Định hướng phát triển sản phẩm tại Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ bao gồm: Duy trì và nâng cao hơn nữa tốc độ phát triển sản phẩm; Phát triển toàn diện các loại hình sản phẩm (BH hưu t[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế Ở Việt Nam, sau Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, từ năm 1994 đến nay, nhiều công ty bảo hiểm mới được cấp phép hoạt động, như Prudential, Manu Life, AIA, Cathay Life, ACE Life,….Sự xuất hiện cùng một lúc của nhiều DNBH đã khiến cho hoạt động của thị trường bảo hiểm trở lên sôi động hơn, cạnh tranh diễn ra trên quy mô ngày càng rộng và gay gắt hơn.Tính đến cuối năm 2013, cả nước có 15 DN bảo hiểm nhân thọ Trong năm 2014 trên thị trường ra mắt 2 công ty bảo hiểm nhân thọ mới
là Công ty bảo hiểm nhân thọ Phú Hưng (Phú Hưng Life) và Công ty bảo hiểm nhân thọ BIDV Metlife chính thức đưa tổng số DN BHNT được cấp phép thành lập và hoạt động trên thị trường BHNT Việt Nam lên 17 công ty Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như vậy, việc nghiên cứu phát triển sản phẩm bảo hiểm mới đã trở thành một vấn đề mang tính sống còn đối với mỗi DNBH
Qua quá trình công tác tại Phòng Phát triển sản phẩm, Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ, em nhận thấy công tác phát triển sản phẩm tại Bảo Việt Nhân thọ trong những năm qua đã đạt được rất nhiều kết quả tốt, đồng thời cũng còn nhiều điểm yếu cần khắc phục
Vì thế, em quyết định lựa chọn đề tài: “Phát triển sản phẩm bảo hiểm tại Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ” cho luận văn của mình
Do phát triển sản phẩm là một đề tài rất rộng, bao gồm từ khâu nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, bán sản phẩm, đánh giá và hoàn thiện sản phẩm, …Do đó, trong phạm vi của đề tài này, em lựa chọn tập trung nghiên cứu về thực trạng phát triển các loại hình sản phẩm (điều khoản, điều kiện, quyền lợi bảo hiểm), bên cạnh đó các yếu tố: nghiên cứu thị trường, sản phẩm bảo hiểm cho các kênh khác nhau (kênh đại lý, banca, …) được phân tích trong mối liên hệ với việc phát triển các loại hình sản phẩm nói trên
Luận văn bao gồm 3 chương
Trang 2Chương 1 đưa ra cơ sở lý luận về bảo hiểm nhân thọ và phát triển sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
“Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó, người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy
ra, còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn Nói cách khách, bảo hiểm nhân thọ là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng cuộc sống và tuổi thọ của con người” (theo Giáo trình bảo hiểm- Đại học kinh tế quốc dân,
PGS.TSNguyễn Văn Định chủ biên, năm 2010, trang 432)
BHNT có 5 đặc điểm chính là
- BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro
- BHNT đáp ứng được rất nhiều nhu cầu, mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm
- Các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phong phú
- Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp
- BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định
BHNT có vai trò rất to lớn trong đời sống kinh tế xã hội: Thứ nhất, đối với người dân, BHNT góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân và gia đình, là chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm Thứ hai, thông qua dịch vụ BHNT, một dịch vụ có đối tượng tham gia rất đông đảo, các nhà bảo hiểm thu được phí để hình thành Quỹ bảo hiểm, Quỹ này được sử dụng chủ yếu vào mục đích bồi thường, chi trả và dự phòng Khi nhàn rỗi,
nó sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế Thứ ba, BHNT là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm, góp phần chống lạm phát Thứ tư, BHNT còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như: tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm có kế hoạch…
