1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 12

Phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

15 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 593,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Một số DN lớn như Bảo Việt, Bảo Minh, Vinare…đều có mối quan hệ với các nhà BH hàng đầu thế giới ở thị trường Lloyd’s, Mỹ, Pháp, Thụy Sỹ…Bảo Việt có 1 công ty đại lý BH tại Vương Quố[r]

Trang 1

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

1.1.Bảo hiểm phi nhân thọ và sự cần thiết phải phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện hội nhập

Trong đời sống xã hội, con người thường xuyên có mối quan hệ tác động qua lại với tự nhiên,xã hội và cũng luôn có nguy cơ gặp rủi ro bất ngờ như thiên tai bão lụt, tai nạn, ốm đau dịch bệnh, hỏa hoạn, thất nghiệp…gây tác động xấu đến đời sống và phát triển kinh tế xã hội

Đê đối phó, xử lý các rủi ro trên, con người có nhiều biện pháp khác nhau như kiểm soát, ngăn chặn hoặc chấp nhận rủi ro…Cũng có thể chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng - đó chính là bảo hiểm BH ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.1.Có rất nhiều khái niệm về BHTM Ở đây, luận văn xin đưa ra một khái niệm được coi là dễ hiểu nhất và có thể coi đó là khái niệm về BH phi nhân thọ

đó là: “Bảo hiểm là sự thỏa thuận, qua đó một bên ( Người bảo hiểm) cam kết sẽ thanh toán cho bên kia ( Người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm), một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây tổn thất về tài chính cho Người được bảo hiểm Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từ Người tham gia bảo hiểm đến Người bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, Người bảo hiểm đòi Người được bảo hiểm một khoản tiền đó là phí bảo hiểm”( Khái niệm của Hiệp hội các nhà BH Anh)

Nguyên tắc hoạt động và đối tượng của BHTM cũng chính là nguyên tắc, đối tượng của BH PNT.Bởi lẽ BHTM hoạt động trên hai lĩnh vực PNT và BH nhân thọ(BH nhân thọ chỉ là một hình thức BH con người).Điều đó thể hiện qua

sơ đồ sau:

BẢO

HIỂM

THƯƠNG

MẠI

BẢO

HIỂM

THƯƠNG

MẠI

BHIỂM TÀI SẢN

BHIỂM TNDSỰ

BHIỂM CON NGƯƠÌ

BH CON NGƯỜI PNT

BHIỂM NHÂN THỌ

BHIỂM PHI NHÂN THỌ

Trang 2

Sơ đồ trên cũng thể hiện cách phân loại BH PNT theo đối tượng đó là: BH PNT bao gồm: BH tài sản, BH TNDS và BH con người phi nhân thọ

BHTM hoạt động trên cơ sở 5 nguyên tắc chính sau:(1)Nguyên tắc số đông

bù số ít: Huy động phí BH của nhiều người để bồi thường hay trả tiền cho một số người không may gặp rủi ro, tai nạn.(2)Để đảm bảo cho quyền lợi của các DNBH và người tham gia BH, nhằm quản lý và sử dụng quỹ bồi thường, công bằng giữa những người đóng góp vào quỹ này DNBH chỉ nhận BH những rủi ro bất ngờ và rủi ro phải

là khách quan, không cố ý (3) Nguyên tắc phân tán rủi ro: Ở một khía cạnh nào đó, các DNBH là các nhà “kinh doanh rủi ro”- họ luôn phải đối mặt với các tổn thất có thể rất lớn vượt ra ngoài khả năng thanh toán của DN Vì vậy, các DNBH thường không nhận BH những rủi ro quá lớn vượt khả năng tài chính của mình, mà khi có những dịch vụ lớn này, DNBH thường tái BH hoặc đồng BH (4) Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Khi mua BH, người mua không hề có một sản phẩm cụ thể, mà chỉ có một hợp đồng, cam kết sẽ bồi thường Mặt khác, để đảm bảo nguyên tắc 2, tránh hành vi gian lận, trục lợi BH (5) Nguyên tắc quyền lợi có thể được BH: Yêu cầu người mua BH phải có quyền sở hữu, chiếm hữu, hay quyền nuôi dưỡng cấp dưỡng đối với các đối tượng tham gia BH, nhằm loại bỏ khả năng cố tình gây thiệt hại để trục lợi BH

