Bản thân những bài toán có lời văn vừa thiết thực, song lại có phần trừu tượng, học sinh phải làm quen với nhiều thuật ngữ mới như: “nhiều hơn”, “ít hơn”,.. “gấp đôi”..., đòi hỏi phải có[r]
Trang 1PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG
TRƯỜNG TH HOÀNG HOA
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy Toán họccho học sinh lớp 2
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Văn Đủ
Tam Dương, năm 2020
Trang 2PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG
TRƯỜNG TH HOÀNG HOA
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy Toán họccho học sinh lớp 2
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Văn Đủ
Tam Dương, năm 2020
Trang 31 Lời giới thiệu
Mục tiêu của môn toán ở bậc tiểu học là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, về đo lường, về hình học, một số yếu tố thống kê đơn giản, giúp các em có được những kĩ năng tính toán, đo lường, và giải các bài toán có nội dung thiết thực trong đời sống Mục tiêu quan trọng hơn là phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí, phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng và bước đầu hình thành phương pháp tự học, tự làm việc một cách khoa học, linh hoạt và sáng tạo
Chương trình tiểu học tập trung vào nội dung và đặt trọng tâm vào đổi mớiphương pháp dạy học, đổi mới sách giáo khoa và thiết bị dạy học, về trình độ củagiáo viên nhằm khuyến khích dạy học trên cơ sở hoạt động tích cực, chủ động,sáng tạo của học sinh, giúp các em tự phát hiện và tự giải quyết những kiến thức,biết vận dụng vào thực tế cuộc sống
Môn Toán có một vị trí rất quan trọng trong chương trình tiểu học Với hệthống kiến thức cơ bản, với những kĩ năng vô cùng cần thiết cho (các môn họckhác) và áp dụng vào đời sống thực tế, môn toán góp phần đào tạo một lớp người
có trình độ cao, nhân cách phát triển toàn diện, từng bước xây dựng đất nước ngàycàng phát triển và giàu mạnh
Ở tiểu học, nhiệm vụ của dạy học toán là làm cho học sinh lĩnh hội được một
hệ thống kiến thức kỹ năng cơ bản, cần thiết để có thể vận dụng vào thực tiễn, từngbước bồi dưỡng các thao tác tư duy, phát triển khả năng suy luận của học sinh tiểuhọc
Qua thực tế những năm giảng dạy lớp 2, tư duy của học sinh tiểu học từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Vậy việcbồi dưỡng năng lực tư duy toán học cho học sinh tiểu học nói chung và học sinhlớp 2 nói riêng là vô cùng quan trọng và cần thiết
Sách giáo khoa toán 2 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những cái hay củasách cũ và có nhiều ý tưởng mới như: tăng thực hành vận dụng, sử dụng nội dungthực tế gần gũi với đời sống học sinh tiểu học Lựa chọn các nội dung cơ bản, hiện
Trang 4đại, thiết thực, giúp học sinh hình thành phương pháp tự học môn toán Học sinh tựphát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức mới Biết vận dụng nhữngkiến thức đã học vào đời sống Theo quan điểm trên, tất cả các sách giáo khoa mớiđều cắt bỏ những bài toán khó thay vào đó là những bài toán vận dụng thực tế thúcđẩy óc tò mò, sáng tạo tăng khả năng tư duy của trẻ.