Trang 3Có 3 loại hình BH nhân thọ cơ bản là: BH trong trường hợp tử vong, BH trong trường hợp sống và BH nhân thọ hỗn hợp Bên cạnh đó, doanh nghiệp BHNT còn cung cấp các điều khoản bổ sung (sản phẩm bổ trợ) mua kèm với hợp đồng chính để gia tăng thêm quyền lợi Ngoài ra, những năm gần đây còn xuất hiện thêm 1 loại hình BHNT mới
là bảo hiểm liên kết đầu tư: bao gồm BH liên kết chung và BH liên kết đơn vị Đây là loại hình mang lại thêm quyền lợi đầu tư cho khách hàng, bên cạnh các quyền lợi vốn có của BHNT truyền thống
Ngày nay, phát triển sản phẩm mới là một vấn đề càng ngày càng bức thiết đối với các DN BHNT vì nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng, phong phú; chu kỳ sống của một sản phẩm mới ngày càng ngắn do thuộc tính có thể sao chép, bắt chước của sản phẩm BH và cuối cùng là do sự cạnh tranh trên thị trường ngày một gay gắt hơn khiến cho các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm
Phát triển sản phẩm BHNT mới bao gồm:
+ Phát triển một sản phẩm hoàn toàn mới (đối với cả ngành BH nói chung)
+ Phát triển một sản phẩm mới đối với Doanh nghiệp BHNT
+ Phát triển sản phẩm trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các sản phẩm hiện có (kể cả việc chỉ đơn thuần đổi tên gọi của sản phẩm)
Nội dung phát triển sản phẩm BHNT bao gồm 4 quyết định và 4 chính sách về sản phẩm
+ 04 quyết định về sản phẩm, gồm: Quyết định về chủng loại sản phẩm, Quyết định về số lượng và nội dung sản phẩm, Quyết định về nhãn hiệu cho từng sản phẩm BHNT (từng nhóm sản phẩm BH), Quyết định về thiết kế sản phẩm BHNT mới
+ 04 chính sách về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ: Chính sách về giá cả sản phẩm BHNT,
Về kênh phân phối sản phẩm, Về xúc tiến hỗn hợp, Dịch vụ khách hàng
Luận văn cũng đưa ra được hệ thống các chỉ số dùng để đánh giá hoạt động phát triển sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả phát triển sản phẩm (bao gồm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và các yếu tố thuộc môi trường vi mô)
Trang 4Chương 2 phân tíchThực trạng phát triển sản phẩm tại Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ
Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ được thành lập ngày 22/6/1996, là công ty thành viên 100% vốn của Tập đoàn Tài chính và Bảo hiểm Bảo Việt Địa chỉ: Tầng 37, Keangnam Ha Noi Landmark Tower, Đường Phạm Hùng, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
Là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tiên hoạt động trên thị trường từ năm
1996, Bảo Việt Nhân thọ đi tiên phong trong việc cung cấp, hoạch định các giải pháp tài chính ưu việt cho khách hàng nhằm mang lại một cuộc sống an lành và hạnh phúc
Ngày 19/12/2013: BVNT đã tăng vốn điều lệ lên 2.000.000.000.000 (hai nghìn tỷ) đồng Việt Nam, trở thành doanh nghiệp dẫn đầu thị trường bảo hiểm nhân thọ về quy mô vốn Năm 2014, BVNT đạt doanh thu hơn 10,765 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hơn 589
tỷ đồng
Ngành nghề kinh doanh chính gồm: Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, Kinh doanh tái bảo hiểm, Quản lý quỹ và tiến hành hoạt động đầu tư
Kết quả họat động kinh doanh giai đoạn 2008- 2014 của BVNT rất ấn tượng thể hiện qua sự tăng trưởng mạnh mẽ liên tiếp, đồng thời cũng là những năm đánh dấu sự chuyển mình trong hoạt động tổ chức, mô hình vận hành để ngày càng chuyên nghiệp hơn, hiệu quả hơn