Đặc điểm của BH phi nhân thọ: Quá trình hoạt động kinh doanh BH PNT là

quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ tiền tệ của các DNBH PNT Ở một góc độ nào đó, BH PNT là “ kinh doanh rủi ro” Hay nói cách khác, người tham gia BH chỉ được bồi thường khi có rủi ro tổn thất xảy ra, khi hết thời hạn BH mà không có rủi ro thì hết quyền lợi BH và tất nhiên là không được hoàn lại số phí BH đã đóng Thời hạn BH thường là một năm hoặc ngắn hơn, thậm chí chỉ có vài ngày (trừ 1 số hợp đồng BH xây dựng) trên phương diện xử lý rủi ro, BH phi nhân thọ là biện pháp xử

lý rất có hiệu quả, vì nó hoạt động trên cơ sở chuyển giao phân tán rủi ro của một số người cho nhiều người cùng gánh chịu

BH phi nhân thọ-một trung gian tài chính trong thị trường tài chính: Các DNBH phi nhân thọ thực hiện tích tụ, tập trung một quỹ tiền tệ từ nguồn thu phí bảo hiểm Nguồn vốn này phần lớn là tạm thời nhàn rỗi, được đầu tư vào nền kinh tế Như vậy BH phi nhân thọ thực hiện chức năng “dẫn vốn” từ người có vốn tới người

Trang 3

cần vốn – đó là chức năng của một trung gian tài chính

1.1.2 Sự hình thành phát triển BH PNT : BH PNT có mầm mống khoảng 2.500

năm TCN ở Ai Cập, thông qua việc lập quỹ tương trợ, giúp đỡ người hoạn nạn Khoảng 1700 năm TCN, tại Babylone xuất hiện quan hệ vay mượn phục vụ cho việc

xử lý rủi ro trong buôn bán và vận chuyển hàng hóa Từ đó dần hình thành nên hệ thống các nhà chuyên nhận bảo hiểm Thế kỷ 14, thỏa thuận BH đầu tiên đã xuất hiện (1347) Công ty BH đầu tiên thành lập năm1424 tại Italia Ở Việt Nam, hoạt động

BH PNT ít nhiều có từ thời kỳ Pháp đô hộ và ở Miền Nam, song đáng chú ý là sự ra đời của Bảo Việt năm 1964 Sau hơn 30 năm hoạt động độc quyền đến 1994 Việt Nam mới thực sự có TTBH

1.1.3.Sự cần thiết khách quan phải phát triển TTBH PNT trong điều kiện

hội nhập kinh tế quốc tế

BH PNT góp phần tạo ra môi trường và kích thích KT-XH phát triển: BH

PNT là “ tấm lá chắn” hữu hiệu cho mọi tổ chức, DN, cá nhân.Quỹ bồi thường BH giúp người tham gia BH ổn định tài chính, ổn định đời sống khi gặp rủi ro và góp phần ổn định chi tiêu ngân sách nhà nước BH PNT là một kênh huy động vốn không nhỏ để đầu tư phát triển nền kinh tế Đây là nguồn vốn đáng kể cho thị trường tài chính nước nhà Thông qua việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, BH góp

phần làm tăng trưởng nền kinh tế Đây cũng chính là vai trò của BH PNT Cũng

cần thấy rằng KT-XH phát triển, chính trị ổn định, môi trường pháp lý được hoàn thiện tạo nên môi trường tốt cho KDBH Mặt khác kinh tế phát triển, đời sống được cải thiện, nhu cầu của con người-trong đó nhu cầu cần được bảo vệ càng tăng thúc đẩy TTBH phát triển