Thực tế dạy và học môn toán ở trường tiểu học thì trong một lớp có nhiềuđối tượng học sinh khác nhau Mà hệ thống bài tập trong sách giáo khoa chươngtrình tiểu học lại mang tính chất phổ cập đối với học sinh diện đại trà Không cònnhững bài toán sao, bài toán nâng cao cho học sinh khá giỏi Những bài toán khótrước đây đã được cắt bỏ ở chương trình giảm tải Chỉ còn lại những bài toán cótính chất đại trà và một số bài toán cần có sự tư duy lô-gic Mặc dù biết được điều
đó nhưng người giáo viên đứng lớp cũng không thể tự ý ra thêm các bài tập hoặcgiảm bớt số lượng các bài tập cho các đối tượng học sinh, vì làm như vậy sẽ viphạm quy định về chuẩn kiến thức kĩ năng đối với học sinh tiểu học
Do đó, làm thế nào để các bài toán phù hợp với từng đối tượng học sinh khigiải mà vẫn không vi phạm tới quy định về chuẩn kiến thức kĩ năng các môn ở tiểuhọc đó là một điều trăn trở lớn đối với tôi Vì vậy tôi quyết định viết ra một số kinh
nghiệm rồi đúc kết thành đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy Toán học cho học sinh lớp 2.” Mong được sẻ chia với bạn bè đồng nghiệp, cũng là để
củng cố và trau dồi kĩ năng chuyên môn cho bản thân
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở lớp 2 nói chung vàdạy giải toán có lời văn nói riêng, cũng còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu xoayquanh các hoạt động dạy học như: Các phương pháp dạy học đặc trưng, các hìnhthức tổ chức dạy học mang lại hiệu cao , nên tôi đi sâu nghiên cứu một số giảipháp giúp học sinh biết phân tích đề, tóm tắt và giải các bài toán về Số học, đạilượng và đo đại lượng, các yếu tố hình học, giải toán 2 (Nhất là các bài toán có lờivăn) Mặt khác, các bài toán có lời văn cũng rất đa dạng về hình thức, phong phú
về nội dung Có bài tập xuất hiện xen kẽ với các yếu tố khác theo nguyên tắc tíchhợp, có bài mang tính chất riêng rẽ Ở đề tài này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu các
Trang 5bài tập cơ bản và mở rộng một chút với một số ví dụ minh họa để làm sáng tỏ cácgiải pháp được đưa ra.
Trường Tiểu học Hoàng Hoa là một trường thuộc địa bàn vùng núi củahuyện Tam Dương Điều kiện kinh tế ở đây còn nhiều khó khăn, trình độ dân tríchưa cao nên đã kéo theo đại đa số phụ huynh học sinh của trường còn đi làm ăn
xa, thiếu quan tâm đến việc học tập của con em mình Cùng với đó là cơ sở vậtchất, đội ngũ giáo viên của nhà trường còn chưa đủ, từ đó dẫn đến chất lượng cácmôn học, nhất là môn Toán còn rất nhiều hạn chế
Ngay từ đầu năm học, được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệmlớp 2A, tôi nhận thấy các em vẫn còn hạn chế rất nhiều trong phần số học, đạilượng và đo đại lượng, các yếu tố hình học, giải toán và toán có lời văn Các emchưa thật sự nắm được cách giải dạng toán một cách vững chắc, nhất là các bàitoán có lời văn và cần đến sự tư duy, chưa phát huy được khả năng của mình, thiếutính linh hoạt trong một số tình huống nhất định Điều đó sẽ làm cho các em khóđạt được thành tích tốt trong học tập
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy Toán học cho học sinh lớp 2.”
2 Tên sáng kiến
“Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy Toán học cho học sinh lớp 2.”
3 Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: Nguyễn Văn Đủ
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hoàng Hoa, huyện TamDương, tỉnh Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0987465248 Email: vandu8376@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Nhà giáo Nguyễn Văn Đủ – Giáo viên trường Tiểu học Hoàng Hoa – TamDương – Vĩnh Phúc
Trang 6Ngày 23 tháng 9 năm 2019
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Về nội dung của sáng kiến
Quá trình dạy học toán trong chương trình tiểu học được chia thành hai giaiđoạn: giai đoạn các lớp 1, 2, 3 và giai đoạn các lớp 4, 5 Ở giai đoạn lớp 1, 2, 3 cóthể coi là giai đoạn học tập cơ bản còn giai đoạn lớp 4, 5 có thể coi là giai đoạn họctập sâu (so với giai đoạn trước) Ở lớp 1, 2, 3 học sinh chủ yếu chỉ nhận biết kháiniệm ban đầu, đơn giản qua các ví dụ cụ thể với sự hỗ trợ của các vật thực hoặc môhình, tranh ảnh, do đó chủ yếu chỉ nhận biết “cái toàn thể”, “cái riêng lẻ”, chưalàm rõ các mối quan hệ, các tính chất của sự vật, hiện tượng
Bản thân tôi là một giáo viên đã có nhiều năm làm công tác dạy học khối lớp
2 nên tôi cũng đã nghiên cứu sâu về phân môn toán học Khi dạy, tôi rất quan tâm
và đầu tư cho học sinh lớp 2 cách tư duy toán học, vì đây là cách tốt nhất giúp học sinh làm tốt các dạng toán
Kiến thức lớp 2 bao gồm các chủ đề kiến thức sau: Số học, Đại lượng và đođại lượng, Yếu tố hình học, Giải toán, tôi thấy mình và các đồng nghiệp còn gặpnhiều khó khăn về phương pháp dạy Song với trách nhiệm của một giáo viên,muốn nâng cao chất lượng giảng dạy của mình và đồng nghiệp tôi đã có sự đầu tưnhất định trong việc nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra một phương pháp dạy phù hợpgiúp cho quá trình dạy toán của mình đạt hiệu quả Trong khuôn khổ bài viết tôi
xin được nêu ra một số kinh nghiệm về “Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy Toán học cho học sinh lớp 2.”