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển sản phẩm tại Tổng công ty BVNT trong giai đoạn 2008- 2014.Hiện nay BVNT có tổng cộng 65 sản phẩm đang hiệu lực và 41 sản phẩm khai thác mới.BH hỗn hợp chiếm ưu thế trong giỏ với 31/65 SP hiệu lực và 14/41 SP khai thác mới Xếp thứ 2 là BH tử kỳ và BH Bổ sung với khoảng 10-12 sản phẩm từng loại Nhóm cuối cùng, chỉ với từ 1-4 sản phẩm là BH Liên kết chung, BH trọn đời, BH trả tiền định kỳ (SP niên kim nhân thọ) và BH nhóm BVNT hiện nay chưa phát triển BH liên kết đơn vị, BH sinh kỳ, BH hưu trí và BH sức khỏe
Trong giai đoạn 2008-2014, công tác PTSP luôn được BVNT chú trọng với số SP hiệu lực tăng lên qua các năm Nếu như năm 2008, mới chỉ có 55 sản phẩm, thì đến năm
Trang 52014 đã có 65 sản phẩm đang hiệu lực Năm 2010 là năm duy nhất có số lượng SP giảm
đi do có 1 số sản phẩm bị ngừng vì kinh doanh không hiệu quả
Mặc dù SP có hiệu lực có xu hướng tăng đều đặn qua các năm nhưng số lượng SP KTM có sự biến động mạnh trong giai đoạn 2008-2011 và đi vào ổn định hơn từ
2011-2014 với khoảng 41 sản phẩm Biến động trong các năm đầu là do BVNT thay đổi chiến lược từ việc triển khai với số lượng lớn sang đi sâu về chất, song song với việc ra mắt các sản phẩm mới là quyết định cho dừng các sản phẩm kém hiệu quả
Phân tích theo kênh phân phối cho thấy BVNT mới chú trọng phát triển sản phẩm cho kênh đại lý (53 sản phẩm) trong khi đối với kênh Bancasurance BVNT chỉ thiết kế các sản phẩm tử kỳ khá đơn giản bao gồm các loại sản phẩm tử kỳ cho người gửi tiền và sản phẩm tử kỳ cho người đi vay (12 sản phẩm)
Trong giai đoạn nghiên cứu, BVNT không chú trọng phát triển thêm SP nhóm/trọn đời hay trả tiền định kỳ Ngược lại, BVNT tập trung gia tăng số lượng sản phẩm thuộc dòng
BH hỗn hợp và đặc biệt là BH bổ sung (7-11 SP).Bước ngoặt trong giai đoạn này là sự xuất hiện của SP LKC vào năm 2009 với 3 sản phẩm, sau đó tăng lên 4 SP vào năm 2010.Sự thay đổi này góp phần làm đa dạng hóa giỏ sản phẩm và mang tính quyết định đối với chiến lược PTSP của BVNT từ năm 2009 trở về sau
Về sản phẩm bổ sung, hiện nay BVNT đang triển khai 11 SPBS, tăng 4 sản phẩm
so với năm 2008 SPBS của BVNT chia làm 04 dòng: BH chăm sóc sức khỏe, BH tai nạn, BH miễn đóng phí và BH tử kỳ/sinh kỳ thuần túy Trong đó BH chăm sóc sức khỏe chiếm phần lớn giỏ sản phẩm bổ sung
Từ năm 2008 đến năm 2014, BVNT đã phát triển thêm 14 sản phẩm mới, trung bình 2 SP/ 1 năm.Năm 2009 và năm 2011 là 2 năm có số lượng SP mới nhiều nhất, với 5 sản phẩm Nếu như năm 2009 là năm trọng tâm nghiên cứu và ra mắt các SPC liên kết chung thì năm 2011 là năm BVNT trọng tâm ra mắt 1 loạt SPBS mới Có thể thấy chiến lược PTSP mới của BVNT trong giai đoạn nghiên cứu tập trung vào dòng BH Liên kết chung và BH bổ sung
Trang 6Bên cạnh đó, mặc dù trong giai đoạn nghiên cứu có 14 sản phẩm mới ra mắt nhưngtheo số liệu lũy kế cũng có 21 sản phẩm bị dừng (bao gồm cả SPC và SPBS) và 03 sản phẩm được thiết kế lại (đều là SPBS)
Sự thay đổi trong giỏ sản phẩm như trên đã có những hiệu quả rõ rệt với kết quả kinh doanh của BVNT trong giai đoạn nghiên cứu Qua phân tích số liệu doanh thu và số hợp đồng khai thác mới từ năm 2008 đến năm 2014, có thể thấy BVNT không chỉ liên tiếp tăng trưởng mạnh mẽ mà cơ cấu doanh thu cũng có sự chuyển mình mang tính bước ngoặt
Doanh thu phí khai thác mới toàn thời kỳ tăng hơn 400% từ 512 tỷ đồng năm 2008 lên 2.093 tỷ đồng năm 2014 Trong đó, BVNT đã có sự tăng trưởng Doanh thu KTM đột biến vào năm 2009, đạt mức cao kỷ lục 42,6% Do đây là năm BVNT triển khai mới 3 sản phẩm BH LKC Đặc trưng ưu việt của sản phẩm đã nhanh chóng thuyết phục được đông đảo khách hàng.Số lượng lớn hợp đồng mới được kí kết Nếu lượng tăng doanh thu KTM giai đoạn 2007 -2008 là 500 tỷ đồng – 512 tỷ đồng thì doanh thu KTM trong giai đoạn 2008- 2009 đã tăng vọt từ 512 tỷ đồng lên 730 tỷ đồng Sản phẩm LKC tiếp tục là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng DT KTM mạnh mẽ của BVNT trong những năm tiếp sau đó: năm 2010 (15,2%), 2011 (23,8%), 2012 (24,1%), 2013 (22,7%), 2014 (31,9%)