Vai trò của TTBH PNT trong quá trình hội nhập quốc tế: TTBH PNT

góp phần hoàn thiện và phát triển đồng bộ các loại thị trường nhằm thúc đẩy

nhanh quá trình hội nhập TTBH PNT đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu

tư nước ngoài vì đây là một yếu tố không thể thiếu của môi trường đầu tư.Trong quá trình hội nhập, TTBH PNT góp phần nâng cao năng lực của các DNBH, từ đó có điều kiện để mở rộng hoạt động ra nước ngoài.Cuối cùng TTBH PNT sẽ tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội Đồng thời nó tạo cơ sở, điều kiện để các các DNBH nước ngoài đầu tư tích cực vào nền kinh tế

Trang 4

Phát triển TTBH PNT vừa đáp ứng nhu cầu vừa thúc đẩy nhanh hơn quá trình hội nhập: Tự do hóa thương mại dịch vụ trong đó có BH là xu thế chung của

thế giới Quá trình hội nhập tất yếu sẽ xuất hiện sự giao lưu về mọi mặt Quá trình này đòi hỏi phải có hệ thống dịch vụ tài chính đi kèm, trong đó có BH Phát triển TTBH PNT là đòi hỏi của việc phát triển đồng bộ các loại thị trường trong điều kiện hội nhập BH PNT là ngành dịch vụ tài chính mang tính toàn cầu, vì rủi ro BH không giới hạn trong phạm vi một nước, các DNBH phải liên kết đồng BH, tái BH để phân tán rủi ro.Do vậy TTBH các nước chịu tác động lẫn nhau, vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau Mặt khác, BH là một trong những nội dung quan trong trong đàm phán và thực hiện các cam kết trong hội nhập quốc tế Cuối cùng BH PNT là một trong những yếu

tố quan trọng trong môi trường đầu tư nước ngoài Vì vậy, phát triển TTBH PNT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan

1.2 Nội dung và cơ chế hoạt động của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ

1.2.1.Khái niệm: Theo thuật ngữ bảo hiểm, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là nơi

gặp gỡ giữa cung và cầu của một sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ

TTBH PNT không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể Hay nói cách khác TTBH PNT không có không gian xác định

Đặc điểm của TTBH PNT: Nhu cầu BH chỉ phát sinh khi có điều kiện

KT-XH nhất định Vì vậy, TTBH PNT ra đời muộn hơn các thị trường khác như thị trường hàng hóa tiền tệ, thị trường vốn, thị trường lao động… TTBH PNT có phạm

vi và lĩnh vực hoạt động rất rộng lớn, bởi đối tượng rất đa dạng phong phú ( như đã nêu trên) TTBH PNT mang tính đặc thù bởi sản phẩm của nó là sản phẩm “ vô hình”, và đây là dịch vụ đặc biệt- dịch vụ “ an toàn” Cuối cùng, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, các DNBH có xu hướng vừa liên kết, vừa cạnh tranh nhau để cùng nhau phát triển

Có nhiều cách phân loại TTBH phi nhân thọ Song để xác định mục tiêu và

tương lai phát triển thị trường, người ta phân chia TTBH thành: Thị trường của DNBH (DN đã có); Thị trường thực tế (cả thị trường của DNBH khác); Thị trường tiềm năng (

thị trường thực tế + khách hàng tiềm năng); và thị trường lý thuyết ( gồm các thị trường

trên và cả đối tượng không tiêu dùng tương đối )

Sản phẩm của TTBH PNT: Là sản phẩm không định hình; Sản phẩm “có

Trang 5

hiệu quả xê dịch”; Là sản phẩm của chu kỳ kinh doanh đảo ngược và cuối cùng sản phẩm BH rất dễ bắt chước vì nó không được bảo hộ bản quyền

1.2.2.Vai trò của nhà nước: Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý, môi trường kinh tế

xã hội và môi trường quốc tế cho việc phát triển TTBH PNT

Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường BH phi nhân thọ đó là: Môi trường pháp

lý, môi trường kinh tế-xã hội; Số lượng và các loại hình DNBH, số lượng chất lượng các sản phẩm BH, các kênh phân phối; Mức sống và trình độ dân trí; Năng lực của các DNBH ( thể hiện ở khả năng tài chính, trình độ quản lý, khoa học công nghệ, trình độ cán bộ, maketing ).Ngoài ra, chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế cũng là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến sự phát triển TTBH

