Để phát triển hoạt động đầu tư tại Công ty bảo hiểm BIDV, Luận văn đã đưa ra một số giải pháp như: đẩy mạnh hoạt động khai thác bảo hiểm gốc; Cổ phần hoá Công ty vào thời điểm thích h[r]
Trang 1i
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm Phi nhân thọ nói riêng đã có vai trò rất quan trọng trong việc
ổn định đời sống xã hội và hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân và các tổ chức/doanh nghiệp Ngoài vai trò trên, bảo hiểm còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư vốn và các quỹ nhàn rỗi được hình thành trong quá trình kinh doanh của các công ty bảo hiểm
Bên cạnh những kết quả của ngành bảo hiểm đạt được (tốc độ tăng trưởng doanh thu cao; đóng góp vào Ngân sách nhà nước lớn; đầu tư trở lại nền kinh tế với vốn đầu tư lớn …) thì thị trường bảo hiểm Phi nhân thọ Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất cập/nguy cơ đã xuất hiện từ nhiều năm nhưng vẫn chưa được cải thiện, cụ thể:
- Công tác quản lý/quản trị doanh nghiệp nhìn chung còn nhiều bất cập Số lượng các DNBH tăng nhanh chóng trong thời gian qua đã làm căng thẳng thêm tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực bảo hiểm, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao Việc quản lý và quản trị rủi ro/chi phí của các doanh nghiệp đang thực sự là vấn đề lớn trong hệ thống của mỗi doanh nghiệp Mặc dù các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp lớn) đã hết sức chú trọng vấn đề này nhưng để cải thiện tình hình cần có thời gian
- Tình hình cạnh tranh giảm phí, hạ mức khấu trừ, mở rộng điều kiện điều khoản trên thị trường ngày càng quyết liệt, đặc biệt là các nghiệp vụ BH hàng hóa xuất nhập khẩu, cháy, xây dựng lắp đặt, ôtô… Chi phí khai thác dịch vụ tăng cao do cạnh tranh, lạm phát Tổn thất tiếp tục khuynh hướng gia tăng (do thiên tai, lạm phát, điều kiện bảo hiểm mở rộng …)
Trang 2- Xu hướng các dịch vụ “xấu”, không đáp ứng được điều kiện chuyển tái bảo
hiểm ra nước ngoài, được chuyển tái bảo hiểm cho thị trường trong nước hoặc các doanh nghiệp trong nước chia sẻ dịch vụ với điều kiện bảo hiểm và giá không thuận lợi hơn so với chuyển tái bảo hiểm ra nước ngoài ngày càng trở lên phổ biến
- Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở nước ngoài được cung cấp một số sản phẩm bảo hiểm qua biên giới vào Việt Nam: đây là khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nói chung vì đó là cuộc cạnh tranh không cân sức và các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là những người bất lợi
- Kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ đã bọc lộ nhiều yếu kém: bảo hiểm phi nhân thọ vẫn giữ cách thức khai thác chủ yếu từ cán bộ bảo hiểm (đại lý chỉ mang tính chất hình thức)
Những khó khăn và tồn tại trên đã dẫn đến hậu quả là hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2007 và năm 2008 đều không có lãi từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm Vì vậy để tồn tại
và phát triển bên cạnh các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải phát triển hoạt động đầu tư Nhận thấy sự quan trọng của hoạt động đầu tư trong các doanh nghiệp bảo hiểm, tác
giả đã tập trung nghiên cứu đề tài “Phát triển hoạt động đầu tư tại Công ty bảo
hiểm BIDV” Kết cấu của Luận văn gồm 3 phần:
Chương 1: Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư tại Công ty bảo hiểm BIDV Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động đầu tư tại Công ty bảo hiểm BIDV
Trang 3iii
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO
HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1 Những hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm: Trong phần này Luận văn
trình bày những vấn đề sau:
- Trích dẫn các khái niệm trong luật kinh doanh bảo hiểm: doanh
nghiệp bảo hiểm, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tái bảo hiểm, theo đó
“Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm”
“Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”
“Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm”
- Trình bày 7 đặc điểm đặc trưng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các đặc điểm đặc trưng thể hiện sự khác biệt giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm với hoạt động kinh doanh khác: vốn pháp định lớn; kiểm soát chặt của