Những năm học trước, khi dạy toán 2, tôi thường sử dụng các phương phápdạy học:
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp thực hành - luyện tập
- Phương pháp gợi mở - vấn đáp
- Phương pháp giảng giải - minh họa
+ Tôi tìm hiểu về hệ thống bài tập trong sách giáo khoa toán 2
- Chương trình tiểu học mới
Trang 7Toàn bộ hệ thống bài tập trong sách giáo kho toán 2 (trong chương trìnhgiáo dục phổ thông) - Được xây dựng trên quan điểm kế thừa những thành tựu củatoán 2 - chương trình 165 tuần và có những ý tưởng mới để phù hợp với xu thếphát triển của chương trình tiểu học của khu vực và Thế giới.
Tìm hiểu hệ thống bài tập ta thấy rõ được ý tưởng của người biên soạnchương trình Toàn bộ hệ thống bài tập được biên soạn thành các phiếu luyện tập -
So với Chương trình 165 tuần thì các bài tập trong SGK toán 2 mới có ý tưởng rấtmới, đó là việc tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành vận dụng, hơn 50% thờilượng dạy học toán dành cho thực hành Học sinh được làm một số bài tập để củng
cố, thực hành kiến thức mới học, từ đó hiểu và vận dụng những kiến thức và kỹnăng về số, đại lượng, hình học …
Trong sách giáo khoa thường không nêu các kiến thức có sẵn mà chỉ nêu cáctình huống có vấn đề (chủ yếu bằng hình ảnh) để học sinh tự hoạt động trên các đồdùng học tập nhằm phát hiện ra kiến thức mới theo hướng dẫn của giáo viên Vìthế, khi xây dựng hệ thống bài tập, ban chỉ đạo chương trình cũng đã xây dựngtheo quan điểm tăng tình huống giải quyết vấn đề Học sinh muốn giải quyết đượcbài tập thì phải nhận biết được các tình huống có vấn đề, từ đó sẽ dễ dàng giảiquyết vấn đề mà bài tập đưa ra
Nhận định hệ thống bài tập trong SGK toán 2 mới ở góc độ đại trà có thểthấy rằng: Trong từng tiết học số lượng các bài tập ít hơn Sách cũ: Một tiết toán có
ít nhất là 5 bài tập, có nhiều nhất là 10 bài tập Sách mới: Trong một tiết toán cónhiều nhất là 5 bài tập, nhờ có giải pháp này mà học sinh lớp 2 mới có thể học tới “Cộng, trừ trong phạm vi 1000 và các bảng nhân, chia 2, 3, 4, 5…” mà không bị quátải
Điều này chứng tỏ rằng: Số lượng bài tập ở sách mới giảm so với sách cũ.Mặt khác hệ thống bài tập đưa ra không khó, không phức tạp, có thể phù hợp vớitất cả các đối tượng học sinh trong lớp Tuy nhiên những bài tập này thường chứađựng nhiều nội dung có thể phát triển ở các mức độ khác nhau
Trang 8Sau khi học sinh đã thực hiện các yêu cầu cơ bản nhất của từng bài tập, nếu
có điều kiện thời gian và căn cứ vào từng đối tượng học sinh, giáo viên có thểhướng dẫn học sinh khai thác chính bài tập đó Số lượng bài tập giảm nên giáo viênkhông được bắt học sinh phải làm thêm nhiều bài tập ở ngoài phiếu, nhất là các bàitập không phù hợp với mục tiêu của tiết học hoặc vượt quá phạm vi cho phép củachương trình Vì thế giáo viên có thể dựa vào những bài tập đã cho sẵn trong sáchgiáo khoa mà đặt những câu hỏi, bài tập khai thác, phát triển các bài tập đó cho phùhợp với từng đối tượng học sinh Những ý tưởng mới này hướng tới mục tiêu củadạy học môn toán lớp 2 mới là nhằm giúp học sinh bước đầu có một số kiến thức
và kĩ năng cơ bản, đơn giản, thiết thực, có hệ thống, rèn luyện khả năng diễn đạt,trìmh bày, giải quyết các tình huống có vấn đề Phát triển năng lực tư duy theo đặctrưng của môn học, quan trọng hơn là xây dựng phương pháp học tập cho học sinh
Tôi áp dụng đề tài này tại một số Trường tiểu học của tỉnh Vĩnh Phúc Trong
đó có Trường tiểu học Hoàng Hoa - huyện Tam Dương, Trường nằm trên địa bàn
xã Hoàng Hoa Một xã còn nghèo nàn về cơ sở vật chất cộng với đời sống nhândân trong xã còn gặp nhiều khó khăn do không có việc làm ổn định Học sinh chủyếu là con nhà nông dân, nên các em thường phải lo phụ giúp gia đình, điều đó ảnhhưởng không ít đến chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học các yếu tốcủa phân môn toán ở bậc tiểu học nói riêng