1.2.3.Cơ chế hoạt động của TTBH phi nhân thọ:

Các chủ thể tham gia vào TTBH PNT bao gồm: Người mua:là những cá nhân tổ

chức, DN có nhu cầu mua BH Người bán: Là các DNBH phi nhân thọ.Các tổ chức trung gian: Là cầu nối giữa người mua và người bán ( môi giới, đại lý BH)

Cung cầu: Cầu của TTBH là tổng lượng các nhu cầu về sản phẩm BH đã và sẽ

được chấp nhận (mua) bởi một số khách hàng xác định.Cung là tổng lượng các hợp đồng BH cung ứng ra TTBH.Trong TTBH PNT cung cầu luôn luôn biến động Cầu

về BH ngày càng tăng lên theo sự phát triển của KT-XH

Cạnh tranh: Ở TTBH PNT cạnh tranh thường “ quyết liệt” hơn các thị trường

khác Bởi lẽ,sản phẩm BH là sản phẩm dễ bắt chước, nên sản phẩm nào kinh doanh

có hiệu quả là các DNBH “ tấn công” một cách quyết liệt, làm cho TTBH rất sôi động song rất dễ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh làm cho thị phần của các DNBH luôn thay đổi Cùng với cạnh tranh là liên kết giữa các DNBH

Giá cả: Giá cả (phí BH) phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có thể thay đổi theo thời

gian (Phụ thuộc vào cung cầu; phụ thuộc vào mức phí chuẩn để bù đắp chi phí và bồi thường Phụ thuộc vào khách hàng tiềm năng và xác suất rủi ro từng thời kỳ.Phụ thuộc vào trình độ quản lý, hiệu quả đầu tư của các DNBH)

Cơ chế điều tiết thị trường: TTBH PNT chịu sự tác động của các qui luật

cung cầu, cạnh tranh, liên kết; qui luật “số đông bù số ít”, “phân tán rủi ro” Các qui luật này đều biểu hiện sự hoạt động thông qua giá cả ( phí BH) Hay nói cụ thể đó là một hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, điều tiết lẫn nhau của

Trang 6

các yếu tố giá cả, cung-cầu, cạnh tranh, liên kết…

1.3 Kinh nghiệm phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trên thế giới và bài học cho Việt Nam

- Để tạo ra cơ sở vững chắc cho việc đưa ra định hướng và giải pháp phát triển TTBH PNT Luận văn đưa ra một số kinh nghiệm và xu thế phát triển của TTBH Châu Á – Thái Bình Dương, chính sách và kế hoạch tự do hóa trong lĩnh vực BH ở Trung Quốc, Thái Lan, Philipine và Đài Loan

Bài học cho Việt Nam:

Thứ nhất,vai trò của nhà nước chưa theo kịp sự phát triển của TTBH PNT trong điều

kiện hội nhập,cần hoàn thiện môi trường pháp lý trong KDBH.Các cơ quan quản lý phải có đủ uy quyền để thực thi nhiệm vụ và phải hoạt động độc lập với các DNBH Phải tạo điều kiện cung cấp thông tin và dự báo về TTBH

Thứ hai,thúc đẩy tự do hóa trong KDBH: Tiếp tục mở cửa và tự do hoá

trong KDBH, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các DNBH nhà nước.Có chính sách thu hút các nguồn tài chính, các kỹ năng và bí quyết công nghệ

Thứ ba, các DNBH phải tận dụng các điều kiện trên để không ngừng nâng

cao năng lực của mình, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM

2.1.Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọVN

- Năm1965, BH PNT Việt Nam chính thức có 1 công ty BH hoạt động là Bảo Việt (được thành lập ngày17/12/1964) và chỉ có một vài chi nhánh ở phía Bắc Đây là giai đoạn sơ khai của BH PNT.Năm 1976, Bảo Việt đã thành lập chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh Đến cuối năm 1980 Bảo Việt hoạt động trên toàn Quốc, và năm 1998 đã trở thành Tổng công ty BH VN Tuy nhiên, Bảo Việt vẫn hoàn toàn hoạt động độc quyền và quản lý theo cơ chế cũ Các hoạt động chưa mang tính “ thị trường”, mà dựa trên cơ sở thực hiện các chỉ tiêu Nhà nước giao cho.Vì vậy đóng góp vào nền KT rất hạn chế