Nhà nước; đối tượng kinh doanh đa dạng; sản phẩm vô hình dễ bắt chước; định giá sản phẩm theo chu trình ngược; phải có dự phòng nghiệp vụ; luôn gắn kết với hoạt động đầu tư
Trang 41.1.2 Những hoạt động cơ bản của công ty bảo hiểm phi nhân thọ
Để có một cái nhìn tổng quan về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, trong phần này tác giả trình bày 6 hoạt động cơ bản của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm: kinh doanh bảo hiểm; kinh doanh tái bảo hiểm; Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất; Giám định tổn thất; Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn; Quản lý quỹ và đầu tư vốn; Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Trong 6 hoạt động cơ bản trên của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì 3 hoạt động quan trọng nhất mà hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đều thực hiện là: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm; hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm và hoạt động đầu tư vốn
1.2 Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.1 Khái niệm, đăc điểm hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
- Có nhiều khái niệm về hoạt động đầu tư, nhưng tựu chung lại “Hoạt động đầu tư đều có nghĩa là bỏ ra một lượng giá trị ở hiện tại nhằm thu về giá trị lớn hơn ở thời điểm trong tương lai” Từ khái niệm chung về hoạt động đầu tư có thể thấy hoạt động đầu tư trong các doanh nghiệp bảo hiểm được hiểu là việc sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp bảo hiểm vào các hoạt động sinh lợi mà pháp luật cho phép
- Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm có 4 đặc điểm chính: + Hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm là hoạt động hợp pháp và chịu sự kiểm soát đặc biệt của Nhà nước: Nhà nước quản lý và kiểm soát hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm bằng cách quy định danh mục và tỷ lệ nguồn vốn đầu tư tối đa đối với từng danh mục (đặc biệt là nguồn đầu tư từ quỹ dự phòng nghiệp vụ) và quy định biên khả năng thanh toán nhằm đảm bảo khả năng thanh toán đối với các doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 5v
+ Hoạt động đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm: an toàn vốn, an toàn khả năng thanh toán và sinh lời
+ Hoạt động đầu tư mang đặc điểm của doanh nghiệp bảo hiểm: nếu doanh nghiệp bảo hiểm có quy mô, cơ cấu nguồn vốn khác nhau thì hoạt động đầu tư khác nhau
1.2.2 Vai trò của hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng không chỉ đối với chính doanh nghiệp bảo hiểm (làm tăng khả năng cạnh tranh, bù đắp sự mất giá của đồng tiền, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, quảng bá thương hiệu…) mà còn có vai trò quan trọng đối với xã hội thông qua việc đầu tư trở lại nền kinh tế tác động đến tăng trưởng kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm, phát triển các ngành…
1.2.3 Các nguyên tắc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm: 3 nguyên tắc cơ
bản đối với hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm là: nguyên tắc
an toàn, nguyên tắc sinh lời và nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán
1.2.4 Nguồn vốn đầu tư
Theo quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì có nhiều nguồn vốn doanh nghiệp có thể đem đầu tư (vốn điều lệ, lợi nhuận chưa chia của những năm trước để lại, quỹ dự phòng nghiệp vụ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ khen thưởng phúc lợi…), tuy nhiên có 2 nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất của doanh nghiệp bảo hiểm là Vốn điều lệ và nguồn vốn từ quỹ dự phòng phí Hai nguồn vốn này bản chất khác nhau Nguồn vốn điều lệ là do các cổ đông đóng góp là nguồn vốn có thể đầu tư dài hạn và ít chịu sự quản lý của Nhà nước, trong khi đó nguồn vốn từ quỹ dự phòng nghiệp vụ do người tham gia bảo hiểm đóng góp
và nguồn vốn này thường là nguồn ngắn hạn (đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ) và phải chịu sự kiểm soát rất chặt của Nhà nước
Trang 61.2.5 Các hình thức đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm có chiến lược đầu tư riêng vì vậy danh mục đầu tư, cơ cấu danh mục và hình thức đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng rất khác nhau, tuy nhiên hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng chỉ tập trung đầu tư dưới 4 hình thức đầu tư (Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng; Mua các loại chứng khoán; Đầu tư bất động sản; Góp vốn liên doanh)