Qua thực tế giảng dạy chương trình toán lớp 2 cải cách, khi dạy học về phần
số học, đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học, giải toán tôi nhận thấy nhữnghạn chế học sinh thường gặp phải là:
Thứ nhất, học sinh chưa nắm chắc bảng cộng, trừ, nhân và chia (từ bảng 2đến bảng 5)
Thứ hai, học sinh khó định dạng bài tập
Thứ ba, nhiều em xác định được dạng toán nhưng lại vận dụng một cách rậpkhuôn, máy móc mà không hiểu được thực chất của vấn đề cần giải quyết nên khigặp bài toán có cùng nội dung nhưng lời lẽ khác đi thì các em lại lúng túng
Bản thân những bài toán có lời văn vừa thiết thực, song lại có phần trừutượng, học sinh phải làm quen với nhiều thuật ngữ mới như: “nhiều hơn”, “ít hơn”,
Trang 9“gấp đôi” , đòi hỏi phải có năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí, cách pháthiện và giải quyết vấn đề, về mặt này học sinh tiểu học ở các vùng miền khác nhauthì khả năng nói trên cũng khác nhau
Hai năm học liên tiếp (năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019), khi dạytoán lớp 2, tôi nhiều khi còn lúng túng Khi hình thành kiến thức mới, giáo viênphải làm việc tương đối nhiều, việc tổ chức dạy học theo tinh thần lấy học làmtrung tâm chưa hiệu quả khi dạy học yếu tố này Chuyển sang khâu luyện tập thựchành, giáo viên vẫn phải theo dõi và giúp đỡ rất nhiều học sinh mới hoàn thànhcác bài tập đúng tiến độ
Về phía giáo viên, tôi cho rằng, phần lớn là do thói quen, chủ quan, thườnghay xem nhẹ khâu phân tích các dữ liệu bài toán Mặt khác, đôi khi còn lệ thuộcvào sách giáo khoa một cách máy móc, dẫn đến học sinh hiểu bài chưa kĩ, giáoviên giảng giải nhiều nhưng lại chưa khắc sâu được bài học, thành ra lúng túng.Thực trạng này cũng góp phần làm giảm chất lượng giảng dạy yếu tố nói trên củaphân môn
Trước thực trạng này, thiết nghĩ, cần phải có một giải pháp cụ thể giúp họcsinh biết tư duy, phân tích đề toán để làm rõ những điều kiện bài toán cho và yêucầu cần giải quyết, tránh sự nhầm lẫn nói trên Từ đó biết tóm tắt đề bài sao chokhi nhìn vào phần tóm tắt học sinh có thể tự tin mà lựa chọn phương pháp giảithích hợp Vì vậy tôi đã:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn về các dạng toán lớp 2 liên quan đếnnâng cao năng lực tư duy môn toán cho học sinh lớp 2
- Nghiên cứu về nội dung, mức độ và phương pháp trong dạy học về nâng
cao năng lực tư duy môn toán cho học sinh
- Các cách giải các bài toán có lời văn liên quan đến nâng cao năng lực tưduy môn toán cho học sinh
- Nghiên cứu về khả năng tiếp thu, vận dụng các kiến thức đã học vào giảitoán về: số học, đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học, giải toán 2
Các bài tập có thể khai thác trong chương trình toán 2:
1) Bài tập 2 (trang 46 - SGK toán 2)
2) Bài tập 1 (trang 48 - SGK toán 2)
3) Bài tập 1 (trang 100 - SGK toán 2)
Trang 104) Bài tập 2 (trang 169 - SGK toán 2)
5) Bài tập 2 ( trang 150 - SGK toán 2)
6) Bài tập 4 (trang 131- SGK toán 2)
7) Bài tập 2 (trang 24 - SGK toán 2)
8) Bài tập 3 (trang 30 - SGK toán 2)
9) Bài tập 4 (trang 33 - SGK toán 2)
10) Bài tập 3 (trang 120 - SGK toán 2)
11) Bài tập 5 (trang 117 - SGK toán 2)
Từ việc áp dụng các một số kiến thức cần lưu ý khi dạy các dạng toán 2 này,tôi đã rút ra các giải pháp sau để áp dụng vào quá trình dạy học
a) Giải pháp 1: Tìm hiểu và phân tích nguyên nhân
Sau khi điều tra tìm hiểu nguyên nhân tôi thấy có 3 lí do dẫn đến chất lượng bài làm thấp đó là:
- Nguyên nhân thứ nhất: Giáo viên hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức không có hệ thống gặp đâu dạy đấy vì vậy học sinh nắm bài hời hợt
- Nguyên nhân thứ hai: Trong quá trình dạy, giáo viên chưa biết cách giúp
học sinh ghi nhớ về phương pháp giải từng dạng bài.