Trang 7

Tình hình kinh tế xã hội từ năm 1994 đến nay: Thời kỳ này, kinh tế VN

tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống được cải thiện, tình hình chính trị-xã hội ổn định, quan hệ ngoại giao được mở rộng Từ 1994 đến 2005 GDP của Việt Nam đã tăng hơn hai lần, với tỷ lệ tăng bình quân hàng năm là gần 7% Riêng năm

2005, GDP tăng 8,4% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỷ trọng nghành công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng dần, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, xuất nhập khẩu tăng liên tục.Tình hình dân số tăng nhưng ổn định và trong tầm kiểm soát được Môi trường đầu tư nước ngoài ngày càng được thông

thoáng, minh bạch, tiến tới phù hợp với thông lệ quốc tế

Trong những năm qua, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến cải cách trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng - bảo hiểm (đã có thị trường chứng khoán, thị trường tài chính) Đặc biệt, tích cực mở rộng quan hệ hợp tác về mọi mặt với các nước trên thế giới Đây là điều kiện quan trọng, là cơ sở để TTBH PNT phát triển.Bên cạnh những thành tựu to lớn đó còn một số mặt hạn chế cần khắc phục

Ngày 18/12/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 100/NĐ-CP về KDBH,

đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển TTBH ở nước

ta Ngay sau đó năm 1994-1995, các DNBH đã lần lượt ra đời đó là: Bảo Minh,Công ty cổ phần BH PJICO, Bảo Long… Đến năm 1996, đã có DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên trên TTBH như VIA ( 1996); UIC ( 1997)…Tính đến hết năm 2005, trên TTBH Việt Nam đã có 16 DNBH PNT (2 DNBH nhà nước, 6 DNBH cổ phần và 8 DNBH có vốn ĐTNN) Năm 2005, TTBH PNT phát triển ổn định, doanh thu phí đạt 5.535 tỷ VNĐ tăng 16,1% so với năm 2004

- Ảnh hưởng của chính sách, pháp luật đến sự phát triển TTBH TNT Việt Nam: Trước năm 1993, môi trường pháp lý trong KDBH còn rất sơ khai, BH PNT

là độc quyền Ngay sau khi Nghị định 100/NĐ-CP ngày 18/12/1993 về KDBH ban hành, đã có một số DNBH ra đời Đến 9/12/2000,Luật KDBH ban hành đã tạo môi trường và hành lang pháp lý cho TTBH phát triển Tiếp theo đó một loạt các Nghị định hướng dẫn về chế độ tài chính, hướng dẫn thực hiện Luật BH,xử phạt các vi phạm hành chính, hệ thống các chỉ tiêu giám sát… được ban hành Ngày

Trang 8

20/8/2003 Bộ Tài Chính đã thành lập Vụ bảo hiểm là đơn vị quản lý nhà nước về

BH Đây là môi trường thuận lợi cho TTBH Việt Nam phát triển

Cùng với hệ thống các chính sách trên và các chính sách về mở cửa hội nhập

TTBH, từng bước áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong KDBH là động lực thúc

đẩy năng lực cạnh tranh và mở rộng quy mô của TTBH PNT

2.2.Tình hình phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam từ

Năm 1994 đến nay

2.2.1 Những thành tựu của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam

Chúng ta hãy hãy xem “bức tranh” toàn cảnh về TTBH phi nhân thọ Việt Nam

Bảng : Một số chỉ tiêu chủ yếu của TTBH phi nhân thọ từ 1994 đến 2005

(Các năm từ 1994 -1996 -1999-2002: Tính tốc độ tăng trưởng bình quân bằng cách chia cho 3)