1.3 Phát triển hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.1 Quan niệm về phát triển hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp bảo hiểm
- Quan niệm về tăng trưởng hoạt động đầu tư: Tăng trưởng hoạt động đầu tư là sự gia tăng về mặt lượng của các chỉ tiêu phản ánh quy mô hoạt động đầu tư (nguồn vốn đầu tư; doanh thu đầu tư; lợi nhuận hoạt động đầu tư)
- Quan niệm về Phát triển hoạt động đầu tư: Phát triển hoạt động đầu tư ngoài việc bao hàm quá trình tăng trưởng hoạt động đầu tư, còn có nội dung phản ánh rộng hơn, sâu hơn, đó là sự biến đổi về mặt chất của hoạt đầu tư mà trước hết là sự biến đổi các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư theo hướng tích cực (tỷ suất lợi nhuận đầu tư; chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn ) và kèm theo đó phải luôn luôn đảm bảo khả năng thanh toán; cơ cấu danh mục đầu tư hợp lý; nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động đầu tư
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
+ Các chỉ tiêu đánh giá quy mô hoạt động đầu tư gồm: Doanh thu hoạt động đầu tư; lợi nhuận hoạt động đầu tư; quy mô nguồn vốn đầu tư
+ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư gồm: Tỷ suất lợi nhuận đầu tư; Hiệu quả sử dụng vốn; khả năng thanh toán
Trang 7vii
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BIDV
2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư
2.1.1 Nguồn vốn đầu tư của Công ty bảo hiểm BIDV
Nguồn vốn đầu tư chủ yếu của Công ty bảo hiểm BIDV là nguồn vốn
từ vốn chủ và nguồn vốn từ quỹ dự phòng nghiệp vụ, các nguồn vốn khác (quỹ khen thưởng, khấu hao tài sản ) chiếm tỷ trọng rất nhỏ Hầu hết các nguồn vốn đầu tư của Công ty đều có tốc độ tăng trưởng bình quân cao (Vốn chủ tăng 96%; Quỹ dự phòng nghiệp vụ tăng 85%; các nguồn khác tăng 94% )
+ Nguồn vốn chủ bình quân tăng là do Công ty tăng vốn điều lệ từ 200
tỷ lên 500 tỷ vào năm 2007 Mặc dù nguồn vốn chủ tăng mạnh nhưng lợi nhuận chưa phân phối giảm mạnh do năm 2008 Công ty bị thua lỗ
+ Quỹ dự phòng nghiệp vụ tăng nhanh là do trong 3 năm đầu hoạt động Công ty luôn có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao (tốc độ tăng trưởng doanh thu của Công ty luôn đứng ở top đầu của thị trường) vì vậy quỹ dự phòng nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng cao Tuy nhiên trong quỹ dự phòng nghiệp vụ (dự phòng phí, dự phòng bồi thường, dự phòng dao động lớn) thì quỹ dự phòng bồi thường có tốc độ tăng trưởng cao (170%) điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro và là hệ quả của việc phát triển nóng sau 3 năm đầu hoạt động
2.1.2 Tổng vốn đầu tư bình quân
Tổng vốn đầu tư bình quân của BIC giai đoạn 2006 – 2008 có sự tăng trưởng mạnh, tăng trưởng bình quân 90% (trong đó năm 2007 tăng so với năm 2006 là 146%, năm 2008 tăng so với năm 2007 là 46%) Tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư qua 3 năm chủ yếu là do tăng vốn điều lệ của Công ty
từ 200 tỷ đồng lên 500 tỷ đồng năm 2007 Quỹ dự phòng của Công ty mặc dù tăng trưởng rất nhanh qua 3 năm tuy nhiên với tỷ lệ giới hạn đầu tư theo quy định của pháp luật (không vượt quá 75% quỹ dự phòng) hơn nữa quy mô quỹ
Trang 8dự phòng của Công ty còn quá nhỏ vì vậy tác động không nhiều đến tổng vốn đầu tư của Công ty trong 3 năm qua Các quỹ khác của Công ty (Quỹ khen thưởng phúc lợi, khấu hao tài sản cố định …) vì mới thành lập nên những quỹ này có quy mô không đáng kể Tổng vốn đầu tư qua 3 năm (2006, 2007, 2008) của Công ty bảo hiểm BIDV lần lượt là 117,89 tỷ đồng; 427,86 tỷ đồng; 623,31 tỷ đồng
2.1.3 Cơ cấu danh mục đầu tư của BIC tại thời điểm 31/12
- Chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu đầu tư của BIC trong 3 năm qua vẫn là tiền gửi, tuy nhiên tỷ trọng tiền gửi ngày càng giảm trong cơ cấu đầu tư của BIC Nếu năm 2006 tỷ trọng tiền gửi chiếm đến 74% tổng vốn đầu tư thì năm 2007 giảm xuống còn 51% và đến năm 2006 chỉ còn 33%
- Trái phiếu là danh mục đầu tư có tốc độ tăng trưởng trung bình cao thứ hai sau danh mục cổ phiếu (tăng trưởng 102%) Tỷ trọng trái phiếu trong danh mục đầu tư qua 3 năm 2006 - 2008 của BIC lần lượt là: 15,48%; 13,52%; 25,56%