Cơ cấu đóng góp vào tổng doanh thu đã có sự thay đổi to lớn trong giai đoạn 2008-2014 Nếu như năm 2008, BH hỗn hợp chiếm đến 86,12% tổng doanh thu KTM, thì qua các năm kế tiếp, tỷ trọng này liên tiếp suy giảm và chỉ còn 24,2% vào năm 2014 Trái lại, ngay trong năm ra mắt đầu tiên (2009), SP LKC đã chiếm 17,56% tổng Doanh thu KTM, làm thay đổi cơ bản cơ cấu giỏ sản phẩm, và tăng lên nhanh chóng trong những năm tiếp theo Đến thời điểm hiện tại, SP LKC đã đóng góp gần 70% trong doanh thu phí KTM của BVNT
Đánh giá chung về tình hình phát triển sản phẩm tại Tổng công ty BVNT cho thấy bên cạnh nhiều mặt đạt được về số lượng, chất lượng sản phẩm, sự đa dạng loại hình, tính linh hoạt và minh bạch cao,… thì vẫn còn nhiều mặt hạn chế về sự mất cân đối trong giỏ
Trang 7sản phẩm, sự thiếu hụt các loại hình sản phẩm quan trọng cũng như nhiều sản phẩm đã trở nên lạc hậu,…
Dựa trên việc phân tích đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm, luận văn đưa ra định hướng và giải pháp phát triển sản phẩm cho BVNT trong thời gian tới (giai đoạn 2015-2020)
Chương 3đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm tại Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ giai đoạn 2015-2020
Định hướng phát triển sản phẩm tại Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ bao gồm: Duy trì và nâng cao hơn nữa tốc độ phát triển sản phẩm; Phát triển toàn diện các loại hình sản phẩm (BH hưu trí, sản phẩm liên kết đơn vị, sản phẩm riêng biệt cho kênh bacasurance) ; Cải tiến, thiết kế lại sản phẩm BH hỗn hợp để hiện đại hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng; Phát huy thế mạnh của dòng sản phẩm liên kết chung; Phát triển sản phẩm cho các thị trường ngách (sản phẩm BH vi mô, sản phẩm BH cho người thu nhập cao); Ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm; Phát triển sản phẩm gắn liền với nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng,…
Để thực hiện tốt theo định hướng như trên, BVNT cần áp dụng tổng hợp các giải pháp bao gồm: lập kế hoạch thiết kế sản phẩm từng kỳ và từng năm, đẩy mạnh nghiên cứu thị trường, định phí bảo hiểm phù hợp, tăng cường nhân lực phát triển sản phẩm, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ sản phẩm và tăng cường liên kết với ngân hàngđể phát triển hơn hoạt động Banca
Tóm lại:
Bên cạnh những ưu điểm, hệ thống sản phẩm của Bảo Việt Nhân thọ vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục như: phát triển chưa đồng đều, quyền lợi một số sản phẩm chưa hấp dẫn, một số sản phẩm đã cũ và không còn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hiện tại, chưa có một số loại sản phẩm cho các phân khúc thị trường ngách,…
Để có được kết quả kinh doanh tốt hơn nữa trong những năm tới, Bảo Việt Nhân thọ cần thực hiện tổng hợp các giải pháp về: chiến lược chỉ đạo, nhân lực, tài chính, sự phối hợp giữa các phòng ban,… nhằm phát huy các điểm mạnh cũng như khắc phục các
Trang 8hạn chế nêu trên Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt, Bảo Việt Nhân thọ càng phải chú trọng hơn vào công tác phát triển sản phẩm, coi đó là một trong những trọng tâm chiến lược thực hiện trong thời gian tới Việc thực hiện chiến lược này
sẽ đòi hỏi sự tập trung của nhiều nguồn lực cũng như cần có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước và tập đoàn mẹ (Bảo Việt) nhưng là một đòi hỏi tất yếu để đứng vững được trong nền kinh tế thị trường đang toàn cầu hóa ngày nay