- Nguyên nhân thứ ba là: Một số học sinh chưa nắm vững đặc điểm, bản chấtcủa một số bài tập cơ bản và nâng cao đã học
+ Biện pháp khắc phục: Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn vấn đề về “Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy Toán học cho học sinh lớp 2.”, tôi thấy giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học:
Tư duy cụ thể chiếm ưu thế nhưng các em rất tò mò ham hiểu biết từ đó lựa chọnnhững nội dung phương pháp phù hợp khơi dạy tính tò mò, tạo hứng thú học tậpcho học sinh
b) Giải pháp thứ hai: Nghiên cứu tài liệu sách tham khảo kết hợp với những kinh nghiệm của bản thân để xây dựng cho mình một phương pháp dạy phù hợp với trình độ và năng lực của học sinh Cụ thể các phương pháp áp dụng là: Gợi mở vấn đáp, luyện tập thực hành
+ Biện pháp khắc phục: Phải nắm vững cấu trúc của chương trình để đưa ra nội dung, kiến thức ở mức độ phù hợp nhằm huy động tối đa những hiểu biết vốn
Trang 11có của học sinh giúp học sinh có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động sáng tạo
Chú trọng từng khâu từng phần trong mạch kiến thức Không đốt cháy giai đoạn bởi học sinh có nắm chắc phần kiến thức này thì mới có thể tiếp thu phần kiến thức khác được
c) Giải pháp thứ ba: Xây dựng hệ thống bài tập theo từng mức độ và từng giai đoạn nhận thức của học sinh Hệ thống bài tập gồm:
d) Giải pháp thứ tư: Lên kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch, có đánh giá rút kinh nghiệm
+ Biện pháp khắc phục: Sử dụng linh hoạt các hình thức dạy học để cho kết quả học tập một cách cao nhất
7.2 Khả năng áp dụng của sáng kiến.
Để khắc phục tình trạng trên tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và đưa ra cho mình một giải pháp dạy phù hợp với trình độ và nâng cao năng lực tư duy của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học
a Các bài tập có thể khai thác trong chương trình toán 2
1) Bài tập 2 (trang 46-SGK toán 2)
2) Bài tập 1 (trang 48-SGK toán 2)
3) Bài tập 1 (trang 100-SGK toán 2)
4) Bài tập 2 (trang 169-SGK toán 2)
5) Bài tập 2 ( trang 150-SGK toán 2)
6) Bài tập 4 (trang 131-SGK toán 2)
Trang 127) Bài tập 2 (trang 24-SGK toán 2)
8) Bài tập 3 (trang 30-SGK toán 2)
9) Bài tập 4 (trang 33-SGK toán 2)
10) Bài tập 3 (trang 120-SGK toán 2)
11) Bài tập 5 (trang 117-SGK toán 2)
b Các cách khai thác đề toán
+ Tìm nhiều cách giải cho một bài toán
Sau khi đã giải xong bài toán giaos viên cần hướng dẫn học sinh khai thácbằng cách cho học sinh xem xét bài toán có thể giải bằng cách khác nữa không?Nếu giải được theo cách khác thì yêu cầu học sinh giải để so sánh các cách giải vớinhau, để từ đó tìm ra cách giải hay nhất Với cách khai thác này chúng ta có thể đề
ra nguyên tắc sau để tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán: “Sau khi đã tìm ramột cách giải thì viết gộp các phép tính giải lại để có một dãy tính, rồi tìm cáchbiến đổi dãy tính ấy thành các dạng khác để suy ra cách giải mới (nếu có)
+ Đặt các bài toán mới tương tự như bài toán đã giải
Sau khi học sinh đã thực hiện xong yêu cầu của bài toán, giáo viên hướngdẫn học sinh khai thác, phát triển bài toán bằng cách ra các bài toán mới tương tựbài toán vừa giải Việc giải các bài toán mới phát triển này là một biện pháp rất tốt,giúp HS nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng và những quan hệ bản chấttrong mỗi loại toán Nhờ thế mà học sinh hiểu bài toán sâu sắc hơn rất nhiều
+ Đặt các bài toán ngược với bài toán đã giải
Theo nguyên tắc sau: “Thay đáp số vào một trong những điều đã cho và đặtcâu hỏi vào những điều đã cho ấy’’
+ Từ bài tập đã cho đặt câu hỏi gợi ý để học sinh phát hiện ra một số tính chất quan trọng của phép toán.