- Cổ phiếu là danh mục đầu tư có tốc độ tăng trưởng trung bình cao nhất trong tất cả các danh mục BIC đầu tư (tăng trưởng bình quân 226%) Tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục đầu tư của BIC ngày càng tăng (tăng từ 9,31% năm 2006 lên 25,13% năm 2008)
- Góp vốn liên doanh: Với lợi thế vốn điều lệ lớn (BIC là một trong 5 công ty bảo hiểm phi nhân thọ có vốn điều lệ lớn nhất thị trường) BIC đã tìm kiếm các cơ hội đầu tư để đa dạng danh mục đầu tư và với mục tiêu hướng hoạt động đầu tư vào đầu tư dài hạn nhằm tạo sự ổn định, khuếch trương thương hiện của công ty đồng thời phân tán rủi ro
2.1.4 Kết quả hoạt động đầu tư
- Doanh thu hoạt động đầu tư: Doanh thu hoạt động đầu tư qua các
năm 2006, 2007, 2008 lần lượt là 20.043 trđ, 40.483 trđ và 71.023 trđ Tốc độ tăng trưởng doanh thu của năm sau tăng so với năm trước lần lượt là 100% và
Trang 9ix
75% Nguyên nhân doanh thu đầu tư tăng trưởng nhanh qua các năm là do nguồn vốn đầu tư của Công ty tăng
- Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư: Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư
qua 3 năm (2006; 2007; 2008) lần lượt là: 14,35 tỷ đồng; 33,47 tỷ đồng và – 39,3 tỷ đồng
- Hiệu suất sử dụng vốn: Hiệu suất sử dụng vốn qua 3 năm (2006;
2007; 2008) lần lượt là: 81%; 83%; 85%
- Tỷ suất lợi nhuận đầu tư: Tỷ suất lợi nhuận đầu tư của BIC qua 3
năm 2006, 2007, 2008 lần lượt là 8,25%; 7,82% và -6,31%
- Khả năng thanh toán của BIC vào cuối các năm từ 2006 – 2008:
khả năng thanh toán qua các năm 2006, 2007, 2008 lần lượt là 3,9; 4,73; 1,25
2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư
2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân:
2.2.1.1 Kết quả đạt được:
Sau 3 năm hoạt động, hoạt động đầu tư của Công ty bảo hiểm BIDV đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, thể hiện:
- Là hoạt động chủ yếu và duy nhất tạo ra lợi nhuận để bù lỗ từ hoạt động kinh doanh góp phần ổn định hoạt động kinh doanh chính và bảo tồn được vốn chủ
- Hoạt động đầu tư ngày càng mang tính chuyên nghiệp, thể hiện: phương thức đầu tư ngày càng đa dạng (nếu như năm 2006 khoản mục tiền gửi chiếm 74% thì đến năm 2008 tiền gửi chỉ chiếm 33%; đầu tư dài hạn mang tính chiến lược, góp vốn liên doanh liên kết với các công ty, góp vốn và trực tiếp điều hành các công ty … ngày càng tăng lên)
- Quy mô hoạt động đầu tư ngày càng mở rộng: Tổng vốn đầu tư bình quân của BIC không ngừng tăng qua các năm (năm 2006, 2007, 2008 vốn đầu tư bình quân lần lượt là 174 tỷ đồng, 428 tỷ đồng, 623 tỷ đồng) tương ứng với
Trang 10việc tăng vốn đầu tư thì doanh thu từ hoạt động đầu tư qua các năm cũng không ngừng tăng (tăng lần lượt qua 3 năm 2006, 2007, 2008 là 20 tỷ đồng, 40,5 tỷ đồng, 71 tỷ đồng)
- Đảm bảo khả năng thanh toán tốt (khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh): Mặc dù tập trung nguồn lực cho hoạt động đầu tư nhưng BIC luôn đảm bảo khả năng thanh toán Với việc đảm bảo khả năng thanh toán giúp BIC luôn đảm bảo thực hiện tốt nghĩa vụ thanh toán đối với khách hàng, đảm bảo quyền lợi cũng như tạo sự uy tín cho Công ty
- Hoạt động đầu tư của Công ty đã giúp Công ty phân tán rủi ro và đánh bóng thương hiệu của Công ty: Với việc thành lập liên doanh bảo hiểm Lào - Việt (LVI), một mặt giúp BIC phân tán rủi ro trong hoạt động bảo hiểm mặt khác góp phần đánh bóng thương hiệu của BIC trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
và trong khu vực
2.2.1.2 Nguyên nhân:
- Có sự hậu thuẫn lớn từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam: Với nguồn vốn lớn, mối quan hệ đa dạng với nhiều đối tác, có nhiều chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư, Ngân hàng Đầu tư đã tạo cơ hội, tư vấn cho BIC trong hoạt động đầu tư
- Xây dựng được đội ngũ cán bộ đầu tư có năng lực và tâm huyết với nghề nghiệp
- Xây dựng chiến lược đầu tư đúng đắn: Với chiến lược tập trung nguồn lực tại Trụ sở chính để phát huy lợi thế theo quy mô đầu tư, phí bảo hiểm thu được từ các chi nhánh đều được chuyển về Trụ sở chính để đầu tư Với chiến lược đầu tư này vừa mang tính chuyên nghiệp, vừa tập trung được nguồn vốn phát huy được lợi thế đầu tư theo quy mô
- Phát triển hoạt động khai thác bảo hiểm gốc: Với tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc cao đã giúp quỹ đầu tư của BIC tăng nhanh từ quỹ dự