của Hiến pháp và pháp
luật mọi công dân đều bình đẳng về việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ ; quyền, nghĩa vụ
của công dân không bị phân biệt bởi dân tộc,
giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội của công dân Tuy nhiên, nhưng trên thực tế, việc sử dụng quyền và thực hiện các nghĩa vụ còn phụ thuộc vào khả năng, điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi cá nhân
Đơn vị kiến thức 2:
Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lí
Mức độ kiến thức:
HS hiểu được bất kì công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lí bằng các chế tài theo quy định của pháp luật
Cách thực hiện:
GV nêu tình huống có vấn đề:
Một nhóm thanh niên rủ nhau đua ô tô với lí do nhà hai bạn trong nhóm mới mua ô tô Bạn A
có ý kiến không đồng ý vì cho rằng các bạn chưa có Giấy phép lái xe ô tô, đua xe nguy
hiểm và dễ gây tai nạn; bạn B cho rằng bạn A
lo xa vì đã có bố bạn B làm trưởng công an
Trang 8quận, bố bạn C làm thứ trưởng của một bộ Nếu
tình huống xấu nhất xảy ra đã có phụ huynh
bạn B và bạn C “lo” hết Cả nhóm nhất trí với
B
Em hãy nêu thái độ và quan điểm của mình
trước những ý kiến trên?
Nếu nhóm bạn đó học cùng lớp với em, em sẽ
lảm gì?
HS phát biểu, đề xuất cách giải quyết
GV nhận xét các ý kiến của HS, giảng giải:
Mọi vi phạm pháp luật đều xâm hại đến quyền
và lợiích hợp của chủ thể khác, làm rối loạn trật
tự pháp luật ở một mức độ nhất định Trong
thực tế, có một số người do thiếu hiểu biết về
pháp luật, không tôn trọng và thực hiện pháp
luật hoặc lợi dụng chức quyền để vi phạm pháp
luật gây hậu quả nghiêm trọng cho người khác,
cho xã hội Những hành vi đó cần phải được
đấu tranh, ngăn chặn, xử lí nghiêm
GV tổ chức cho HS chia sẻ với nhau những
thông tin mà các em biết được về việc xét xử
một số vụ án ở nước ta gần đây và hiện nay,
dựa trên nguyên tắc bình đẳng về trách nhiệm
pháp lí
GV nêu một vụ án điển hình: Vụ án Trương
Văn Cam Trong vụ án này, có cán bộ trong cơ
quan bảo vệ pháp luật, cán bộ cao cấp trong các
cơ quan đảng, nhà nước có hành vi bảo kê, tiếp
tay cho Năm Cam và đồng bọn: Bùi Quốc Huy,
Phạm Sỹ Chiến, Trần Mai Hạnh,…Bộ chính trị,
Ban bí thư đã chỉ đạo Đảng uỷ công an, ban cán
sự Đảng các cấp, các ngành nhanh chóng xử lí
nghiêm túc, triệt để những cán bộ, đảng viên sai
phạm
GV giúp HS hiểu: Trách nhiệm pháp lí là do cơ
2 Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lí
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lí là bất kì công dân nào vi ph ạm pháp luật đều phải
ch ịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mính
và b ị xử lí theo quy định của pháp luật
- Công dân dù ở địa vị nào, làm nghề gì khi
vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lí ( trách nhiệm hành chính, dân sự, hình
sự, kỉ luật)
- Khi công dân vi phạm pháp luật với tính
chất và mức độ như nhau đều phải chịu trách nhiệm pháp lý như nhau , không phân biệt đối
xử
Trang 9quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng với các
chủ thể vi phạm pháp luật Bất kì công dân nào
vi phạm pháp luật đều bị xử lí bằng các chế tài theo quy định của pháp luật
GV giảng :
Trách nhiệm pháp lý (trong mục này) là nghĩa
vụ mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu
những biện pháp cưỡng chế do Nhà nước áp
dụng
Nhà nước áp dụng chế độ trách nhiệm pháp lý
để trừng phạt những chủ thể (cá nhân, tổ chức)
vi phạm pháp luật Trách nhiệm pháp lý chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan
quản lý nhà nước, Toà án …) áp dụng theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với các chủ thể có hành vi vi phạm
Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý được hiểu là :
- Bất kỳ ai vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý, không phân biệt đó là người có chức, có quyền, có địa vị xã hội hay là
một công dân bình thường, không phân biệt
giới tính, tôn giáo…
- Việc xét xử những người có hành vi vi phạm pháp luật dựa trên các quy định của pháp luật
về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm chứ không căn cứ vào dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội của người đó
Đơn vị kiến thức 3:
Trách nhi ệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp lu ật
Mức độ kiến thức:
Trang 10HS hiểu:
Nhà nước có trách nhiệm tạo ra các điều kiện
cần thiết bảo đảm cho công dân có khả năng
thực thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, xử lí nghiêm minh
mọi hành vi vi phạm pháp luật và bảo đảm công bằng, hợp lí trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lí
Cách thực hiện:
GV đặt vấn đề: Công dân thực hiện quyền bình đẳng trước pháp luật trên cở nào?
GV yêu cầu HS trả lời các câu hỏi sau trên phiếu học tập:
Theo em, để công dân được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, Nhà nước có nhất thiết phải quy định các quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp và các luật không? Vì sao?
- Bản thân em được hưởng những quyền và
thực hiện nghĩa vụï gì theo quy định của pháp
luật? (Nêu ví dụ cụ thể)
Vì sao Nhà nước không ngừng đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật?
GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi trong mục 3 SGK:
Nhà nước quy định điểm ưu tiên cho các thí sinh thuộc người dân tộc thiểu số, con thương binh, con liệt sĩ trong tuyển sinh đại học, cao đẳng Theo em, điều đó có ảnh hưởng tới nguyên tắc mọi công dân được đối xử bình đẳng về quyền và cơ hội học tập không?
GV giảng:
Quy định của Nhà nước ưu tiên theo nhóm