( Nguồn: Vụ bảo hiểm – Bộ tài Chính)

2.2.2.1Tăng trưởng về qui mô,năng lực tài chính, đa dạng các hình thức sở hữu

- Số lượng các DNBH và các hình thức tổ chức kinh doanh:Trước năm

1993, BH PNT Việt Nam chỉ có 1 DNBH Nhà nước hoạt động độc quyền Chỉ sau

12 năm, TTBH PNT Việt Nam đã có 16 DN hoạt động, với 4 hình thức tổ chức

kinh doanh là:Nhà nước,cổ phần, Liên doanh và DN 100% vốn nước ngoài

- Năng lực tài chính của các DNBH không ngừng nâng lên thông qua việc

tăng vốn điều lệ: Bảo Việt tăng vốn điều lệ từ 586 tỷ đồng lên 900 tỷ đồng Mức

tăng vốn điều lệ lớn nhất là Bảo Minh từ 40 tỷ đồng lên 1.100 tỷ đồng do cổ phần

hóa năm 2004.Công ty cổ phần BH Viễn Đông mới chỉ hoạt động 2 năm cũng đã

tăng vốn điều lệ từ 70 tỷ đồng lên 200 tỷ đồng…

- Từ năm 1993 , TTBH PNT mới có 20 sản phẩm BH Đến nay đã có hơn 500

sản phẩm (BH con người phi nhân thọ, BH tài sản và BH trách nhiệm)

2.2.2.2 Tăng trưởng doanh thu phí BH: Qua bảng số liệu trên cho thấy TTBH PNT

đạt tốc độ tăng trưởng khá cao Doanh thu phí BH năm 2005 đã tăng gấp 7 lần (

Trang 9

5.678/741) so với năm 1994.Tổng doanh thu phí BH PNT tăng bình quân gần 20%/ 1

năm Đây là kết quả đáng ghi nhận của TTBH PNT

- Tỷ trọng doanh thu phí BH đóng góp trong GDP: Tăng từ 0,37% năm 1994

lên 0,72% năm 2005 Mặc dù tỷ trọng doanh thu phí BH trong GDP còn khiêm

tốn, song nếu xét về số tuyệt đối thì đây là đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế

2.2.2.3Ổn định kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm và đầu tư trở lại nền kinh tế

- Tổng số tiền BH các DNBH đã bồi thường trong 12 năm là 12.760 tỷ đ, đã góp phần ổn định tài chính cho nền kinh tế và đời sống dân cư Đồng thời các DNBH PNT cũng trích lập dự phòng nghiệp vụ đầy đủ để đảm bảo khả năng thanh toán kịp thời, góp phần ổn định đời sống,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội: Nếu năm 1994 số lượng lao động (cả cán bộ, nhân viên và đại lý) trong ngành BH PNT chỉ có trên 1.000 người, thì

năm 2002 là 29.874 người, và đến 2005 đã lên đến 43.474 người

- Nộp Ngân sách nhà nước năm 1994 là 71 tỷ đ, năm 1996 là 82,3 tỷ đ, năm

1999 là 106,2 tỷ đ, năm 2004 là 310 tỷ đ và năm 2005 là gần 370 tỷ đ

- Tổng số tiền các DNBH đã đầu tư trở lại cho nền kinh tế tăng từ 200 tỷđ

năm 1994 lên đến 1.230 tỷđ năm 1996, và 4.271 tỷđ vào năm 2004 Đến 2005 đã đạt 4.469 tỷđ Đây là nguồn vốn rất có ý nghĩa đối với việc đầu tư phát triển

2.2.2.4 Bước đầu hội nhập của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam

- Đến nay, đã có 8 DNBH có vốn đầu tư nước ngoài và hơn 30 Văn phòng đại

diện của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam(Chiếm 6-7% thị phần BH PNT)

- Một số DN lớn như Bảo Việt, Bảo Minh, Vinare…đều có mối quan hệ với các nhà BH hàng đầu thế giới ở thị trường Lloyd’s, Mỹ, Pháp, Thụy Sỹ…Bảo Việt có 1 công ty đại lý BH tại Vương Quốc Anh (BAVINA(U.K) Ltd