c Các nguyên tắc khai thác, phát triển các bài tập trong sách giáo khoa Toán 2
Trang 13- Nguyên tắc1: Khai thác, phát triển các bài tập phải đi đúng nội dung chương trìnhcủa toán 2
- Nguyên tắc 2: Khai thác, phát triển các bài tập phải phù hợp với từng đối tượnghọc sinh
- Nguyên tắc 3: Xuất phát từ các bài tập đã có để khai thác
d Áp dụng các cách khai thác để tạo hệ thống bài tập rèn năng lực
tư duy cho học sinh lớp 2.
1) Bài tập 2 (trang 46 – SGK toán 2 ) Tính nhẩm
em đã làm xong bài tập, tôi sẽ đặt các câu hỏi để khai thác bài toán như sau:
- Em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa các phép tính trong mỗi cột tính?
- HS sẽ nhận xét được: Từ phép cộng 9 + 1 = 10 sẽ có hai phép trừ: 10 – 9 = 1 và
10 - 1 = 9 hoặc 8 + 2 = 10 suy ra : 10 – 8 = 2 và 10 – 2 = 8 …
Từ cách khai thác bài toán như vậy dần dần HS sẽ nhận thấy: “Lấy tổng trừ
đi số hạng này thì được số hạng kia” Cách khai thác đó sẽ là tiền đề để HS làm bài
tập dạng: “Tìm một số hạng chưa biết trong một tổng”
Trang 14đúng với mục tiêu của bài dạy nhưng lại không phát huy được năng lực tư duy củacác em.
Do đó, tôi sẽ cho học sinh khai thác bài tập này để giúp học sinh tự phát hiện
ra một tính chất quan trọng của phép cộng (chưa gọi tên tính chất) và phát hiện mốiquan hệ giữa phép cộng và phép trừ, giữa các thành phần trong phép tính Đặt câuhỏi cho học sinh nêu:
- Em có nhận xét gì về kết quả hai phép tính: 9 + 2 = 11 và 2 + 9 = 11 đểhọc sinh thấy 2 + 9 cũng bằng 9 + 2 (vì đều bằng 11) Như thế, khi biết 9 + 2 = 11thì tìm ngay được kết quả của 2 + 9 cũng bằng 11 Lặp đi lặp lại nhiều lần với cácdạng bài tập tương tự ở tiết học này và các tiết học khác dần dần học sinh nhận rađược: “Nếu đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi” Thựcchất đây là tính chất giao hoán của phép cộng song chưa yêu cầu gọi tên tính chấtnày
Mặt khác, giáo viên có thể cho học sinh nhận xét mối quan hệ từ các phépcộng và các phép trừ trong cột tính là: “Lấy tổng trừ đi số hạng này thì được số
2, vì thế việc làm bài tập trên rất vừa sức với tất cả các đối tượng học sinh Song
để phát triển kĩ năng tư duy cho học sinh tôi đã đặt câu hỏi để khai thác bài toántrên như sau:
- Em có nhận xét như thế nào về kết quả của 2 phép nhân ở từng cột tính?
- HS sẽ nêu nhận xét 2 x 3 = 6 và 3 x 2 = 6 kết quả của 2 phép nhân đều bằng nhau.+ Tương tự học sinh sẽ nhận thấy 2 x 4 = 8 và 4 x 2 = 8;
4 x 3 =12 và 3 x 4 = 12