-Thông qua các cơ chế hợp tác thương mại, dịch vụ tài chính song phương và

đa phương với các nước ASEAN Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản TTBH Việt Nam đã từng bước hội nhập với các nước trên thế giới

2.2.2.Những tồn tại và hạn chế của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ VNam

- Hệ thống pháp luật, chính sách chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ: Luật KDBH đã ban hành 6 năm, nhưng còn nhiều vấn đề chưa được thể chế hóa như: Qui định về cơ chế khuyến khích phát triển sản phẩm, qui định về cung cấp dịch

vụ qua biên giới, qui định liên quan đến quỹ đầu tư của DNBH…Mặt khác,việc

Trang 10

ban hành các văn bản hướng dẫn dưới luật còn dời dạc, chưa khoa học và còn chậm Một số chính sách, qui định còn chưa theo kịp sự phát triển của khu vực và thế giới Chính sách bảo hộ các DNBH trong nước làm giảm đi tính cạnh tranh , không khuyến khích được đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực KDBH

- Qui mô TTBH còn nhỏ,nhiều tiềm năng chưa khai thác, trình độ dân trí

thấp: Số lượng các DNBH còn ít,( tính đến 2005 mới có 16 DNBH PNT, trong khi

đó ở Hồng Kông có tới trên 110 công ty BH PNT, ở Thái lan có 70 công ty BH PNT…) Doanh thu phí BH PNT trên GDP của Việt Nam mới chỉ là 0,72%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước trong khu vực ( khoảng từ

1,5-2,5%), ở các thị trường như Anh - Mỹ, tỷ lệ này là trên 5%.Thị trường còn rất

nhiều tiềm năng chưa được khai thác (BH con người mới khai thác được trên 10%

;BH xây dựng chỉ đạt 7,17%;BH vật nuôi,cây trồng mới chỉ khoảng 1% ).Các loại hình sản phẩm còn thiếu Một số lĩnh vực chưa được quan tâm như: BH thiên tai, nông nghiệp, BH rủi ro tài chính, hoạt động hành nghề y, luật sư

- Năng lực của DNBH còn hạn chế: Khả năng tài chính của các DNBH còn hạn chế Trừ Bảo Minh, Bảo Việt, công ty BH Viễn Đông,còn lại các DNBH khác mới chỉ có đủ số vốn theo quy định của pháp luật Số vốn thực có toàn TTBH PNT hiện nay, không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và năng lực tài chính trung bình của thế giới.Trình độ quản lý, công nghệ và năng lực chuyên môn của cán bộ BH còn nhiều bất cập Năng lực tái BH thấp

- Tuy đã có cạnh tranh nhưng mới chỉ là cạnh tranh trong nước, đôi khi còn cạnh tranh không lành mạnh, nên rất khó khăn cho quá trình hội nhập quốc tế

- Hoạt động môi giới BH còn hạn chế (chỉ đạt 16,41% tổng phí BH, và chỉ tập trung ở một số nghiệp vụ hàng không, tài sản, con người).Các DN môi giới cổ phần chưa phát triển.Tính đến hết năm 2005, đã có 7 DN môi giới BH Song có đến

83,77% là thu xếp qua các công ty môi giới 100% vốn nước ngoài

- Hoạt động đầu tư hiệu quả chưa cao (90% là gửi tiền ngân hàng và mua

trái phiếu Cphủ) Những quy định mang tính phân biệt đối xử giữa đầu tư trong

nước và đầu tư nước ngoài cũng là một trong những rào cản làm hạn chế hiệu quả đầu tư của các DNBH PNT Do cơ cấu và danh mục đầu tư còn rất hạn chế , nên các DNBH PNT chưa có vị trí xứng đáng so với tiềm năng của mình, với vai trò là

tổ chức trung gian tài chính trong thị trường tài chính hiện nay ở Việt Nam

Ngày đăng: 16/01/2021, 05:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w